(Thứ Hai, 18 tháng Mười Một)
Di Ngô quý mến,
Huynh đừng nôn nóng. Không cần phải thư nào cũng nhắc đệ chuyện ấy, đệ nhớ mà. Hễ có dịp, đệ sẽ cố moi từ nàng vũ nữ thoát y cái trò tiểu xảo với ba quả bóng nhỏ màu trắng ấy như thế nào. Đệ chưa trở lại dạ điếm “Thiên Đường”. Đệ chỉ có thể nói với huynh thế này thôi: nàng vũ nữ ấy thoát y toàn bộ, rồi ngồi hơi dạng chân, rồi tung hứng (không mấy khéo léo) với ba quả bóng cỡ quả trứng gà nhỏ, rồi lần lượt nuốt – nhìn có vẻ thế, rồi nhảy chồm chồm vài cái, thế là ở một chỗ bên dưới, vốn dành cho việc khác, mấy quả bóng lần lượt thòi ra – có vẻ thế. Lúc ấy cô nàng bật lên tiếng kêu khe khẽ. Đệ không thấy rõ mấy quả bóng ấy thòi ra như thế nào, điều này huynh có thể hình dung được. Có lẽ nàng vũ nữ thoát y này giấu mấy quả bóng trong bàn tay. Nàng không thể giấu chỗ nào khác, vì trên người nàng không một mảnh vải. À, có chứ: nếu đệ nhớ không nhầm thì nàng mang một dây đeo cổ to màu trắng đính những viên đá (chắc loại xoàng) óng ánh. Nhưng nó hẳn không liên quan gì đến trò tiểu xảo kia. Song nếu nàng vẫn còn diễn ở “Thiên Đường”, đệ sẽ tìm cách gạ chuyện, cho nàng chút tiền để moi thủ thuật nọ và hy vọng như thế có thể khiến huynh yên tâm.
Có thể huynh cũng quan tâm đến sự kiện mà Duy-Lân tử vừa cho đệ thấy cách đây mấy bữa. Tối trước đó đệ lại được tận hưởng âm nhạc do bộ tứ trình diễn ở nhà một người bạn của ông Shi-shmi. Giữa hai sự kiện này là cái thế giới mâu thuẫn của bọn mũi lõ.
Duy-Lân tử thuê một chiếc ô-tô rồi chở đệ đến một vùng đệ chưa hề tới. Thời tiết rất xấu, tuyết và mưa càng khiến những con đường đá và những ngôi nhà bẩn thỉu thêm tiêu điều. Những ngôi nhà này rất cao, nhưng không đều. Chúng không phải xây bằng đá như thoạt thấy mà được đúc sẵn. Duy-Lân tử giải thích thế này: từ đá nghiền, nước và những thành phần khác người ta trộn thành một thứ sền sệt, lúc khô sẽ rất cứng. Người ta đóng những khuôn gỗ rồi đổ chất sệt kia vào. Đợi một lúc cho khô rồi người ta gỡ khuôn, thế là thành ngôi nhà. Như đúc chuông ở ta vậy. Các kiến trúc sư của bọn mũi lõ đã đạt đến mức tinh xảo và nhanh chóng trong cách đúc nhà này. Bọn đệ lái xe qua một loạt những ngôi nhà đúc như thế. Đó là một khu phố toàn nhà đúc cùng một kiểu, hàng nghìn người sống trong đó. Duy-Lân tử bảo rằng nhiều kiến trúc sư ham học hỏi đã từ xa xôi đổ về tham quan khu phố đúc này. Nó được coi là rất đẹp và thành công. Đệ chịu không biết nó đẹp chỗ nào.
Gần đó có một ngọn tháp[1] cao gần nửa lý – dù huynh tin hay không. Cả ngọn tháp này cũng được đúc hoàn toàn.
Chẳng ngôi nhà nào chúng ta biết, kể cả những đền đài to nhất, cao xấp xỉ mức ấy. Đứng dưới mà muốn nhìn lên đỉnh thì phải ngửa hết cổ ra sau. Ngọn tháp cũng rất giản dị và không có mục đích nào rõ rệt, ít nhất Duy-Lân tử đã không nêu ra được. Người ta có thể lên trên đấy bằng một loại ô-tô chạy thẳng đứng, nhưng đệ từ chối. Tuy Duy-Lân tử bảo từ trên đó ta có một cái nhìn độc đáo ra xa, nhưng đệ nghĩ thế giới của bọn mũi lõ nhìn từ mắt của lũ chim cũng chẳng đẹp đẽ hơn nhìn từ mặt đất.
Không xa đấy có một tòa nhà đối với đệ là hoàn toàn bí hiểm, mà một người bình thường vốn không mê tín như Duy-Lân tử lại hết sức tự hào, như thể chính ông đã đúc ra nó. Tòa nhà này hầu như không có mái, chỉ che phủ phần nào bằng một thứ có màu dơ bẩn, trông hao hao một cái lều khổng lồ. Tòa nhà chẳng qua chỉ là một hình bầu dục to không tưởng tượng nổi, gồm nhiều bậc từ ngoài vào trong, gắn vô số ghế cùng hướng vào giữa. Gần trăm nghìn người có thể ngồi cùng lúc trong cái hình bầu dục khổng lồ này. (Đệ có thể hình dung rõ rệt tiếng ồn và mùi hôi!) Chính giữa là một thảm cỏ to[2], nhưng từ xa nhìn thì nhỏ. Duy-Lân tử tỏ vẻ ngạc nhiên vì đệ chưa từng nghe nói đến công trình này. Ông kể về những sự kiện – theo ông dường như rung chuyển thế giới – đã diễn ra trong tòa nhà hình bầu dục ấy và còn diễn ra cách quãng đều đặn. Ông dùng những từ ngữ đệ hoàn toàn mù tịt, đệ đoán đó là những nghi lễ nào đấy tổ chức cho công chúng, chẳng hạn những cuộc xử trảm công khai.
Cả tòa nhà bầu dục khổng lồ này cũng đúc luôn. Thật ra thì việc đúc này tốt chứ, việc xây cất sẽ dễ dàng hơn. Nhưng chuyện làm cho công việc bớt nặng nhọc lại thường hay dẫn đến đủ thứ càn quấy, cho nên những thành tựu tuyệt vời lại đâm ra biến chất, cuối cùng có lẽ cứ làm theo cách cũ lại hay hơn. Nếu bọn mũi lõ phải vất vả dựng nhà từ đất nện và gạch nung, hẳn chúng sẽ phải cân nhắc ghê gớm có nên xây những tòa nhà vô nghĩa như ngọn tháp cao nửa lý và tòa nhà bầu dục này hay không!
Bọn đệ đi tiếp. Mục tiêu là một đại cơ xưởng, tạm gọi là một xưởng rèn khổng lồ. Trong một thư trước đệ đã nói sơ qua rằng Duy-Lân tử định sẽ cùng đệ tới thăm một nơi như thế. Người ta gọi những xưởng rèn này là Fa-wiq[3], hẳn huynh còn nhớ có lần đệ đã kể về tên gọi này rồi. Duy-Lân tử quen ngài quản lý xưởng rèn hoặc đại cơ xưởng này; theo thứ bậc của bọn mũi lõ thì ông ta có địa vị cao và lắm thế lực hơn nhiều quan lại và thượng thư (hẳn do hối lộ, theo như đệ hiểu). Huynh chớ nên hình dung xưởng rèn này như xưởng rèn trong thời đại chúng ta. Nó không chỉ là một ngôi nhà hoặc một căn phòng mà gồm vô số ngôi nhà (tất cả đều đúc, dĩ nhiên), nằm rải rác trên một khu đất rộng ngút ngàn, bằng cả một thành phố, có tường bao quanh. Một vài ngôi nhà có những ống khói cao không tưởng tượng nổi, chẳng kém tòa tháp nọ. Chúng phun ra khói đen, vàng, trắng; hôi khôn tả. Bọn mũi lõ làm cách nào chịu đựng nổi lâu dài thì đệ chịu không hiểu. Hơn nữa – nói thêm thôi – khứu giác của chúng bị ảnh hưởng nặng nề rồi. Đã nhiều lần đệ thấy, chúng chỉ có thể phân biệt nổi những mùi rất thô thôi, còn những mùi tinh tế chúng hoàn toàn không nhận ra. Hẳn vì mũi chúng bị uế khí làm tê liệt ngay từ nhỏ.
Bọn đệ được đại diện của ngài quản lý tôn kính đón ở cổng, rồi dẫn qua một vài tòa nhà vào một ngôi nhà ít ồn ào hơn. Đi qua những ngôi nhà nọ đệ có cảm tưởng nghe tiếng nện của cả nghìn chiếc búa xuyên qua tường ra ngoài. Ngôi nhà ít bị tiếng ồn tra tấn nhất là văn phòng của ngài quản lý tôn kính. Ông niềm nở chào Duy-Lân tử và thân mật chào đệ. Đệ khom nửa người đáp lễ, rồi bọn đệ được mời uống Mo-te Shang-dong. Người ông ta thơm phức. Ông ta có dưới trướng nhiều phụ nữ rất đẹp làm việc trong một dãy phòng với đủ thứ máy móc kỳ lạ. Sau vài câu chào hỏi vô thưởng vô phạt, Duy-Lân tử nói rằng bọn đệ đến đây vì đệ – một người khách từ một đất nước xa xôi – muốn được thăm xưởng rèn. Ngài quản lý tôn kính đáp ông rất hân hạnh, rồi bấm một cái nút, đệ nghe tiếng chuông reo rồi viên đại diện hồi nãy lại xuất hiện. Ông ta hướng dẫn bọn đệ đi qua xưởng rèn. Tuy bọn đệ chỉ tham quan một số – với đệ là quá đủ – ngôi nhà và những sảnh mênh mông (và vô cùng bẩn thỉu) mà cũng mất đến hơn hai tiếng.
Đệ không có ý định – và cũng không làm nổi – thuật lại những sảnh và ngôi nhà này theo thứ tự đã tham quan, vì đệ không rõ mối quan hệ và những công đoạn thao tác. Tuy viên đại diện có giải thích điều này điều nọ, song chính Duy-Lân tử sau đó thú nhận cũng không hiểu hết. Với chuyên gia thì họa may.
Xưởng này rèn cái gì thì đệ hoàn toàn không nhận ra. Sau đó, qua trò chuyện với ngài quản lý tôn kính đệ mới biết việc này có liên quan thế nào đấy với việc chế tạo ô-tô. Một cái chuông bằng đồng thau, như ở ta gắn vào cương ngựa, được chế tạo trong chỉ một công đoạn duy nhất. Ta thấy người thợ đúc, thấy khuôn, thấy người thợ đúc đổ kim loại lỏng vào khuôn, thấy hơi bốc lên và nghe tiếng xèo xèo khi người thợ nhúng khuôn vào nước, sau đó thấy cái chuông. Đấy là quy trình sản xuất giản đơn. Việc người thợ cả chế cơ bẩm cho một cái nỏ đã là phức tạp ghê gớm theo chúng ta nghĩ: phải gò, uốn những bộ phận nhỏ rồi khớp vào nhau. Nhưng ở đó ta vẫn thấy được nguyên liệu, quy trình và thành phẩm, còn ở xưởng rèn này thì không. Về mặt phức tạp thì việc sản xuất một cái ô-tô hoặc một con rồng sắt bay so với việc sản xuất cơ bẩm cho chiếc nỏ tương tự như việc sản xuất cơ bẩm cho chiếc nỏ so với cái chuông cho cương ngựa. Thế những người thợ làm ở đấy, đệ hỏi viên đại diện, có biết họ sản xuất gì không? Ngần ngừ một lúc ông ta trả lời rằng không.
Đệ đoán trước mà.
Những cỗ máy lớn không tưởng tượng nổi gồm những bộ phận cực kỳ phức tạp với đầy dây nhợ xếp thành hàng dài cực kỳ rối rắm. Những tấm thép và những bộ phận kim loại nằm ngổn ngang. Tất cả đều bám dầu và muội khói. Những người thợ sử dụng những cỗ máy này, không, phải gọi là chế ngự chúng mới đúng – chúng không là gì khác hơn những dụng cụ cầm tay lớn như quỷ sứ. Những khối thép khổng lồ thay búa tạ từ trên cao nện xuống rầm rầm. Hơi nước xì ra từ những chiếc ống con. Lửa trắng sáng quắc tóe lên như ánh chớp. Tít trên cao, những chiếc máy to bằng cả ngôi nhà di chuyển qua lại như có ma điều khiển. Tất cả ám muội và bụi. Viên đại diện – được những người thợ khúm núm chào – đi lại rón rén để bộ an-tsu đẹp khỏi dính bẩn.
“Những người thợ này”, đệ hỏi, “làm việc ở đây ngày này qua ngày khác ư?”
“Phải”, viên đại diện đáp và tỏ vẻ ngạc nhiên về câu hỏi của đệ.
“Ngày này qua ngày khác?” đệ lặp lại.
“Mỗi ngày tám tiếng”, ông nói, “nhưng nghỉ hai ngày trong tuần (chu kỳ bảy ngày của bọn mũi lõ), ngoài ra còn thêm ba hoặc bốn tuần[4] nghỉ trong một năm”.
“Suốt đời à?” đệ hỏi.
“Vâng”, viên đại diện nói, “suốt đời, ở đây hoặc ở một xưởng rèn nào khác. Nhưng họ được nhiều tiền. Theo họ là quá ít, nhưng quá nhiều theo ngài quản lý”.
Đệ còn hỏi nhiều nữa và được giải đáp nhiều. Nhưng sau hai tiếng trong đầu đệ cứ ong ong tiếng ồn. Sau đó bọn đệ lại trò chuyện thêm một tiếng nữa với ngài quản lý tôn kính. Đệ hỏi có phải xưởng rèn là của ông không. Ông cười đáp: xưởng rèn này quá lớn, không thể nào của chỉ một người được. Thế của ai? đệ hỏi. Điều này thật khó trả lời, ông nói. Nét mặt ông cho thấy ông nghĩ câu đệ hỏi thật là ngớ ngẩn.
Bọn đệ cáo từ. Lúc ấy đã gần xế chiều rồi. Trời vẫn mưa lẫn với tuyết và đã tối. Giờ làm việc trong xưởng rèn chấm dứt, thợ thuyền túa ra cổng. Bên kia là một bãi đất to với vô số ô-tô đang đậu. Mỗi nô lệ trong xưởng rèn mệt mỏi lặng lẽ đi tới ô-tô của mình rồi lái đi. Người nào cũng có một chiếc như thế, Duy-Lân tử nói. Một cảnh tượng chen lấn không tin nổi. Hai người đụng nhau và liền chửi bới nhau. Đệ nghĩ hẳn phán quan Me-lon sẽ lại có một màn xử kiện.
Những người này cả ngày chỉ thấy muội khói và sự bẩn thỉu, chiều lái xe về chen lấn giữa những ô-tô khác, rồi rúc vào những ngôi nhà đúc bằng đá, nơi có những người vợ mũi lõ chờ đợi, rồi uống sữa bò hoặc bia... có thể gọi đó là một cuộc sống không niềm vui chăng? Không có gì ngạc nhiên khi họ mất đi quan niệm về thẩm mỹ cũng như ý thức về mối tương quan giữa các sự vật. Còn lâu đệ mới theo thuyết của Mạnh Tử rằng ai cũng có thể tự nuôi sống bằng cách canh tác mảnh vườn của mình, ngoài ra thương yêu vạn vật. Đâu có được, điều này chúng ta biết từ lâu rồi, nhưng mà ở đây thì càng tệ hơn, những gì đệ thấy trong xưởng rèn này chỉ có thể đưa đến khủng hoảng đầu óc. Ấy thế mà theo lời Duy-Lân tử nói, xưởng rèn đệ tham quan hôm nay còn tương đối nhỏ đấy. Những xưởng rèn lớn nhất ở Min-chen vẫn không thấm vào đâu so với những cái trên vùng phía Bắc[5], nơi cả một dải đất gần như là một xưởng rèn duy nhất hoặc ở nước Am-mei-ca nọ, với những thành phố toàn xưởng rèn san sát bên nhau, phun khói mù mịt không bao giờ dứt. Đã có thời kỳ, Duy-Lân tử nói, người ta tung hô những xưởng rèn này như thành tựu rực rỡ của sự tiến bộ. Nay người ta hoài nghi điều này, ông nói. Nhưng ông e thế là quá muộn.
Đệ có cảm tưởng hầu như đã thấy hết những gì cái thế giới vô trật tự này có được. Đệ sẽ quay về, không còn lâu nữa đâu. Đệ đã học hỏi được những gì? Không nhiều, cùng lắm là nhận thức được rằng không đáng biết về tương lai. Những tâm tình thổ lộ bằng thơ của Thi nhân hội hoàng gia “Nhị thập cửu đài tiển nham bích” đệ chưa đọc. Hãy tha cho đệ, đừng thúc giục chuyện này và huynh cũng đừng để các nhà thơ thúc giục. Đệ có nhiều việc phải làm ở đây khiến không có thì giờ đọc loại thơ giết người như thế: huynh nên biết đệ đã vất vả nhường nào để nàng Pao-leng và tiểu phụ Chung khỏi chạm trán nhau. Đệ gửi lời chào đến các thi sĩ, họ nên kiên nhẫn. Nhưng trước hết gửi lời chào đến con Tiểu Siêu: đệ sẽ sớm quay về.
Cao Đài của huynh
❀ ❀ ❀
[1] Tháp truyền hình ở Munich.
[2] Sân vận động Olympia ở Munich.
[3] Fabrik (Pha-brich): xưởng.
[4] Thật ra khi tác phẩm này xuất bản (năm 1983), mỗi năm công nhân viên chức ở Tây Đức được nghỉ phép 30 ngày làm việc (tức 6 tuần).
[5] Vùng Ruhr (gần Bỉ và Hà Lan) nơi tập trung công nghiệp nặng của Đức.