(Thứ Năm, 9 tháng Giêng)
Di Ngô huynh quý mến,
Đệ đã trở về Min-chen và lại đang ngồi trong phòng ở khách sạn. Ngoài trời đầy tuyết và rất không thoải mái. Mới đây viên quản lý (hắn giữ đúng mọi thể thức giao tiếp và lịch sự) hỏi đệ dự định sẽ còn đem lại hân hạnh cho khách sạn bao lâu nữa – qua sự hiện diện của đệ. Đệ trả lời rằng sau ngày Rằm cuối cùng của mùa đông ít hôm đệ sẽ rời khỏi đây. (Đúng ra đệ không nói ít hôm sau ngày Rằm cuối cùng của mùa đông, vì chẳng gã mũi lõ nào biết Rằm hay không Rằm, hoặc bao giờ sẽ là ngày Rằm sắp tới. Đệ nói với hắn theo lịch ở đây mà đệ đã quen dùng từ lâu rồi). Tại sao viên quản lý lại muốn biết? Huynh sẽ không hiểu đâu. Điều đó không có nghĩa như ta tức thì đoán, rằng khách sạn “Bốn Mùa” không muốn đệ là khách nữa. Không, viên quản lý biết rõ đệ có nhiều tiền, đệ là một người khách không gây ồn ào, tiêu thụ nhiều Mo-te Shang-dong, hiếm khi phàn nàn về những thói xấu của nhân viên, nhẫn nhịn khi những khách khác say rượu cười nói oang oang, tóm gọn đệ là một người khách đem lợi nhuận cho khách sạn. Viên quản lý cũng nhiều lần quả quyết đệ có thể ở bao lâu đệ muốn (và tất nhiên trả tiền, nhưng hắn không nói ra). Thế thì tại sao hắn muốn biết khi nào đệ rời khỏi đây? Để hắn ghi vào sổ khi nào hắn có thể cho người khác dùng căn phòng của đệ. Bọn mũi lõ không bao giờ ngừng lên kế hoạch, không ngừng thăm dò tương lai, không ngừng suy nghĩ xem khi nào, và được không, có thể sử dụng cái này cái nọ cho việc gì khác hoặc ai khác. Chúng không thể cứ giương mắt nhìn và chờ chuyện sẽ tới. Đó cũng là do bệnh nghiện “tiến khỏi chính mình” của chúng mà ra. Chúng sống trong tương lai nhiều hơn trong hiện tại và vì thế chúng bỏ lỡ hiện tại của chúng. Rồi chúng than thở rằng những kế hoạch của chúng không thành công, rằng mọi sự xảy ra khác mong đợi, giống bài thơ mà thi sĩ chỉ sáng tác vào mùa hè Si-gi đã trích dẫn. Chúng không hiểu rằng sẽ không có vấn đề này nếu không nghĩ về tương lai. Mùa xuân vẫn cứ đến dù người ta có lên kế hoạch hay không. Ở Min-chen này mùa xuân đến muộn, viên quản lý tiện thể nói thế. Hắn e rằng sẽ còn tuyết và lạnh cho đến ngày đệ rời khỏi đây.
Tuy thời tiết xấu – không, đúng ra phải nói chính vì thời tiết xấu – mà bọn đệ, nghĩa là nàng Pao-leng và đệ, đã đi tới vùng núi. Rặng núi đó nằm về phía Nam của Min-chen và nhiều tuyết hơn ở đây như ai cũng có thể hình dung được. Chạy bằng ô-tô mất hai giờ, theo đệ tính với xe ngựa sẽ mất khoảng hai ngày. Bọn đệ tới một nơi tên là Ki-tsi-bu[1] rất đáng chán. Nơi đây hầu như chỉ toàn khách sạn. Theo đệ thấy hầu như không có dân cư, chỉ toàn khách vãng lai. Họ ăn mặc màu mè rất kỳ dị, họ chen lấn nhau trên đường phố và luôn gào rất to. Mặt họ phơi ra dưới ánh nắng mùa đông nên đỏ lựng. Thoạt tiên đệ không rõ bọn mũi lõ (ở đấy gọi là bọn mũi đỏ thì đúng hơn) làm gì ở Ki-tsi-bü và tại sao lại ham đến đó nhằm đúng mùa khắc nghiệt nhất trong năm, khi mọi người có lý trí đều tránh xa.
Không dễ có câu trả lời. Huynh còn nhớ chuyện đệ kể về bà Đạt-ma, bạn của nàng Pao-leng và căn hầm làm toát mồ hôi chứ? Huynh còn nhớ chuyện đệ kể về cái Shao-bo bí hiểm chứ? Chúng liên quan với nhau và liên quan tới sở thích đặc trưng kỳ quái của bọn mũi lõ: chúng thích được ướt át. Vâng: chúng ta cũng tắm táp chứ và người quân tử lẫn bậc trí giả phải giữ mình sạch sẽ, thơm tho. Nhưng điều này hoàn toàn không so sánh được với sở thích nọ mà theo đệ là một chứng nghiện ngập. Những người có học che đậy chuyện họ mê tín bằng lời giải thích ra chiều hợp lý: việc này tốt cho sức khỏe.
Đệ không tin, vì bọn mũi lõ tắm ít hơn chúng ta. Duy-Lân tử bảo có lần ông đã đọc rằng hai phần ba bọn mũi lõ hoàn toàn không tắm rửa. Đệ tin lắm, vì đệ căn cứ vào thứ mùi hắt vào cái mũi nhạy của đệ khi bước vào trong nhà họ. Trong khi vào mùa ấm áp chúng nhảy xuống vùng vẫy bơi trong đủ mọi loại sông hồ, dù nước tù đọng hay không. Và khi trời lạnh, chúng tới những hồ nhỏ nhân tạo có mái che, nước được sưởi ấm để bơi lội. Hoặc chúng phơi mình lõa thể trong khí nóng của căn hầm làm toát mồ hôi cho đến khi mồ hôi nhễ nhại. Vào mùa hè, khi không muốn bơi, chúng bơm cái Shao-bo – một loại xuồng nhỏ bằng vật liệu đặc biệt rồi chèo lăng quăng. Dù thời tiết xấu hay tốt, huynh vẫn có thể thấy bọn mũi lõ chạy một cách kỳ quái trong công viên, trông rất chướng mắt. Bọn này cũng muốn toát mồ hôi. Có những bãi đất màu đỏ giăng lưới[2], ở đấy bọn mũi lõ đánh qua đánh lại một cách buồn tẻ những quả banh màu trắng (nhỉnh hơn những quả banh của nàng nọ – huynh hiểu đệ muốn nói gì mà), hoặc trên một bãi cỏ[3], hai tá người chạy theo một quả bóng to hơn và tìm cách đạp lên chân nhau. Bọn chúng cũng vã mồ hôi. Hoặc khi chúng đã có tuổi, không cố sức có những hoạt động khiến vã mồ hôi được, chúng bèn đến những nơi có hào nước. Chúng xắn quần, bì bõm đi lại loanh quanh trong đó. Có lần đệ thấy máy-viễn-vọng chiếu cảnh này. Đó là cảnh tượng khôi hài nhất đệ từng thấy, có lẽ ngoại trừ màn ca vũ nhạc “Đất nước nơi người dân luôn mỉm cười”.
Thế là trong mùa đông, khi nước quá lạnh hoặc thậm chí đóng băng, bọn chúng di chuyển trong tuyết để được ướt át. Đúng vậy, thật không tin nổi: chúng tự lái ô-tô hai tiếng đồng hồ đến một vùng nhiều dốc. Ở đấy chúng đi lên đỉnh núi bằng những chiếc ô-tô treo, rồi nhảy xuống tuyết và lăn xuống. Để đỡ nguy hiểm và tránh lăn xuống quá nhanh, chúng gắn vào chân những tấm ván dài và dùng hai chiếc gậy. Khi có nguy cơ trượt quá nhanh, chúng sẽ dạng những tấm ván này ra. Tuy vậy trong dịp này bọn mũi lõ thường gãy chân tay hoặc cổ, sao có thể khác được khi chúng từ một dốc đá ngã xuống, đụng phải cây hoặc va vào một tay mũi lõ khác cũng đang di chuyển. Bị thương như thế này không phải chuyện xấu hổ mà ngược lại.
Nàng Pao-leng xúi giục đệ học trượt tuyết. Vào mùa hè và thu nàng đã luôn muốn thúc đẩy đệ cùng nàng bơi lội trong hồ. Đệ luôn thoái thác. Nhưng lúc này, ở Ki-tsi-bü, đệ khó lòng từ chối; không phải vì đệ tin lời nàng rằng trượt tuyết sẽ khiến đệ rất thích thú, mà thú thật đệ bị cắn rứt vì chuyện với tiểu phụ Chung nên đệ đã mềm lòng. Nàng Pao-leng đăng ký cho đệ học với một ông thầy về trượt tuyết. Đệ được phát một bộ quần áo kỳ quặc, đại khái giống thứ mà những bộ tộc vùng thảo nguyên phía Bắc nước ta vẫn dùng để địu con nhỏ, cùng hai tấm ván dài (gọi là tử thi[4]) và gậy. Đệ cung kính lại gần vị thầy sẽ dạy đệ về nghệ thuật trượt tuyết; hóa ra hắn chỉ là một gã trẻ măng, cung cách lỗ mãng, tóc vừa dài vừa nhờn, lại hôi miệng nữa chứ. Hắn gào nghe rất đáng sợ và bọn đệ – nghĩa là đệ với khoảng mươi người tha thiết muốn học trượt tuyết – phải lên trên cao nữa, đứng ngay ngắn nơi con dốc. Muốn tỏ ra xuất sắc, đệ lao thật đẹp xuống dốc, tới thẳng chỗ ông thầy và chẳng may hất hắn ngã chỏng gọng. Bị một tấm ván của đệ va trúng đầu, hắn giận dữ và càng bất lịch sự hơn. Đệ vẫn trầm tĩnh, đứng dậy, cố khom lưng tuy chân vướng tấm ván và nói: “Thưa sư phụ dạy trượt tuyết kính mến, đệ tử tội đáng muôn thác vì đã làm cái đầu xinh đẹp đáng ngưỡng mộ của sư phụ bị thương tổn, đồng thời rất lấy làm tiếc không thông thạo cách bày tỏ tinh tế niềm ân hận của mình”. Hắn ôm đầu gào to hơn nữa. Đệ không hiểu hắn gào gì, tay hắn vung loạn xạ. Khi đệ dợm leo lên dốc lần nữa, hắn nói không thành tiếng và qua những âm thanh ú ớ của hắn đệ đoán rằng hắn rất tiếc không thể tiếp tục hướng dẫn đệ vào những bí quyết trong nghệ thuật trượt tuyết của hắn.
Vậy nên đệ đã rời khỏi nơi đó. Vì không thể tự tháo cái cơ cấu phức tạp gắn hai tấm ván cồng kềnh ở chân mình, đệ đành cứ thế bước lạch bạch về khách sạn. Đệ nghe nhiều lời không đẹp của những bộ hành khác. Khi đệ dợm bước qua đường, một chiếc ô-tô sơ ý cán lên những tấm ván sát chân đệ. Ván bị cụt, nhờ thế từ lúc ấy đệ bước đi dễ dàng hơn đôi chút. Một tiểu nhị ở khách sạn đã giúp đệ gỡ những tấm ván. Đệ nằm lên giường, mồ hôi đầm đìa. Thế là mục đích toát mồ hôi đã đạt được.
Nàng Pao-leng rất thích trượt tuyết. Ngày nào nàng cũng say mê trượt. Thân thể nàng đầy vết bầm chẳng đẹp đẽ tí nào.
Bọn đệ ở Ki-tsi-bü hơn mười ngày. Sau khi bị ông thầy dạy trượt tuyết loại ra, đệ ở lại trong tiền sảnh khách sạn và đọc đủ thứ sách, ban ngày ở đó hầu như chỉ có một mình đệ. Thỉnh thoảng đệ thử trò chuyện với một trong những tiểu nhị, song rất khó, vì Ki-tsi-bü thuộc về nước Ti-long[5] mà người ngoài hầu như không hiểu nổi ngôn ngữ của người dân xứ này, như thể họ vừa nói vừa ợ. Đệ cũng thấy dường như thông minh không phải là đặc điểm hàng đầu của người dân đất nước này. Khi bọn đệ rời khỏi nơi đây, đệ rất mừng. Đệ đề nghị với nàng Pao-leng đi đến bất cứ nơi nào không có tuyết, dù phải chạy xe hai mươi giờ thay vì hai. Nhưng tiếc thay nàng không có thì giờ vì nàng là giáo viên. Nàng dạy lũ trẻ và cả thanh niên (lạ lùng là cả nam thanh niên nữa!) về cách sử dụng ngôn ngữ. Nàng phải về nhận chỉ thị mới. Mãi khoảng ba tháng nữa nàng mới lại được phép nghỉ trong thời gian dài. Nhưng lúc ấy đệ đã rời khỏi thế giới này của nàng từ lâu.
Huynh hỏi, trong bức thư đệ tìm thấy ở điểm liên lạc khi trở về, rằng sao đệ vẫn đi nghỉ với nàng Pao-leng dù có bất hòa. Ấy, rắc rối thế đấy. Đệ xin thưa thế này:
Hôm đó sau khi hai nàng bỏ đi, mới đầu đệ thấy nhẹ cả người. Hôm sau đệ ân hận vì đã mất phương tiện giải trí. Đệ liền đặt mua một bó hoa gồm toàn những bông to, một chiếc vòng tay bằng ngọc trai và một chiếc nhẫn cẩn đá lấp lánh mà với bọn mũi lõ là rất quý (riêng chiếc nhẫn đã đáng giá hai thoi bạc) và sai một tiểu nhị của khách sạn mang đến cho nàng Pao-leng. Ít ngày sau đệ đến nhà nàng, nhét dưới khe cửa mấy dòng chữ viết sẵn mà đệ định sẽ ngỏ lời, nhưng đệ chưa kịp nói thì nàng đã ôm chầm cổ đệ, áp môi vào môi đệ và dùng lưỡi làm môi đệ ướt át (với bọn mũi lõ thì cử chỉ này được xem là dấu hiệu đặc biệt của tình yêu) và thì thầm nhiều lần rằng đệ là “người yêu bé nhỏ của nàng từ Trung Quốc”.
Nàng bảo nàng rất giận và tim nàng đầy ắp buồn phiền. (Tuy đệ không hiểu: đã có lần duy nhất nào vì tiểu phụ Chung mà đệ đem lại cho nàng ít hoan lạc hơn, hoặc chỉ ít âu yếm hơn chưa? Và đệ cũng chưa hề nhầm lẫn hai nàng với nhau mà. Ai hiểu được thì hiểu. Còn đệ dĩ nhiên không hó hé). Lúc đầu nàng từ chối món quà, vì theo nàng, những vết thương lòng như thế không thể chữa lành bằng những vật vô nghĩa như thế. Nhưng rồi nàng nhìn chăm chú hơn chiếc nhẫn và cuối cùng đã nhận nó với chiếc vòng tay. Còn hoa thì nàng đã cắm vào bình trước đó rồi.
Còn tiểu phụ Chung thì từ đó đệ không gặp lại nữa. Lần tới nếu nàng lại đáp xuống Min-chen cùng với con rồng sắt, nàng cũng sẽ nhận được nhẫn, vòng tay và hoa. Trong tương lai đệ sẽ phải cẩn trọng.
Lần đi Ki-tsi-bü đã khiến đệ bị ốm. Thế cũng hay, vì đệ được làm quen với nghề chữa bệnh của bọn mũi lõ mà đến nay đệ chưa từng có dịp. Ngay buổi tối từ Ki-tsi-bü về đệ đã bị sốt, răng đánh lập cập. Đệ nằm dài trên giường, nhờ tiểu nhị mời giúp thầy lang. Thầy lang – ở đây gọi là bác sĩ – đến và lạnh lùng bắt mạch đệ. Ông ta hỏi mà đệ không hiểu. Câu hỏi ấy thế này: “Công hay tư?” – “Cao Đài”, đệ đáp, “tại hạ là người từ Trung Quốc xa xôi và tại hạ lấy làm may mắn rằng qua thứ bệnh có lẽ hoàn toàn vô hại này mà được biết đến tài y thuật sáng chói hơn mặt trời lúc chính ngọ của thầy...” Ông ta chán chường lầm bầm ngắt lời đệ: “Ông từ đâu tới chẳng liên quan gì đến tôi, tôi chỉ muốn biết: công hay tư?”.
Đệ liền hiểu câu hỏi này là một nghi thức phải làm sáng tỏ trước khi điều trị và thầy lang không sẵn sàng trị bệnh trước đó. Đệ biết làm sao đây? Đầu đệ nhức như búa bổ, mắt đệ hoa lên, thế mà ông ta đòi phải làm sáng tỏ nghi thức.
“Một vĩ nhân của y học như thầy muốn thế nào hơn? Với lại công khác tư thế nào?”
“Ông sống trên cung trăng thì phải (đã bao lần đệ nghe cách diễn đạt thế này rồi?), công là công, tư là tư. Dĩ nhiên tôi muốn tư hơn. Ở công thì ông chỉ được cho as-pi-lin (hẳn là một loại thuốc), còn ở tư thì tôi sẽ khám ông thực sự”.
“Tư”, đệ thì thào.
“Sao không nói ngay từ đầu”, ông ta gắt. Rồi ông ta nhìn cổ đệ, gõ đầu gối đệ, dùng một cái máy bằng sắt nghe ngực đệ rồi nói: “Cúm”. Ông ta nguệch ngoạc gì đấy trên một mảnh giấy, đưa cho đệ, đóng cặp lại rồi đứng lên.
“Thầy đi à?” đệ hỏi.
“Dĩ nhiên”, ông ta đáp, “còn gì nữa?”
“Thầy không ở đây cho đến khi tại hạ khỏi bệnh ư?”
Ông ta cười hực lên khiến đệ sợ rằng nhà sẽ sập. Mắt đệ tối sầm và khi đệ nhìn lại được thì thầy lang đã đi khỏi. Những gì ông ta viết trên mảnh giấy đệ vẫn giữ trong tay, đệ không đọc được. Một câu bùa chú chăng? Đệ không rõ. Đệ nhét nó dưới gối và bảo tiểu nhị đem cho đệ một ly nước chanh nóng. Sau hai ngày đệ khỏi.
Từ đó đệ rút ra được một bài học: ở đây không đau ốm vẫn tốt hơn. Và về mặt điều trị bệnh nhân được chọn một trong hai cách khám: giá công và giá tư. Dường như khám theo giá tư thì người bệnh được điều trị kỹ lưỡng hơn.
Mai đệ sẽ lại cùng ông Shi-shmi đi xem vở ca vũ nhạc “Đất nước nơi người dân luôn mỉm cười”. Ông Shi-shmi muốn thuyết phục đệ xem một vở ca vũ nhạc khác, nhưng đệ rất muốn xem lại vở này, dù phải cười nôn ruột.
Đệ chào huynh, Di Ngô thân mến và dù cười đùa song vẫn là người bạn rất buồn của huynh.
Cao Đài
❀ ❀ ❀
[1] Kitzbühel (kit-buy-hần): một địa điểm trượt tuyết nổi tiếng ở Đông Nam Áo, với khoảng 9000 dân.
[2] Sân quần vợt.
[3] Sân bóng đá.
[4] Ski (si): tấm ván để trượt tuyết - đồng âm với tiếng Hán “Shi” [tiếng Hán -Việt: (tử) thi]
[5] Tirol (Ti-rôn - Cao Đài vẫn không phát âm được chữ “r”!), một vùng phía Tây Nam nước Áo và Bắc nước Ý.