(Thứ Ba, 20 tháng Tám)
Di Ngô quý mến,
Hẳn huynh ngạc nhiên vì hôm nay đệ lại viết một thư nữa cho huynh. Đệ hy vọng huynh không đợi mấy ngày nữa mới lại ra điểm liên lạc (vì không nghĩ đệ lại sớm gửi thư mới đến thế) khiến biết đâu thư này phải chịu dầm mưa lâu – song tất nhiên không chắc nơi huynh cũng mưa như ở đây. Nhưng huynh đã hứa mỗi ngày đều tản bộ qua điểm liên lạc và đệ rất mong huynh giữ lời – hơn là hứa ít nhất mỗi năm ngày lại viết cho đệ. Đệ ở cái thế giới xa xôi này đã gần bốn mươi ngày mà mới chỉ nhận được bốn thư của huynh. Không phải đệ trách móc đâu. Đệ biết huynh phải giành nhiều thì giờ cho việc công, nhất là lại còn giúp đệ gánh vác trọng trách Hội trưởng Thi nhân hội hoàng gia “Nhị thập cửu đài tiển nham bích” trong thời gian đệ vắng nhà; tấm lòng thân ái này của huynh thật không thể nào đền đáp. Đệ rất rõ họ, những thi sĩ vô cùng đáng kính đầu mang vòng hoa, các hội viên của Thi nhân hội hoàng gia “Nhị thập cửu đài tiển nham bích” vô kỷ luật đến mức khiến đôi khi ta muốn – đệ mượn một cách diễn đạt của ông Shi-shmi và dịch theo nghĩa đen – cứ để họ y nguyên thế mà đóng lút vào đất để họ tỉnh người. Từ ngày đệ đi vắng đến nay họ đã bầu được thành viên thứ hai mươi chín bị khuyết chưa hay lũ thi sĩ quỷ sứ cong đuôi ấy vẫn chưa nhất trí? Tuy nhiên huynh hãy cứ viết cho đệ, thường xuyên như có thể. Và nhớ luôn cho đệ biết con Tiểu Siêu yêu quý của đệ làm gì nhé.
Lý do khiến mới hôm nay mà đệ đã lại viết cho huynh chính là vì đệ lo lắng không rõ giữa đệ với ông Shi-shmi có chuyện phiền toái bất ngờ gì chăng. Tuy đệ đã có thể tự đi lại khá dễ dàng trong thế giới này, song đệ vẫn lấy làm tiếc nếu xảy ra bất hòa, vì qua những gì đệ kể chi tiết về ông hẳn huynh cũng biết đệ cảm thấy thật sự quý mến ông, không kém quý mến huynh, Di Ngô thân mến ạ; hai là thật đáng tiếc khi trong cái thế giới ngu ngốc này đệ không còn được một người hiểu biết hiếm có như ông Shi-shmi truyền kiến thức cho nữa.
Chuyện này liên quan đến buổi thăm viếng đệ đã viết cho huynh hôm qua.
Cho tới nay, như huynh thấy qua thư, đệ hầu như chỉ toàn trò chuyện với ông Shi-shmi thôi. Thỉnh thoảng (dạo gần đây thường xuyên hơn) đệ đi mua sắm, trò chuyện với lũ mũi lõ trong các cửa hàng – đệ cũng muốn biết về lối sống và ý nghĩ của chúng, đôi khi đệ trao đổi vài lời trong khoang cầu thang với vị phu nhân đầy quyền lực; bà dường như đã tha thứ hoặc thậm chí quên câu chuyện đáng tiếc về vụ đệ “tháo dạ” không đúng chỗ. Đệ luôn rất lễ độ khi trông thấy bà, mà đệ gặp bà thường xuyên vì bà thường đứng tại một trong những khoảng trống của cầu thang chính, mặc bộ áo đầm hoa, chống tay lên cây chổi, hẳn đó là biểu tượng cho chức vụ của bà (cây chổi chẳng có ý nghĩa cụ thể nào, vì đệ chưa từng thấy bà quét nhà). “Ô, bông hoa cao quý của tòa nhà”, đệ chào bà – đệ đã rành thứ ngôn ngữ của bọn mũi lõ Ba Yan này rồi, “ô đóa thu hải đường thơm tho với khuôn mặt tựa vầng trăng, Cao Đài hèn mọn tựa giun sán này kính cẩn chào và chúc bà một sáng mùa hè ngọt như mật” hoặc những lời tương tự. Mới đầu bà tỏ ra lạnh nhạt, nhưng từ lúc đệ – theo lời ông Shi-shmi khuyên – khom lưng hai phần ba, trao tặng bà một bức thư tiền giấy màu xanh, bà tức thì là hiện thân của sự thân mật.
Song tất nhiên tất cả những quan hệ này chỉ ngắn ngủi thôi. Những điều thật cần biết đệ phải hỏi ông Shi-shmi, nhưng mới đây ông bảo dần dần phải nghĩ đến chuyện giới thiệu đệ với những người khác để đệ mở rộng tầm mắt. Việc đệ kể sơ hôm qua rằng được một nàng mời đến chơi là cơ hội đầu tiên.
Nàng tên Pao-leng[1] và ở tại một khu phố xa. Bọn đệ – ông Shi-shmi và đệ – thuê một cái ô-tô giống như ở ta thuê kiệu và phu khiêng và lái đến đó vào buổi chiều. Mất nửa tiếng đi xe. Nàng ở trong một tòa nhà tương tự nhà ông Shi-shmi. Nhưng căn hộ của nàng rộng rãi hơn của bọn đệ (Đệ xin phép gọi là “của bọn đệ” cho đơn giản, chắc chắn ông Shi-shmi đồng ý).
Nhưng mọi chuyện đều rất phức tạp và huynh không thể hiểu ngay được đâu. Đàn bà con gái của bọn mũi lõ được đối xử khác hẳn kiểu chúng ta quen xưa nay, cũng khác hẳn lời dạy của đức thánh Khổng. Nghe kỳ quái, song ở đây phụ nữ đi lại trong nhà, trên đường phố, giữa chốn đông người cứ y như đàn ông. Đó là một nguyên do tại sao lúc đầu đệ khó phân biệt đàn ông với phụ nữ. Nhưng bây giờ đệ học được rồi (ngay cả không có dù). Một là không phải mọi đàn ông đều cạo râu nhẵn nhụi như ông Shi-shmi. Khối người để râu như phong tục của ta. Nhưng cả ở những kẻ râu ria nhẵn nhụi, nhìn kỹ ta vẫn nhận ra cọng râu đã cạo, vì giống mũi lõ rất lông lá. (Khác chăng là chúng thường hay hói, có lẽ vì nhiều người cứ đầu trần chạy nhông. Ở đây thường xuyên mưa thì tóc của chúng sẽ bị mục thôi, đệ nghĩ thế đấy. Nhưng chúng chẳng thấy phiền hà gì). Đệ nhận ra phụ nữ trước hết ở chỗ họ thiếu râu, thứ hai là ngực họ cứ ưỡn thẳng ra trước. Ngược với phụ nữ chúng ta và quan niệm về vẻ đẹp ở ta, ngực phụ nữ ở đây đúng là cả một núi thịt và họ chú ý để nó tròn trịa và chia làm hai rõ rệt dưới làn áo. Ngực nàng Pao-leng cũng khá to, nàng mặc bộ đầm cụt tay sặc sỡ sáng bóng hình dợn sóng và có lần khi nàng cúi xuống cạnh đệ, qua nách áo đệ quan sát được toàn bộ ngực nàng, to bằng ngực sáu nàng thiếp của đệ gộp lại. Vâng, ta có thể sẽ quen dần với những thứ như thế và khi quen rồi có thể ta thấy thế là đẹp. Ngực nàng Pao-leng tròn trịa và phơn phớt màu vàng kim. Chiếc áo đầm mỏng tanh họa tiết hình sóng. Khi nàng đứng giữa đệ và luồng sáng, đệ thấy rõ hết cả thân thể nàng, tuy vậy nàng không phải là kỹ nữ hạng sang, như ông Shi-shmi quả quyết với đệ, mà thuộc giới thượng lưu và có tiếng tăm.
Ông Shi-shmi bảo rằng nàng Pao-leng không có chồng. Phụ nữ ở thế giới này không cần có chồng mới có được tiếng tăm, tuy như ông Shi-shmi nói, họ cũng muốn có chồng nổi danh để được thêm danh tiếng. Cơ bản là mỗi người đàn ông và mỗi người phụ nữ đều có thể cưới nhiều lần, nhưng không được cùng lúc mà lần lượt. Hết sức bất tiện.
Lạ lùng là: ngược với phong tục chúng ta, phụ nữ ở đây có thể lấy chồng nhiều lần. Nàng Pao-leng có hai đời chồng và ly dị ông thứ nhì chưa lâu. Chỉ cần một phán quan tuyên bố chuyện ly dị này là xong. Ông Shi-shmi bảo một ngày nào đấy ông, hoặc tốt hơn, viên phán quan bạn ông mà đệ đã quen vào ngày thứ hai, sẽ cắt nghĩa cho đệ về những chuyện pháp lý này. Còn chính ông chỉ hiểu rất ít thôi.
Hiện giờ nàng Pao-leng sống một mình. Ai ăn nằm với nàng? Nàng còn trẻ và đẹp – thậm chí theo quan niệm của chúng ta. Thể dịch trong cơ thể nàng phải được thỏa mãn cách nào đấy chứ nhỉ? Điều này đệ vẫn chưa rõ. Với lại ở đây không có hầu thiếp chính thức, ông Shi-shmi nói. Kỳ quái thật và đệ chịu không hiểu thứ phong tục lộn xộn này. Một mặt đàn ông và phụ nữ – chính mắt đệ thấy vào một trong những ngày nắng hiếm hoi – công khai nằm tồng ngồng trên bãi cỏ bên bờ sông[2], thậm chí không ngần ngại nhảy xuống nước; đệ nói cho huynh biết: ở đây đàn ông để củ giống lủng lẳng thoải mái, còn phụ nữ ưỡn những bộ ngực to như núi lên trời và thản nhiên nằm đến nỗi người ta thấy được cả thung lũng hoan lạc – mặt khác, ông Shi-shmi nói, không thể có chuyện đàn ông chính thức có nàng hầu, nếu có thì người ấy cũng sẽ giữ kín.
Ông Shi-shmi chưa từng có vợ. Ông bí mật có một hay nhiều nàng hầu hay không, đệ không rõ. Đệ không muốn hỏi. Có thể một ngày nào đấy tự ông cho đệ biết – hoặc giả là... và bây giờ đệ đi vào vấn đề đã khiến đệ lo ngại rằng giữa ông ấy và đệ có thể có bất hòa... hoặc giả nàng Pao-leng nọ là thiếp của ông.
Nàng Pao-leng đã chuẩn bị xong bữa ăn tối. Nàng thân mật chào bọn đệ. Trước đó ông Shi-shmi đã cho nàng biết đệ là ai, dĩ nhiên ông giấu lai lịch thật của đệ, chỉ bảo rằng đệ từ Trung Quốc qua thăm, nghiên cứu ở đây (đúng thế thật) và ở nhà ông (cũng đúng luôn). Sau đó có thêm một ông khách nữa mà đệ không nhớ tên vì quá phức tạp.
Nàng Pao-leng tự nấu bữa ăn. Điều này không có gì kỳ lạ ở đây. Ông Shi-shmi nói phụ nữ mũi lõ đều tự nấu. Chỉ ít, rất ít người có đầu bếp. Lạ lùng thật. Việc thế giới này hầu như hoàn toàn không có người giúp việc (đệ đã viết trong một thư trước) đã khiến đệ để ý ngay từ đầu. Sao lại không có đầy tớ khi mà trên đường phố nhiều người đi rong như thế, nhiều gấp ba lần, đệ nói vớ vẩn gì thế nhỉ, gấp mười lần trong những thành phố đông dân cư nhất nước ta? Đệ chỉ có thể giải thích thế này: trong tiến trình của thói nghiện thay đổi bằng mọi giá, bọn đầy tớ đã trở thành ông bà chủ hết. Nhưng cái gì làm nên ông bà chủ nếu không phải quyền lực họ có trên bọn gia nhân, trên bọn đầu bếp, đầy tớ, chạy giấy, nữ tỳ, nô bộc, tay sai? Thử hỏi chủ nhân không có người giúp việc có còn là chủ nhân nữa không?
Nếu ai cũng muốn thành chủ nhân thì bọn chúng nhầm to rồi. Tất cả bọn chúng không phải đã từ gia nhân trở thành ông bà chủ, mà vẫn là gia nhân, chỉ không có chủ thôi.
Cả ông Shi-shmi cũng không có đầy tớ.
Nàng Pao-leng cũng tự bưng mọi món ăn ra. Món ăn ở xứ này thật đáng suy ngẫm. Thịt chó bị coi là không ăn được, thậm chí kinh tởm. Trong khi đó bọn mũi lõ ăn thịt bò đực lẫn bò cái, uống sữa bò – đệ muốn ói mỗi khi thấy – và ăn những thành phẩm ở dạng đặc làm từ sữa. Những thành phẩm này gọi là bu-ta và kai-sê[3]. Bu-ta màu vàng, chẳng mùi vị gì sất (bọn họ phết bu-ta lên bánh mì); kai-sê cũng màu vàng, nặng mùi như bàn chân không rửa. Thứ ghê tởm nhất chế biến từ sữa là một khối màu trắng hơi đặc sặc mùi chính phẩm tên là yo-kou[4]. Ông Shi-shmi dùng điểm tâm với món này và đã mời đệ, ông bảo nó rất bổ. Đệ không thể hình dung nổi một món có thể gọi là bổ được khi nó khiến người bình thường như đệ cảm thấy buồn nôn.
Ngoài ra dường như bọn mũi lõ thấy kinh tởm trước chính món ăn của chúng. Điều này đệ đã kể ngay thư đầu, liên quan đến thứ dụng cụ ăn uống tên là gan-bal, một thứ que tõe thành bốn mũi nhọn ở đầu mà bọn chúng dùng để ghim từng miếng thịt nhỏ sau khi cắt từ tảng thịt bằng những chiếc cưa con[5]. Ngoài ra còn có một thứ khí cụ đầu tõe như cái gáo tí tẹo. Trong những món bọn chúng dùng nó để xúc có món yo-kou nọ. Thò tay vào món ăn bị coi là hết sức thô lậu.
Đệ đã huấn luyện ông Shi-shmi tới mức ông chỉ còn nấu những món đệ quen thuộc: thịt heo, gà, vịt, cá. Những thứ này đều có ở đây, nhưng bọn mũi lõ chuộng thịt bò. Phải chăng đó là lý do khiến bọn họ thô lỗ mà không hay? Đệ cho rằng ông Shi-shmi đã kể cho nàng Pao-leng về thói quen ăn uống của đệ, vì đệ không tin thực đơn tối hôm ấy chỉ là ngẫu nhiên: trước nhất là món cá hồi cắt mỏng vắt chanh. May mà món này ăn nguội, vì bình thường bọn mũi lõ thích ăn nóng phỏng lưỡi. Gặp nóng thì vị giác tê liệt ngay tức thì, đâu còn phân biệt những khác biệt tinh tế được nữa. Rồi đến xa-lát, rồi một miếng thịt heo, nhưng cắt thành lát đặt trên đĩa. Ở đây cũng có cơm, nhưng chẳng mấy giống cơm của chúng ta. Món ăn đệm[6] chủ yếu là một loại củ vàng vàng, ông Shi-shmi bảo xuất xứ từ một đất nước mà người cùng thời với đệ không hề biết, vì chưa từng có ai đến đó[7].
Tuy nhiên – đệ sửng sốt – một trong những thành tựu về ẩm thực của chúng ta không chỉ tồn tại hàng trăm năm, mà còn từ Trung Quốc “xa xôi” của chúng ta (bọn mũi lõ gọi là Chi-na) tới tận Min-chen: món mì sợi. Ông Shi-shmi chỉ cho đệ con đường của sợi mì trên quả cầu mẫu của ông: một nhà du hành đã từ một thành phố ở phía Nam Minchen tên là Veng-de-di[8] đến nước ta bảy trăm năm trước thời ông Shi-shmi, nghĩa là ba trăm năm sau thời chúng ta (chuyến đi của ông ta cực khổ vô vàn so với chuyến đi của đệ). Ông ta tên là Ma-ho-po-lo[9], được Thiên tử thời đó sủng ái, trở thành Tổng đốc tỉnh Nam Chiang. Một ngày nọ nhớ nhà, ông trở về Veng-de-di, mang theo kiến thức của chúng ta về cách làm mì sợi. Nghệ thuật này lan truyền từ Veng-de-di. Song dù nếu không phải thế, ông Shi-shmi nói, Veng-de-di vẫn là một thành phố nổi tiếng. Thành ra nhờ có Ma-ho-po-lo còn chưa sinh vào thời chúng ta mà đệ được ăn ở nhà nàng Pao-leng món mì sợi, tất nhiên dày và thô hơn mì của ta. Với lại – huynh chớ nói với ai – đấng hoàng đế đã sủng ái Ma-ho-po-lo không còn thuộc Tống triều nữa[10].
Cuối bữa ăn, nàng Pao-leng, xinh đẹp trong chiếc áo đầm sáng loáng hơi lồ lộ hình dợn sóng, dọn lên một món ăn ngọt. Huynh nên biết rằng bọn mũi lõ phân biệt rạch ròi giữa món ngọt và chua. Họ không bao giờ trộn lẫn. Đệ thấy dường như họ chuộng ngọt hơn, vì cuối bữa ăn luôn luôn có món này.
Nàng Pao-leng dọn món này chắc chắn vì hảo ý, nhưng đệ không ăn nổi. Ông Shi-shmi và ông có cái tên rất phức tạp kia không ngớt trầm trồ “À” với “Ồ”, ăn lấy ăn để món màu nâu sẫm trông như cháo sệt. Đệ thọc ngón tay vào để nếm thử và thấy ngay rằng món cháo sệt này có sữa bò. Đệ khom một lần rưỡi người trước nàng Pao-leng, khước từ.
Nói thêm là việc thọc ngón tay vào món ăn để nếm bị coi là thô lỗ – giống nhiều điều khác mà chúng ta coi là bình thường. Cũng như việc ợ hoặc đánh rắm sau bữa ăn để tỏ rằng bữa ăn ngon thì ở đây dứt khoát bị coi là bất lịch sự. Mặt khác, một mỹ nhân và sau này đệ được biết thêm, rất học thức như nàng Pao-leng lại không ngần ngại mặc chiếc áo đầm hơi lồ lộ, cụt ngủn và chật căng khiến mỗi cử động đều phơi bày một phần nào đấy của thân thể, điều mà ở ta một ả kỹ nữ thập thành cũng phải đỏ bừng mặt. Sau đó, khi mọi người ngồi tại chiếc bàn thấp bên cạnh bàn ăn, nàng vắt chân như đàn ông và đệ thậm chí trông thấy cả cái nõn nường của nàng, nếu đệ không nhầm. Xin lỗi đệ đã kể những điều này. Nhưng dẫu sao đệ vắng nhà cũng đã lâu, vầng trăng đã hai lần đổi, và từ đấy – như huynh có thể đoán được – đệ chưa được nhìn gần một người đàn bà nào, huống hồ rờ rẫm. Thế là hết sức có hại cho sức khỏe ở vào tuổi đệ. Đệ mới chỉ kém mắt thôi, chứ chưa mảy may giảm sức lực.
Ở bọn mũi lõ cũng thế, thậm chí tệ hơn, không thể khác được. Bọn mũi lõ đều mắt kém, thường ngay từ lúc còn thơ. Để cân bằng, họ phát minh ra một loại gọng sắt móc vào hai vành tai – huynh đừng cười, ở đây họ coi chuyện này hoàn toàn đương nhiên – họ dùng nó để giữ những tấm kính được mài giũa đeo trước mắt. Có lần đệ đã chú ý đến điều này khi đi dạo trong hoa viên của cựu hoàng: khoảng một phần ba bọn mũi lõ mang gọng kính. Nó được giữ trước mắt chỉ nhờ cái mũi to. Đệ tự hỏi: phải chăng thiên nhiên đã cho bọn người ở đây cái mũi to để gián tiếp cân bằng thị lực yếu kém của họ?
Ông Shi-shmi cũng đeo một gọng kính như thế, cả nàng Pao-leng nữa; ngoài ra thì nàng rất đẹp, như đã nói. Đệ ngắm nàng thật lâu. Suốt buổi nàng không gỡ kính ra. Đệ thắc mắc: khi ăn nằm, nàng có bỏ kính ra không? Dĩ nhiên đệ không hỏi. Trong cái thế giới kỳ quặc này ta thường phải nén hỏi những điều mà theo ta là hoàn toàn bình thường.
Nhưng vì hồi nãy đệ kể về món ăn, có thể huynh muốn hỏi về thức uống. Đệ chỉ muốn trả lời: không gì phân biệt thế giới của bọn mũi lõ với của chúng ta bằng thói quen về chuyện uống. Trong khi chúng ta hài lòng với nước, trà và rượu trắng – nếu ta gọi đó là thức giải khát theo nghĩa hẹp, ở đây có vô số thức uống khác nhau. Trước nhất người ta tránh uống nước lã vì bị coi là bằng chứng của nghèo nàn, tuy nước ở đây rất ngon và trong, và mỗi nhà, mỗi căn hộ, thậm chí gần như mỗi căn phòng đều có một nguồn nước hết sức dễ sử dụng (không kể nguồn nước trong bồn sứ nọ, nhờ nó mà chất thải của cơ thể được tống đi). Ở nhà – ý đệ nói là ở căn hộ của ông Shi-shmi – đệ luôn uống nước lã khi khát. Bây giờ ông Shi-shmi quen với chuyện này rồi, chứ lúc đầu ông luôn tròn mắt nhìn đệ và lắc đầu bảo rằng sao người ta có thể uống nước lã được.
Có trà đấy, nhưng tất nhiên họ đã làm hỏng nó vì họ thêm vào trà đủ thứ, thậm chí đôi khi cả sữa. Ông Shi-shmi mua trà về và cho đệ được nấu theo kiểu của đệ. Nhưng ông không thấy ngon. Bọn mũi lõ uống sữa mọi lúc, mọi nơi. Đệ thấy dường như đó là một tật xấu không trừ bỏ được của bọn mũi lõ. Đệ không thể cho rằng thế là tốt cho sức khỏe; và đệ có thể hình dung rằng tính hung dữ của bọn mũi lõ, thể hiện qua phong cách (không diễn tả được) của họ, qua phong tục trái ngược và nhất là trong giọng nói trầm thô lỗ và ồm ồm của họ, là do lạm dụng sữa bò làm thức uống phổ biến. Có thể mắt họ kém cũng vì thế. Huynh thử hình dung: thứ vắt từ bầu sữa nổi gân béo bệu, thứ do con vật bẩn thỉu đến thế sản sinh ra mà người ta đưa lên miệng, lại còn uống vào bụng nữa. Mới chỉ viết ra thôi mà đệ đã lợm giọng rồi.
Một thức uống khác màu nâu thẫm, gần như đen và nóng: kafei[11]. Giống như trà, dùng nóng, quậy đường thật ngọt, uống khá ngon và làm tỉnh táo, miễn đừng đổ sữa bò vào làm nhơ bẩn – phần lớn bọn mũi lõ làm thế. Ngoài ra còn vô số thứ thức uống làm từ trái cây. Chúng gồm hai loại: làm chếnh choáng và không làm chếnh choáng. Trong loại làm chếnh choáng có hai thứ bọn mũi lõ ưa chuộng (bên cạnh sữa bò): vang làm từ nho – uống không tệ; có loại đỏ hơi thẫm và loại xanh vàng nhạt – và một thứ thức uống kinh tởm có bọt và chủ yếu dùng trong dịp hội hè của dân chúng. Ông Shi-shmi bảo nó đặc biệt phổ biến ở Ba Yan; người ta uống nó vào mọi dịp, nhất là trong những khu vườn đặc biệt[12], thực khách thường vừa uống vừa hát những bài “tụng ca” được sáng tác riêng cho những dịp ấy. Thức uống này có hai tên gọi tùy theo loại bình đựng: masa hoặc hal-bal[13]. Thỉnh thoảng ông Shi-shmi cũng uống một hal-bal vào chiều tối. Đệ đã thử, chẳng ngon lành gì. Đệ ngạc nhiên khi không thấy ai có thói quen đổ sữa bò vào vang hay ma-sa hoặc hal-bal.
Một thức uống khác rất bí ẩn, ông Shi-shmi nói nó cũng đến từ cái đất nước xa xôi thời chúng ta chưa ai biết tới, quê hương của thứ củ bột màu vàng vàng dùng làm món ăn đệm mà đệ đã kể ở trên. Thức uống này tên là ko-kao-la-koa[14] hoặc đại khái thế. Màu nó cũng nâu thẫm nhưng uống lạnh. Ông Shi-shmi bảo rằng người chế tạo ra thứ ko-kao-la-koa này giữ bí mật thành phần pha chế, khiến đến nay vẫn chưa ai biết nó gồm những gì. (Dẫu sao nó không có sữa bò, đệ đã điều tra). Vài năm trước, ông Shi-shmi nói có người viết trong sách rằng ko-kao-la-koa làm từ thịt chó khô nghiền nhỏ. Thế là đệ lại uống thử lần nữa, nhưng vẫn không thấy ngon.
Trong bữa ăn ở nhà nàng Pao-leng đệ đã uống vang. Có loại vang sủi bọt nữa và người ta gọi nó là Mo-te Shang-dong[15]. Đệ khá thích loại này. Song phải cẩn thận; nó nhẹ như nước lã, nhưng làm say đấy. Sau bữa ăn nàng Pao-leng mở liên tiếp hai chai Mo-te Shang-dong. Tới đây đệ xin quay lại với mối lo ngại đệ đã viết đầu bức thư. Đệ không chắc chắn lắm: đồng ý là đệ có uống thứ rượu ngon lành này nhiều hơn khi đệ còn hoàn toàn tỉnh táo, đệ cũng có cân nhắc đến chuyện nàng Pao-leng là người phụ nữ xinh đẹp đầu tiên đệ được thấy sau gần hai mùa trăng, cũng có thể những thể dịch trong người đệ không được thỏa mãn kể từ ngày đó – một điều hết sức tự nhiên – đã ảnh hưởng đến giác quan đệ, khiến chúng cảm nhận sự vật mạnh mẽ hơn bình thường. Thực tế là nàng Pao-leng mặc chiếc áo đầm dợn sóng sáng lóa mà đệ đã nhiều lần đề cập đến và mặc dù nó che thân thể nàng, nhưng lại làm lộ ra một cách hết sức hấp dẫn hơn cả che giấu. Thực tế nữa là nàng Pao-leng – hôm ấy là một buổi chiều hè rất ấm, gần như nóng nực, buổi chiều đẹp đầu tiên sau trận mưa dài nhiều ngày – không mặc váy lót và dưới chiếc áo đầm, như đệ có thể nheo mắt đôi chút quan sát, chẳng có gì nữa cả.
Tại Mo-te Shang-dong hay vì những thể dịch không được thỏa mãn của đệ mà đệ còn nghĩ: nàng Pao-leng chẳng những không cự tuyệt việc đệ ngắm nhìn kỹ thân thể nàng, vì nàng không thể không nhận thấy, mà còn đáp lại với thiện cảm? Nàng đôi ba lần ngồi xuống, sao cho đệ có dịp quan sát – theo đúng nghĩa của từ này – kỹ càng và thoải mái hơn. Đôi ba lần nàng nhìn đệ trong lúc trò chuyện và – như thể nàng đoán được đệ nghĩ gì – bỏ kính ra... cho đệ thấy nàng sẽ làm gì khi ăn nằm chăng? Đệ thú nhận tối ấy đệ ngủ không yên. Ngược với thói quen, đệ đã thức giấc nhiều lần, mồ hôi đầm đìa và trong lúc nửa tỉnh nửa mơ ấy chiếc áo đầm sặc sỡ dợn sóng cứ lắc lư trước mắt đệ với tất cả những gì nó che đậy hoặc chính ra không che đậy.
Nhưng dĩ nhiên ở đó còn người đàn ông với cái tên quá dài khiến đệ không nhớ nổi và ông Shi-shmi nữa. Đệ không tin rằng ông Shi-shmi và người đàn ông kia không để ý đến chiếc áo đầm của nàng Pao-leng và những gì nó cho thấy. Đệ thậm chí sợ rằng ông Shi-shmi đã đoán được dăm ba ý nghĩ của đệ – điều này quá rõ. Ông hối hận đã đưa đệ đi cùng chăng? Ông chờ đợi ở đệ nếp nghĩ của một nhà sư chăng? Nếu thế thì hoặc ông khờ dại hoặc trước đó chưa từng ngắm nhìn kỹ nàng Pao-leng. Ngắm nhìn một người cỡ như nàng Pao-leng – chính vì nàng không phải kỹ nữ – mà giữ được nếp nghĩ của kẻ thanh tu thì chỉ có thể là thái giám hoặc già tám mươi tuổi; song ngay cả điều này đệ cũng hoài nghi. Trên đường về, cũng với một chiếc ô-tô thuê, ông Shi-shmi không nói với đệ lời nào. Ấy, có thể đệ nhìn mọi chuyện quá rắc rối. Có thể ông Shi-shmi chỉ mệt thôi, vì cũng đã uống quá nhiều Mo-te Shang-dong. Sáng sớm nay ông đi khỏi mà không gặp đệ. Nhưng ông vẫn thường hay thế.
Ở nàng Pao-leng còn chuyện này nữa: nàng có một con mèo cái. Nó là thứ thuần chủng và giống mèo ở nước chúng ta. Nó rất gần gũi với đệ và chiều hôm ấy nằm meo meo trong lòng đệ đâu chừng bốn năm lần. Chẳng cần phải nói với huynh rằng đệ đã nhớ con Tiểu Siêu xa xôi của đệ biết mấy.
Nhưng đệ nên làm gì đây? Phải thú nhận rằng nếu chiều hôm qua là lần cuối cùng được gặp nàng Pao-leng thì đệ rất bứt rứt (chỉ bứt rứt thôi ư?) Mặt khác đệ du hành tới thế giới xa xăm này đâu phải để phiêu lưu về tình dục, mà để thu thập nhận thức. Chậc, chiều nay khi ông Shi-shmi về đệ sẽ xem thế nào, qua thái độ của ông đệ có thể biết đã làm ông phật lòng chăng và nếu có thì ông đã nguôi giận chưa. Mọi chuyện sẽ tùy thuộc vào đấy. Rốt cuộc thì đối với đệ ông ấy quan trọng hơn một người phụ nữ, cho dù nàng mặc áo đầm dợn sóng.
Với đệ thì huynh, hảo bằng hữu ơi, là quan trọng nhất.
Gửi đến huynh lời chào của người bạn phương xa.
Cao Đài
❀ ❀ ❀
[1] Paulane (pau-lan-nơ).
[2] Englischer Garten (vườn Anh quốc): rộng 375 hecta, một trong những công viên lớn nhất thế giới, được xây dựng bên bờ sông Isar ở Munich vào cuối thế kỷ 18. Vào những ngày hè nóng nực, không ít người – đàn ông lẫn phụ nữ – thoải mái lõa thể phơi nắng.
[3] Butter (but-tơ): bơ; Käse (kê-dơ): pho-mát.
[4] Yoghurt hay Joghurt (dốc-huộc): sữa chua đặc.
[5] Dao khía răng cưa.
[6] Gọi là món đệm, vì món chính phải là thịt hoặc cá.
[7] Đây là củ khoai tây, gốc gác ở châu Mỹ. Châu Âu chỉ biết nó sau khi Christoph Columbus “khám phá” ra châu Mỹ vào gần cuối thế kỷ 15.
[8] Venedig (Venise).
[9] Marco Polo (1254 – 1324), người Venise (bấy giờ là một nước Cộng hòa độc lập). Theo lời kể của ông được ghi chép lại, năm 1271 đã cùng cha và chú (là những thương gia) đến Trung Quốc, gặp Hốt Tất Liệt, được vua Nguyên sủng ái, phong quan tước. Năm 1291 ông trở về cố hương.
[10] Nhà Kim xâm chiếm một nửa giang sơn nhà Tống. Sau đó Hốt Tất Liệt diệt cả Kim lẫn Nam Tống, dựng nên triều đại Nguyên.
[11] Cà phê.
[12] Ở Bayern có nhiều quán gọi là “Biergarten” (Vườn bia), bày bàn ngoài vườn khi trời nắng đẹp.
[13] Mass (ma-xơ): ly cối 1 lít; Halbe (han-bơ): ly 0,5 lít.
[14] Coca cola.
[15] Moet & Chandon: một nhãn hiệu sâm banh nổi tiếng.