Thư gửi về Trung Quốc xa xưa

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thư thứ mười tám

❊ ❊ ❊

(Chủ nhật, 13 tháng Mười)

Di Ngô thân mến,

Trong một thư trước đệ viết rằng sau khi tìm hiểu đời sống riêng tư của bọn mũi lõ, đã đến lúc đệ cần nghiên cứu đời sống công cộng, đặc biệt Nhà nước của chúng. Chính vì thế đệ đã dọn khỏi căn hộ của ông Shi-shmi và vào khách sạn ở. Đệ đã quen biết được vài người thú vị, nhưng đệ sẽ kể sau. Hôm nay đệ muốn kể cho huynh về thú tiêu khiển công cộng của bọn mũi lõ.

Đệ nhận ra từ lâu rằng cả ông Shi-shmi lẫn nàng Pao-leng đều không phải là thước đo để đánh giá về bọn mũi lõ nói chung. Nàng Pao-leng là một phụ nữ có học vấn cao, còn ông Shi-shmi hẳn chúng ta không ngần ngại coi là một triết gia, bất chấp một vài quan điểm khác lạ; ngoài ra ông còn rành về âm nhạc. Ông Shi-shmi và nàng Pao-leng nổi bật khỏi đám đông mũi lõ, không khác ở ta mấy.

Phần lớn bọn mũi lõ mặt mày thô kệch di chuyển trên đường phố, ánh mắt u sầu. Đệ đã nói rồi: rất dễ đoán nét mặt chúng, hầu hết đều có nét đố kỵ. Phải chăng do chúng thường uống sữa bò? Hoặc cuộc sống hối hả và sự “tiến bộ” liên tục khiến chúng không hài lòng? Và có thể tự chúng không biết điều này?

Đệ cứ tưởng bọn mũi lõ không có trò tiêu khiển công cộng; thế mà có đấy. Xin thưa ngay: những trò này còn đáng sợ hơn sự bất mãn. Đã lâu rồi, trước lúc đệ viết bức thư mới nhất cho huynh, ông Shi-shmi đã dẫn đệ tới một trò giải trí công cộng như thế này. Ông bảo đây là cao điểm trong năm và kéo dài gần nửa tuần trăng. Nó gọi là “Lễ hội trăng Thu”[1], được tổ chức trên một bãi cỏ mênh mông hơi xa trung tâm thành phố. Thật không tả nổi, đệ tin rằng chưa bao giờ thấy kinh tởm hơn, tuy nhiên đệ vẫn ở đấy vài giờ.

Ngay từ xa đã thấy bầu trời sáng lòa trên những mái nhà như thể có hỏa hoạn. Càng đến gần, ta càng ngập trong tiếng ồn đinh tai nhức óc. Bình thường đệ đã quen đi lại khá tự do, thế mà đệ vẫn phải bám tay ông Shi-shmi. Cả nghìn chiêng trống và phèng la liên tục phát ra tiếng ồn nhức óc, thế mà gọi là âm nhạc đấy. Người ta chỉ có thể hét to khi trò chuyện. Đệ hét: thầy Ve-to-feng của các vị sẽ nói sao về tiếng ồn này? Thầy ấy điếc mà! ông Shi-shmi hét lại. Bây giờ tại hạ hiểu tại sao thầy ấy điếc! đệ hét.

Mới đầu đệ không nhận ra được gì hết thảy. Khi mắt đệ đã quen với ánh chớp nhoang nhoáng phát ra từ vô số ngọn đèn sáng quắc, đệ thấy những chiếc bánh xe khổng lồ quay tít, những ghế xích đu bay bổng bắn vọt trong không khí; bọn mũi lõ ngồi đầy trong đấy chẳng chút nao núng, thật chẳng khác gì tự sát. Đâu đâu cũng hôi rình; hiển nhiên cùng với chuyện giải trí bọn chúng phải giải quyết nhu cầu ở bất cứ chỗ nào khi bị mót, vì phần lớn trò tiêu khiển là uống thật nhiều ma-sa và hal-bal, thành ra cũng phải thải ra thật nhiều.

Dĩ nhiên đệ không chịu ngồi vào một trong những bánh xe hay ghế xích đu này. Nhưng sau khi đã bám chặt tay bạn đi một vòng chừng một tiếng đồng hồ, đệ theo ông Shi-shmi vào một trong những nơi bán nước chính. Đó là những chiếc lều khổng lồ không hình dung nổi, nồng nặc hơi người như trong một chuồng thú. Trên một cái bục ở giữa lều, một nhóm nhạc công chơi loại nhạc chát chúa bằng cách thổi những chiếc kèn thật to, chẳng giống nhạc của thầy Ve-to-feng tí nào. Phần lớn khách mặc quần áo màu lục và đội loại mũ rất ngộ nghĩnh[2]. Những nữ tửu bảo béo núc chuyên được huấn luyện – như ông Shi-shmi cho biết – để ôm mười, mười hai vại ma-sa[3] hoặc hơn nữa, huỳnh huỵch bước từ bàn này qua bàn khác giao bia cho khách, phải trả tiền ngay. Bọn mũi lõ, thường trang điểm những dấu hiệu kỳ lạ, mũ đeo vòng hoa giấy hoặc một túm lông, vỗ đùi và lớn tiếng kêu vô cớ. Chúng há hốc mồm, đổ bia vào họng ngay sau khi nhận được vại bia. Tiếng nhạc vốn đã át hết mọi thứ tiếng khác rồi, thế mà thỉnh thoảng ban nhạc lại chơi to hơn nữa một bài hát rất ngắn như sau: Van-tswa-xu-fa[4]... dường như hết sức được ưa thích, mà ý nghĩa của nó đệ không hiểu rõ. Tiếp theo là ba tiếng trống vang rền. Đó là hiệu lệnh để mọi người bưng vại của mình, đổ vào miệng nhiều nhất có thể. Sau đó họ hò hét, gọi nữ tửu bảo mang vại bia mới. Những thùng bia khổng lồ được lăn từ ngoài vào và những gã đàn ông sức vóc như quỷ sứ đeo tạp dề da, bàn tay to như chiếc xẻng thọc thủng những thùng này ở chỗ nhất định, bia sẽ từ chỗ đó tuôn vào vại.

Chẳng mấy chốc đám mũi lõ này say và dĩ nhiên không tránh khỏi chuyện chúng cãi vã với nhau hoặc với các nữ tửu bảo, rồi nhanh chóng biến thành ẩu đả và một gã quỷ sứ tay to như chiếc xẻng sẽ túm cổ kẻ gây chuyện, mặc cho hắn giãy dụa, rồi ném ra khỏi lều. Thường thì hành động này được những tiếng hò hét ít nhiều vui vẻ hùa theo và ngay lập tức ban nhạc lại trỗi lên bài ưa thích Van-tswa-xu-fa... và mọi người ồm ồm hát theo.

Cuộc vui kéo dài như thế đến gần nửa đêm, rồi đèn tắt, không thùng bia nào được lăn vào nữa. Bọn mũi lõ, nếu chưa say mèm và chưa nằm lăn dưới gầm bàn, sẽ nện vại lên bàn đòi uống thêm. Nhưng không ai bán nữa. Giới hữu trách dẫu sao cũng đủ sáng suốt khi chỉ cho phép bán bia giới hạn, hẳn vì sợ bọn mũi lõ sẽ đập phá tan hoang thành phố. Các nhạc công cũng cất nhạc khí. Chỉ còn nghe tiếng rống và ợ của đám bợm nhậu. Cuối cùng chúng bò lết về nhà.

Bọn đệ cũng đi về luôn – bước rất thận trọng để khỏi giẫm lên phân hoặc bãi mửa – và đệ như bị mê muội. Thế mà bọn mũi lõ chịu nổi mười bốn ngày đấy. Lúc ấy chúng quên đi hoặc cố gượng xua đuổi nỗi buồn bực. Nhiều người, nếu còn đủ sức và tỉnh táo, tung mũ lên trời, hực lên những tiếng kêu ngắn và chói tai. Nhiều người leo lên ô-tô, lao vào cây và những người khác lấy thế làm khôi hài. Đó là thú tiêu khiển của bọn mũi lõ đấy. Đệ hỏi ông Shi-shmi nó có làm ông hài lòng thật không? Không, ông bảo, nhưng ông đi với đệ vì nghĩ đệ nên xem cho biết. Điều này thì ông có lý.

Một trò tiêu khiển công cộng khác diễn ra vào mùa đông, ông Shi-shmi bảo. Khác “Lễ hội trăng Thu” mà người ta có thể tránh bằng cách không tới đó, lễ hội mùa đông đa dạng hơn và không ai tránh được. Đệ không thoát khỏi phải dự đâu, ông bảo thế, nhưng không nói rõ hơn.

Bây giờ, khi đệ viết những dòng này thì “Lễ hội trăng Thu” đã qua rồi. Nó đến cũng nhanh mà chấm dứt cũng nhanh. Bọn mũi lõ gỡ lều bán bia và giải trí, chở đi đâu đấy. Còn lại là một bãi cỏ đầy rác rưởi bẩn thỉu. Chúng làm gì với rác rưởi này? đệ không biết. Có lẽ chúng tin rằng đằng nào trời cũng hầu như luôn mưa và nước mưa trong năm sẽ cuốn đi tất cả cho đến “Lễ hội trăng Thu” lần tới. Theo đệ quan sát thì bọn mũi lõ giải quyết rác rưởi trên đường phố bằng cách cho ô-tô chạy lên trên. Qua đó rác sẽ bị nghiền nát thành bụi và được gió cuốn đi. Vì thế trong không khí thường xuyên có bồ hóng bám dầu mà bọn mũi lõ đã quá quen. Đệ không ngớt ngạc nhiên rằng thú vật và cây cối chịu nổi thứ không khí này. Đệ đã suy nghĩ nhiều về chuyện này và tới hôm kia vẫn không có lời giải. Nhưng hôm kia đệ quen một người hết sức thú vị trong tiền sảnh khách sạn. Huynh hãy hình dung thế này: ở tiền sảnh của khách sạn, đúng ra đó là nhiều sảnh rất tráng lệ trải thảm, ngăn cách nhau bởi cầu thang và hành lang, có đầy những chiếc bàn con và ghế bành rất tiện nghi để khách sử dụng và các tiểu nhị tới lui hỏi han thường xuyên về yêu cầu của khách. Đệ thích ngồi ở đấy, vì luôn luôn có gì đó để quan sát và vì có nhiều người khác (cả phụ nữ) nữa nên dễ bắt chuyện.

Hôm kia đệ xuống sảnh, không còn chiếc bàn nào trống. Thấy ở một chiếc bàn có một người đàn ông đang ngồi đọc sách (ông ta to cao như hầu hết bọn mũi lõ, râu quai nón rậm rạp màu đen và có vẻ không thuộc loại mũi lõ thô kệch), đệ mới lại gần, khom lưng một phần ba và nói: “Thưa quan râu xồm đáng kính mà cháu chắt nhiều đời sau còn phải ca ngợi tính hiền từ và nhẫn nại, ngài cho phép kẻ vô tích sự này của một dân tộc xa xôi vóc người thấp bé được cùng ngồi đây và làm ô uế bầu không khí quanh chiếc bàn tuyệt vời này chứ ạ?”

Ông râu xồm hơi ngẩng lên, bối rối nhìn rồi nhe răng nói: “Xin mời”. Ông ta chỉ nói: “Xin mời”. Bọn mũi lõ không quen cách ăn nói lịch thiệp như ta, đệ biết từ lâu rồi. Đệ cũng biết rằng kiểu nói lịch sự của đệ thường bị bọn mũi lõ hiểu sai và coi thường, cho dù đệ đã tóm gọn khiến nó gần như biến thành xúc phạm, như huynh thấy trong câu đệ vừa kể. Tuy nhiên đệ không bỏ được thói quen lễ độ và cũng không muốn làm thế. Đệ không thể chối bỏ những dấu ấn đã khắc sâu trong tâm hồn đệ do được giáo huấn và qua những lời dạy cơ bản, bất di bất dịch của Khổng học. Thói quen này không thay đổi được thế giới ở đây, dĩ nhiên là thế, nhưng đệ cảm thấy thoải mái hơn khi nói năng lễ độ. Đệ cũng đã bảo nàng Pao-leng như thế khi nàng yêu cầu đệ ít nhất trong lúc ái ân hãy bỏ lối nói năng lễ độ cũng như trầm trồ khen ngợi chỗ này chỗ nọ trên thân thể nàng.

“Xin mời”, ông râu xồm nói và đệ ngồi xuống sau khi đã khom người thêm lần nữa. Khi tiểu nhị tới, đệ gọi một thứ thức uống đệ rất thích trong khách sạn này: một thứ nước màu đỏ thẫm tên là Kang-pa-li[5]. Mới đầu ông râu xồm vẫn tiếp tục đọc, nhưng khi đệ móc từ cái bao da nhỏ (quà chia tay của ông Shi-shmi) một trong những vật hiến tế thơm tho Da-ving-do mà đệ ưa thích ngậm vào miệng rồi châm lửa thì ông ta ngước mắt khỏi sách, hỉnh mũi hít một cách khoan khoái. Đệ rút một điếu Da-ving-do mời ông. Ông nhận, cám ơn và thế là bọn đệ liền trò chuyện. Sau đó bọn đệ còn uống một chai Mo-te Shang-dong.

Ông này – hiện còn ở khách sạn, đệ vẫn thường gặp – sinh ra ở một thành phố phía Bắc, là một bậc thầy về chăm sóc rừng và hiện đang dạy tại một học viện sư phạm ở đấy, nay ông tới Min-chen để nghiên cứu. Ông bảo đệ chắc chắn không phát âm nổi tên ông và lại càng khó có thể nhớ. Thành ra ông cho đệ biết tục danh của ông cho dễ. Bọn mũi lõ luôn có ít nhất hai tên: một tên công khai[6] và một tên, có khi hai, dùng gọi trong vòng gia đình. Tên công khai của ông Shi-shmi là “Shi-shmi”, tên gọi trong vòng gia đình là Ma-ksi-mai-lan; các người bạn âm nhạc gọi ông bằng tên này; nhưng mẹ ông gọi ông là “Ping-tsi”. Tên công khai của bà mẹ cũng là Shi-shmi, tên thân mật là Yo-cha-na[7], nhưng ông Shi-shmi gọi bà bằng . Nàng Pao-leng có tên thân mật là Ak-ga-ta[8], ngoài ra không còn tên thân mật nào khác nữa. Đệ gọi nàng là “Cây hạnh non mùa xuân trong nắng mai”, nhưng chỉ là thêm thắt thôi.

Ông râu xồm bảo để đơn giản đệ hãy gọi ông bằng tên thân mật Duy-Lân[9]. Đệ trò chuyện với Duy-Lân tử – ông có quyền được gọi như thế – về bồ hóng trong không khí.

Đó chính là vấn đề, một vấn đề mà bọn mũi lõ đã không nhận thấy trong một thời gian dài, Duy-Lân tử nói. Về câu hỏi của đệ rằng loài vật và cây cỏ có chịu nổi bồ hóng thường trực trong không khí không, ông chỉ có thể trả lời về phía cây cỏ thôi rằng dứt khoát không; còn về thú vật thì ông không rành. Cây cỏ không chịu nổi, hay đúng hơn không chịu nổi nữa. Thế rồi sao? đệ hỏi. Rất đơn giản, Duy-Lân tử đáp, cây cối sẽ còm cõi và héo tàn, cành rủ xuống, chết dần chết mòn rồi đổ; mới đầu là những cây lá hình kim (những cây này đã tới mức đó rồi), sau tới những loại cây lá thường. Nếu có dịp đệ cùng đi với ông ra khỏi thành phố tới một số vùng quê, ông nói, ông sẽ có thể chỉ đệ xem những chỗ lở loét trong rừng càng ngày càng lan rộng trong những năm gần đây. Chẳng bao lâu những chỗ như thế sẽ không đập vào mắt ta như những hòn đảo hay những mảng rừng thưa, mà trong vài năm nữa những chỗ còn lành lặn sẽ trơ trụi như những túm lông trong đám ghẻ lở hỗn loạn do bồ hóng gây ra, và cuối cùng mọi cây cối sẽ biến mất.

Ông bảo đệ cần hình dung rằng trong hàng chục năm, phải nói là gần trăm năm, bọn mũi lõ trong cơn cuồng điên về “tiến bộ” đã khinh suất trút mọi thứ rác rưởi lên rừng rậm, nói chung là lên tự nhiên. “Cây cối không biết kêu cứu”, Duy-Lân tử nói. “Chúng câm lặng phơ phất cành lá thế thôi. Chúng bị đày đọa không thương tiếc. Chúng can đảm cố chống cự. Nay đã đến lúc chúng kiệt sức rồi. Trong ít năm nữa có lẽ không còn rừng nữa.”

“Chà”, đệ nói, “thế người ta đã thực hiện những biện pháp gì rồi?”

“Về cơ bản chẳng có gì hết thảy”, Duy-Lân tử nói. “Tôi và những người suy nghĩ như tôi có lên tiếng đấy – đại diện cho cây cối, tạm gọi thế – nhưng bọn người làm ra chất bẩn có thế lực hơn, còn các thượng thư là bạn của chúng.”

“Ra thế”, đệ nói, “tại hạ hiểu. Nghĩa là các thượng thư thối nát?”

“Đúng vậy”, Duy-Lân tử đáp.

“Tại hạ cũng đã nghĩ thế đấy”, đệ nói và nhủ thầm: về điểm này thì thế giới không thay đổi. Các thượng thư thối nát, bài hát cũ mèm. Hẳn là điều xấu luôn tồn tại qua nhiều thế kỷ, giống như nhà cháy nhưng lũ rận vẫn sống sót.

“Đấy, đấy”, Duy-Lân tử nói. “Chỉ còn một niềm hy vọng duy nhất cho rừng thôi, đó là các thượng thư thích đi săn. Hầu như mọi thượng thư đều thích săn bắn”. (À há, ngay cả điều này cũng không đổi khác). “Săn bắn được xem là quý phái, là đặc quyền. Một ngày nào đấy”, Duy-Lân tử giơ tay nói, “khi khu rừng để các ngài đến săn cũng còm cõi tới mức không còn hươu nai cho các ngài bắn nữa, họa may lúc đó các ngài mới quan tâm đến việc cứu rừng. Nhưng lúc ấy e quá muộn rồi.”

Đệ thấy rất có cảm tình với Duy-Lân tử.

“Tại hạ biết”, đệ nói, “không còn hoàng đế hay vua chúa nào nữa để thống trách các thượng thư thối nát hay thỉnh thoảng ra lệnh chém đầu một vị...” Duy-Lân tử cười.

“Tại hạ có thể nói với túc hạ thế này”, đệ thêm, “khi một thượng thư thối nát bị chém đầu thì thường gây ra tác dụng thần kỳ. Tuy nó không thay đổi được thế giới, nhưng các thượng thư bớt thối nát được vài năm.”

“Ông nói như thể ông đến từ một thế giới khác vậy”, Duy-Lân tử bảo. Đệ không trả lời, đệ hết sức cố tránh lộ tông tích. Ông Shi-shmi đã biết, nàng Pao-leng cũng thế; tạm thời đệ muốn giới hạn trong hai người này thôi. Vả lại đệ chưa biết Duy-Lân tử đủ lâu để có được một kết luận thật sự về ông.

“Không”, ông nói tiếp, “không còn hoàng đế nào để thống trách các thượng thư thối nát nữa và viên thượng thư cuối cùng bị chém đầu... cũng lâu rồi. Đã một trăm năm mươi năm”.

“Quá lâu”, đệ nói.

“Ngoài ra chính hoàng đế cuối cùng này cũng là kẻ ngu xuẩn và kiêu ngạo”.

“Vi-li đần độn”, đệ nói.

“A, ông rành lịch sử nhỉ”, ông nói. “Hiện nay chúng tôi có một thể chế chính trị mặc nhận rằng nhân dân là hoàng đế”.

“Thế thì tại hạ có cảm tưởng”, đệ phản bác, “rằng chính thể chế chính trị này kém cỏi, có đúng vậy chăng?”

“Không thể nói vậy được”, Duy-Lân tử nghiêm trang đáp, “thể chế tốt, chỉ con người xấu thôi”.

“Các bậc hiền giả dạy”, đệ nói, “ý tại hạ muốn nói: các bậc hiền giả ngày xưa của tại hạ dạy rằng một thể chế chính trị chỉ thật sự tốt, khi nó giả định nhân dân là xấu xa”.

“Xấu xa hay ngu muội?”

“Các bậc hiền giả ấy dạy rằng đối với thể chế chính trị thì ngu muội cũng như xấu xa thôi”, đệ nói. “Nhưng lời dạy khôn ngoan như thế này là quá cổ xưa cho thế giới của các vị. Các vị chỉ trọng lời dạy khôn ngoan mới mẻ”.

Di Ngô trung hậu ơi, đệ xin lỗi vì vừa viết đến đây thì bị đứt đoạn. Có lúc đệ viết vài trang thư này trên phòng, lúc viết dưới đại sảnh của khách sạn. Những gì huynh vừa đọc thì đệ viết dưới sảnh. Duy-Lân tử tới, ngó qua vai đệ – ông vô tư lắm, phải chịu vậy thôi – và cảm thấy thú vị trước nét chữ đẹp nhưng dĩ nhiên hoàn toàn xa lạ với ông. Đệ bảo đệ viết cho người đồng bào ở xa, mà điều này là thật. Ông bảo chiều nay muốn mời đệ tới một phạn điếm có khiêu vũ. Đệ thấy cũng nên biết, nên đã khom lưng nhận lời. Vậy nên đệ chấm dứt thư này ở đây, niêm lại, ngày mai mới đem tới điểm liên lạc. Có thể sẽ có thư của huynh ở đấy. Duy-Lân tử đang chờ dưới kia. Đệ chào huynh.

Bạn của huynh, Cao Đài

❀ ❀ ❀

[1] Tác giả ám chỉ “Lễ hội tháng Mười” (Oktoberfest), lễ hội lớn nhất thế giới, diễn ra lần đầu tiên năm 1810 ở Munich và hàng năm được tổ chức trong hai tuần, từ cuối tháng Chín sang đầu tháng Mười. Gần đây mỗi năm có khoảng 6 triệu lượt khách (năm 2012: 6,4 triệu) - nhiều người đến từ Mỹ, Canada, Úc, Nhật... chỉ để tham dự lễ hội này - tiêu thụ 6 triệu lít bia, 500.000 gà quay, chưa kể bò, heo, xúc xích... doanh thu gần 500 triệu Euro!

[2] Y phục truyền thống của đàn ông bang Ba Yan (Bavaria) là áo da, quần cụt bằng da hoặc áo quần màu xanh lá cây, mũ gắn một chùm lông; của phụ nữ là váy màu sắc sặc sỡ, đeo tạp dề.

[3] Một khối lượng khổng lồ, vì mỗi vại sành bia (dung tích một lít) nặng khoảng 2 kg!

[4] Khẩu âm vùng Bavaria (một, hai, dzô!)

[5] Rượu mùi Campari.

[6] Tức là tên họ.

[7] Johanna (yô-ha-na).

[8] Agatha.

[9] Jürgen (duệc-gần).

Người dịch: Lê Chu Cầu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.