Thư gửi về Trung Quốc xa xưa

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thư thứ mười bốn

❊ ❊ ❊

(Thứ Ba, 10 tháng Chín)

Di Ngô quý mến,

Hôm nay đệ đã trò chuyện với nàng Pao-leng mà không cần phải đến gặp. Huynh ngạc nhiên? Đúng thế, không gặp mà vẫn trò chuyện được. Bọn người ở đây có một thứ máy giống cái hộp con với một cái đĩa có nhiều lỗ[1], ta thọc ngón tay vào lỗ rồi quay đĩa theo cách nhất định và ta sẽ nghe tiếng nói của người mà ta muốn nghe phát ra từ một vật hao hao giống hình thù một củ cải dị dạng. Chuyện nghe có vẻ thần kỳ và tuyệt diệu, nhưng về cơ bản không phức tạp bằng những tính toán của chúng ta mà nhờ đó đệ đã du hành được vào tương lai. Huynh hãy hình dung rằng họ đặt dưới mặt đất những đường dây bằng đồng, theo lời ông Shi-shmi giải thích, và nhờ những xung lực vô hình mà tiếng của người kia, hay của bất kỳ ai, được truyền đi, miễn người ấy cũng có chiếc máy với củ cải như thế (nó gọi là te-lei-fong). Những đường dây đồng này nối mọi nhà với nhau, tới cả những nước khác nữa. Tới cả Trung Quốc à? đệ hỏi. Đúng, ông Shi-shmi nói, tới cả Trung Quốc... nhưng đệ không thể nghe giọng nói của huynh qua củ cải và dây đồng, vì đối với thế giới này thì huynh đã – đệ xin huynh thứ lỗi – chết gần nghìn năm rồi. Cho nên đệ cũng không thể nghe qua chiếc máy hình củ cải này tiếng kêu dễ thương của con Tiểu Siêu yêu quý (vì người ta có thể truyền mọi thứ âm thanh, kể cả tiếng động), mà chỉ có thể nghe tiếng con mèo cái của nàng Pao-leng meo meo phía sau, trong lúc nữ chủ nhân của nó hạ cố trò chuyện với một kẻ không xứng đáng như đệ.

“Tại hạ đây”, đệ nói, “kẻ hèn này là Cao Đài, gia nhân và nô bộc không xứng đáng của quý phu nhân, viên quan bẩn thỉu chỉ đáng bị đạp văng khỏi ngưỡng cửa cao quý của phu nhân.” Đệ khom lưng hai lần rưỡi, cho dù nàng hoàn toàn không thể thấy đệ qua te-lei-fong.

Nàng cười nói: “A, ông khỏe chứ? Ông vẫn còn ở đây à?”

Đệ khom lưng lần nữa và đáp: “Vâng ạ, kẻ hèn này vẫn còn vinh dự được lưu lại cùng dưới một bầu trời với sự hiện diện tôn kính của phu nhân cùng con mèo cao quý và lấy làm sung sướng được nghe giọng nói ngọt như mật ong của phu nhân qua te-lei-fong. Phu nhân cho phép nô tài được hỏi giờ đây phu nhân có đang mặc chiếc áo đầm dợn sóng màu mè sáng chói không ạ?”

Nàng lại cười đáp: “Không. Hiện giờ tôi ăn mặc rất lôi thôi, lấm bê bết vì vừa thay đất cho mấy chậu hoa”.

“Tại hạ có được phép đặt ra một câu hỏi vô cùng ngạo mạn, dù kẻ hèn này còn lâu mới được quyền ấy, rằng con mèo của phu nhân khỏe hay chăng?”

“Mỹ tử[2], lại đây nào”, nàng Pao-leng nói – Mỹ tử là tên con mèo – “lại đây nói cho bác Cao Đài biết sức khỏe mày thế nào đi”. Lúc ấy con mèo không kêu, nhưng nàng Pao-leng bảo nó đang gừ gừ, đệ nghe thấy chăng? Đệ chẳng nghe thấy gì cả, nhưng vẫn nói có để nàng khỏi phật lòng. Rồi đệ bảo rằng thời tiết lúc ấy thật dễ chịu. Nàng Pao-leng bảo để ý thấy đệ chuộng rượu Mo-te Shang-dong, khi nào đệ lại có hứng uống một ly Mo-te Shang-dong thì cứ đến thăm nàng. Đệ cáo biệt bằng đủ thứ lời cung kính và khom lưng (tuy như đã nói, nàng không thấy được). Sau đó nàng hỏi bao giờ đệ tới?

Huynh có thể hình dung đệ sửng sốt thế nào về câu hỏi ấy. Nghĩa là huynh sẽ sửng sốt, vì đệ đã khá quen với những tập tục không mấy chính đáng của cái thế giới kỳ quái này, nên không quá ngạc nhiên mà chỉ ngẫm nghĩ thôi. Bọn mũi lõ không bao giờ có mặt tại nơi ta phỏng đoán. Vâng, bọn mình, huynh với đệ, đôi lúc cũng đi đây đi đó chứ (như đệ lúc này đây), nhưng ai cũng biết và nếu ta không qua đời trên đường đi thì lúc nào đấy sẽ quay về và lại có mặt. Ở đây khác hẳn. Bọn mũi lõ liên tục trên đường đi. Đệ thấy điều này qua ông Shi-shmi. Khi ông ở chỗ này, khi lại ở chỗ khác, lúc đi với ngôi nhà sắt ngược xuôi qua thành phố. Một ngày có hai mươi bốn giờ thì – ngoại trừ buổi tối ngủ – ông ở nhà không quá bốn giờ. Khi đệ hỏi thì ông trả lời là chạy theo công việc. Nghề của ông là nhà giáo kiêm thủ thư trong Viện Sư phạm ở Min-chen. Nghĩa là không bao giờ gặp ông tại nhà. Chẳng gặp tay mũi lõ nào tại nhà cả, chúng luôn trên đường, chạy tới chạy lui hoặc lái ô-tô hoặc ngồi trong những ngôi nhà sắt, nghĩa là chúng di chuyển không ngừng. Có thể điều này liên quan đến việc lạm dụng sữa bò, song cũng có thể với triết lý của chúng (hay đúng hơn: với sự mê tín của chúng) về sự tiến bộ. Khi muốn thăm ai, ta không thể cứ tự tiện đến căn hộ của người ấy như ta quen nghĩ; cứ tự tiện đến thì ngẫu nhiên lắm mới gặp (vì hoặc người ấy đi du lịch hoặc được tể tướng tiếp kiến, tuy chẳng mấy khi có chuyện này). Không, ta phải hẹn một thời điểm hết sức chính xác, chính vì thế nên người ta mới thiết kế ra thứ máy móc với đường dây đồng và củ cải.

Vì thế bọn mũi lõ mới có thứ dụng cụ chỉ thời gian nhỏ xíu đeo bằng dây ở cổ tay. Cũng có những dụng cụ to hơn chỉ thời gian đặt ở góc đường như thể pho tượng, hoặc treo trên tường căn hộ như những bức tranh. Chúng không ngừng mó máy những dụng cụ chỉ thời gian này, chỉnh lại, lên giây, để chúng chỉ thời gian thật chính xác.

Mặt trời mọc, mặt trời lặn, chính ngọ vân vân là những mốc quá không chính xác đối với chúng. Việc phân chia thời gian của chúng cực kỳ tinh vi. Như chúng ta, bọn mũi lõ cũng biết năm, tháng và ngày, nhưng chúng còn biết một thứ ở giữa gọi là tuần lễ, tương đương một phần tư tuần trăng. Chúng chia ngày không chỉ thành giờ mà còn thành một phần sáu mươi của giờ (“phút”) và thậm chí một phần sáu mươi của phút; khoảng thời gian nhỏ xíu này – có lẽ bằng cái đập cánh của con chim sẻ – gọi là “giây”. Các dụng cụ thời gian lớn hay nhỏ cũng đều chỉ hết những cái này. Ông Shi-shmi tặng đệ một cái và đệ đeo ở cổ tay trái. Ông cũng chỉ đệ cách xem thời gian.

Do đó khi đệ muốn thăm ai, hoặc ai muốn thăm đệ, đệ phải cầm lấy củ cải, quay những cái lỗ và hẹn với người ấy: ngày thứ mấy của tuần lễ (mỗi ngày có một tên gọi, xoay vòng khi hết tuần), khi dụng cụ thời gian chỉ bấy nhiêu giờ và bấy nhiêu phút. (Trừ chuyện chúng thừa thãi tính thêm cả bao nhiêu lần con chim sẻ vỗ cánh, phải công bằng nói rằng chúng không làm điều quá vớ vẩn).

Phần chia nhỏ thì bé hơn cái toàn thể, đó là một định luật cũ mèm. Cái toàn thể nguyên vẹn lớn hơn tổng của các phần. Đệ học được ở đây rằng điều này khá đúng với thời gian. Thời gian chia nhỏ trôi qua rất nhanh. Bọn mũi lõ đã chia nhỏ thời gian của chúng không thương tiếc, nên thời gian trả thù bằng cách trôi qua nhanh hết sức có thể. Và bọn mũi lõ luôn ngạc nhiên về điều này. Chúng luôn kêu ca rằng với chúng thì “thời gian có trong tay giống như nước chảy” – theo cách diễn tả của ông khách mà đệ không nhớ tên trong buổi tối ở nhà nàng Pao-leng. Chẳng lẽ không ai trong bọn chúng thấy cần suy ngẫm về điều này ư? Nhận ra mối tương quan nào có khó gì. Đệ đã nhiều lần nhận thấy ở đây người ta dùng câu nói sáo rỗng “... hắn luôn thừa thời giờ” để chê bai. Lúc ấy chẳng lẽ chính bọn mũi lõ không nhận thấy chút gì sao? Nhưng suy ngẫm không phải sở trường của bọn mũi lõ..., cho việc suy ngẫm này “chúng không có thời giờ”.

Ông Shi-shmi đã rất tư lự khi nghe những suy nghĩ này của đệ. Ông cho rằng có thể đệ đúng. (Dĩ nhiên đệ đúng!) “Tại sao”, đệ hỏi ông, “túc hạ không rút kinh nghiệm từ điều này?” Ông bảo chỉ một người thì không thể cưỡng lại việc chia nhỏ thời gian phổ biến, không thể thay đổi được quan điểm của người khác mà chỉ có hại. Vâng, có thể đúng. Ông cứ làm điều ông muốn. Đệ không đến đây để thay đổi thế giới này, mà để tìm hiểu nó và rút ra nhận thức cho thế giới của chúng ta.

Thành ra đệ đã hẹn với nàng Pao-leng sẽ đến thăm nàng vào ngày thứ ba tuần lễ sắp tới (nghĩa là một ngày trước tuần trăng đầu của tháng Chín), khi dụng cụ thời gian chỉ mười lăm giờ và ba mươi phút.

Ông Shi-shmi biết chuyện này. Chuyện hiểu lầm của đệ đã được giải quyết, vì chính đệ đã hiểu lầm quan hệ của ông Shi-shmi với nàng Pao-leng. Không có tình ý gì với nàng nên ông không cấm cản những người đàn ông khác đến thăm nàng. Một ngày nọ đệ đã thẳng thắn hỏi ông, ông bảo đệ hỏi thẳng như thế là tốt, vì ông sẽ rất tiếc nếu giữa bọn đệ có hiểu lầm hoặc thậm chí ghen tuông. Ông Shi-shmi bảo ông chỉ là bạn nàng Pao-leng thôi. Ông không có đòi hỏi gì đối với thân thể nàng. Ông nói thêm, không thể không nhận thấy giọng ông đượm chút cảnh báo, rằng nàng Pao-leng mang tiếng nguy hiểm cho đàn ông. Tuy nàng không phải là kỹ nữ thượng lưu bán thân nuôi miệng, như chính đệ có thể đã thấy, song nàng sống “một cuộc đời phóng túng” mà người khác không nhận ra ngay được chỉ vì nàng am hiểu mọi loại nghệ thuật, văn học cũng như triết học. Như ông đã nghe nói nhiều lần, nàng Pao-leng sành sỏi nhất trong mọi kiểu ái ân, song như đã nói, nàng không lấy tiền. Ông bảo nàng Pao-leng đã có hai đời chồng, nay nàng sống một mình và tự do ăn nằm với những người đàn ông nàng yêu thích.

Dĩ nhiên đệ nghe với lòng quan tâm, song không hoàn toàn tin vào lời cảnh báo của ông Shi-shmi – tất nhiên đệ không nói ra.

Một trong những “bạn trai” mới đây của nàng là một thi sĩ nổi tiếng của thành phố trong một thời gian dài. Nhà thơ này thậm chí đã sáng tác vài bài về nàng Pao-leng. Sau một lúc tìm kiếm ông Shi-shmi lôi ra quyển sách với những bài thơ này và đưa đệ đọc. Đệ không hiểu. Ông Shi-shmi bảo ông cũng không hiểu luôn. Không phải ông mua mà được nàng Pao-leng tặng. Ông đoán rằng tập thơ này bán ế (điều này chúng ta cũng từng biết về những sản phẩm của một số thành viên đáng kính trong Thi nhân hội hoàng gia “Nhị thập cửu đài tiển nham bích”) nên nhà thơ đã để lại cho nàng một số lượng khá lớn. Nếu đệ lại đến thăm nàng, ông Shi-shmi nói, chắc chắn cũng sẽ được tặng một quyển như thế này.

Âu đấy cũng là một cách để đem thơ đến với thiên hạ. Có thể khi trở về, đệ sẽ đề nghị điều này với Thi nhân hội tôn kính.

Nói chung đệ thấy điều ông Shi-shmi nói (với giọng cảnh báo) là đáng ngờ. Phải chăng chính ông đã làm thơ về nàng Pao-leng? và nàng đã khước từ những bài thơ ấy? Đệ nghĩ khác hẳn và rất có thể ông Shi-shmi sống tiết chế về mặt tình dục gần như một nhà tu hành, vì suốt hai tháng ở đây đệ chưa hề thấy một dấu hiệu nào chứng tỏ có một người phụ nữ trong cuộc sống của ông; những người như ông Shi-shmi – dù đệ quý ông tới đâu – thường có khuynh hướng không muốn người khác được hưởng những gì bản thân họ không được hưởng.

Chuyện này cũng thật kỳ lạ trong thế giới ở đây. Có tốt cho phong tục tập quán không? Đệ không rõ. Ở nước chúng ta thì phụ nữ là thê hoặc thiếp, là mẹ hoặc con gái, là thị tỳ hoặc đầy tớ. Huynh có thể nào hình dung là bạn của một người phụ nữ, giống như huynh là bạn của đệ được chăng? Ở đây khác. Phụ nữ ở đây tự cho mình quyền ăn nói và suy nghĩ như đàn ông, còn bọn đàn ông không chỉ nhắm mắt cho họ làm thế, thậm chí còn chấp nhận nữa cơ – đúng là bọn nhu nhược. (Dĩ nhiên đệ sẽ giấu nhẹm những suy nghĩ này trong lần trò chuyện với nàng Pao-leng vào tuần lễ tới).

Đệ sẽ một mình tới nhà nàng Pao-leng, không có ông Shi-shmi. Đệ cũng đã nói với ông rồi. Ông bảo nên như thế, một là vì hôm ấy ông lại “không có thời giờ”, hai là ông cho rằng đệ học tự đi lại trong thành phố là tốt. Nhân cơ hội này đệ cho ông biết về ý định sẽ dọn ra khỏi căn hộ của ông và tìm một căn hộ riêng cho thời gian còn lại của đệ ở đây, nếu ông không coi đây là sự xúc phạm, vì đệ nghĩ và cũng nói để ông biết, đệ muốn có được cái nhìn toàn diện hết mức có thể về thế giới này; còn nếu cứ ở đây, thoải mái dưới sự chăm sóc của ông, đệ sẽ bị ràng buộc vào ông, vào thói quen và quan điểm của ông. Không, ông không coi đó là xúc phạm, ông rất hiểu và cho thế là đúng. Nếu là ông, ông cũng sẽ làm như vậy. Tình bạn của bọn đệ không vì thế mà đoạn tuyệt, vả lại càng tốt, vì sắp tới bà mẹ góa bụa của ông sẽ đến thăm ông trong vài tuần như mọi năm (mẹ của ông Shi-shmi sống tại một thành phố khác ở phía Bắc), và bà có thể ở trong căn phòng hiện đang dành cho đệ. Tuy nhiên, ông nắm tay đệ nói thêm, nếu đệ quyết định khác và muốn ở lại với ông cũng vẫn được, vì lúc ấy ông sẽ nhường phòng mình cho mẹ và ông sẽ ngủ tại đi-văng trong phòng khách.

Đệ nói chúng ta sẽ cân nhắc mọi chuyện, nhưng trong thâm tâm đệ đã quyết định sẽ tự lập hơn đôi chút. Như vậy đã sắp đến lúc chấm dứt những ngày đệ lưu lại trong ngôi nhà này. Nhưng trước mắt, mọi suy nghĩ của đệ tập trung vào buổi thăm viếng nàng Pao-leng sắp tới và chúng rất thú vị.

Tuy vậy đệ vẫn không quên con Tiểu Siêu dễ thương và luôn vô cùng yêu quý nó. Nhớ kể cho đệ về nó. Ngoài ra huynh không cần viết nhiều về những chuyện xảy ra trong gia đình đệ. Như thế thư của huynh sẽ ngắn gọn hơn. Khi nào trở về, đệ biết các nhạc mẫu có mập hơn không và một nàng thiếp có ngứa ngón chân không cũng đâu có muộn. Nếu chính thất của đệ vẫn không khỏi mụn nhọt thì đành chịu vậy.

Đệ ôm bằng hữu thân thiết xa xăm.

Cao Đài

TB: Rất tiếc ông Shi-shmi vẫn chưa quên ý định muốn mượn chiếc “la bàn-thời gian” của chúng ta. Sáng sớm nay ông lại nhắc chuyện ấy.

❀ ❀ ❀

[1] Máy điện thoại loại xưa.

[2] Chú thích của tác giả: “tử” ở đây có nghĩa là “thầy”.

Người dịch: Lê Chu Cầu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.