(Thứ Hai, 26 tháng Tám)
Di Ngô quý mến,
Từ khi đệ biết mình hiện không ở Trung Quốc và vì tính toán sai nên đã tới một đất nước xa xôi thì đệ thấy nhiều điều sáng tỏ hơn. Chẳng hạn dù có muốn thì chính bọn mũi lõ cũng không thể bạt sạch những ngọn đồi quanh đế đô tôn quý và san bằng cả nước của chúng ta được. Ông Shi-shmi (mà đệ đã có thể trò chuyện khá lưu loát không kém trò chuyện bằng ngôn ngữ của chúng ta; trong việc đọc đệ cũng tiến bộ ghê gớm) chưa từng tới Trung Quốc – mà ông gọi là Chi-na (người khác gọi là Si-na) – và không biết ngày nay ở đấy như thế nào. Nhưng ông có tin tức về nó. Mỗi ngày ông Shi-shmi nhận được một tờ báo giao tận nhà. Trong tờ báo này mấy ngày trước có một phóng sự về tình hình hiện nay ở Trung Quốc. Có cả hình ảnh (trang trí rất đẹp). Qua đó đệ rất ít hy vọng rằng ở Chi-na vấn đề khác ở đây. Song ít nhất mũi của bọn cháu chắt chúng ta ở đó không lõ. Không lõ. Theo lời ông Shi-shmi thì cả những ngọn đồi quanh kinh đô Khai Phong tôn kính (kinh đô mới hiện nay tên là Bắc Kinh) cũng không bị bạt đi và nước Hoàng Hà vẫn chảy về hướng Đông như nghìn năm trước.
Ông Shi-shmi nói không thể đi tới đó vì những lý do chính trị, chưa kể chuyến đi rất lâu dài và hết sức tốn kém. Nhưng đó không phải là điểm quyết định. Đệ tiết lộ điều này để huynh rõ: ông Shi-shmi không giàu có gì, ông ăn lương của một học viện – nó chỉ hơi hơi giống Thi nhân hội hoàng gia “Nhị thập cửu đài tiển nham bích” thôi – nên thu nhập mỗi năm chỉ suýt soát số tiền đệ bán năm thoi bạc. Ông sống không tệ, nhưng để làm một chuyến du hành sang Trung Quốc thì không dễ dàng. Với tất cả thận trọng để ông không cảm tưởng rằng đệ tự thị hơn ông vì năm mươi thoi bạc – cho dù đệ cao hơn hẳn ông về phẩm trật, điều này hai ta biết với nhau thôi – đệ đã nhờ ông tính xem bốn mươi tám thoi bạc còn lại được bao nhiêu tiền ở đây. Ông tính ra một món tiền khổng lồ, thừa cho một chuyến đi Trung Quốc, thậm chí đủ để mời ông cùng đi. Sau khi từ chối lấy lệ cho lịch sự, ông Shi-shmi nhận lời, bù lại ông có thể đền đáp bằng cách tiếp tục cho đệ ở nhờ.
Đệ thận trọng thăm dò phản ứng của ông đối với một đề nghị khác: có nên mời nàng Pao-leng cùng đi không. (Số tiền kia vẫn thừa cho chuyện này). Ông Shi-shmi không thay đổi nét mặt. Ông bảo đệ phải tự hỏi nàng thôi. Nhưng ông thật tâm nghĩ gì, dĩ nhiên đệ không thể đọc được trên gương mặt ông.
Song tất cả những điều này chỉ là thứ yếu, vì khó khăn nhất là tình hình chính trị ở Trung Quốc và thực tế là dù muốn người ta cũng không thể dễ dàng đi từ đây đến đó.
Sẽ rất khó để huynh hiểu điều này. Đệ đã chăm chú nghe ông Shi-shmi nhiều buổi tối. Ông là nhà sử học và đã giải thích cặn kẽ cho đệ nguyên do nào đã đưa tới tình hình chính trị không thuận lợi này ở Trung Quốc (đệ đã kể điều này cho huynh chưa? Từ đó đến nay đệ đã viết quá nhiều bức thư dài – hẳn là gấp mười lần huynh viết cho đệ đấy, bạn yêu quý ạ – khiến đệ không còn nhớ chi tiết điều gì đã kể, điều gì chưa). Đệ sẽ cố gắng tóm gọn phần nào những điều ông Shi-shmi đã kể trong nhiều buổi tối – rất liên tục và rút ra từ sự hiểu biết đầy đủ của ông.
Lại một lần nữa đệ không biết nên bắt đầu từ đâu. Đệ bắt đầu với cách tính niên lịch của bọn mũi lõ vậy. Khoảng một nghìn năm trước thời chúng ta (tức là gần hai nghìn năm trước thời ở đây), nghĩa là khoảng cuối triều đại Tiền Hán và – nếu đệ tính đúng – không lâu trước thời gian tên Vương Mãng soán ngôi thì nhà tiên tri[1], người mà bọn mũi lõ tin như ông thánh đã ra đời. Cách tính niên biểu của chúng bắt đầu với sự ra đời của nhà tiên tri này. Ông Shi-shmi cũng cho đệ biết nhiều điều về ông này – theo cách nào đấy ông ta giống Đức Thánh nơi đồi hạnh của chúng ta, nhưng đệ sẽ kể chuyện này trong một bức thư riêng.
Khoảng cùng thời nhà tiên tri này ra đời, ở một thành phố lớn xa Min-chen về phía Nam, bên kia rặng núi[2], có một hoàng đế trị vì, người mà ông Shi-shmi coi và kính trọng như đấng đã thành lập nên thứ thể chế tồn tại mãi tới gần thời của ông hiện nay. Hoàng đế này tên là Hao-go-shu[3] và thành phố nọ tên là Lôm[4]. Thành phố này hiện nay vẫn còn và vẫn tên là Lôm, song người dân ở đấy gọi nó là Lôma. Một rặng núi cao – đúng ra là ba dãy núi – ngăn cách Ba Yan với đất nước của thành Lôm, đất nước này cũng ở cạnh biển. Ở đấy ấm và ít mưa hơn đây. (Thời tiết tốt như hôm bọn đệ đến nhà nàng Pao-leng – nó đã cho phép nàng mặc chiếc váy dợn sóng sặc sỡ vô song khiến nhìn thấy được thân thể cũng vô song không kém của nàng – chỉ là tạm thời thôi. Ông Shi-shmi gọi thời tiết đẹp đột ngột này là Tsi-wi-shen-cho[5]. Bốn ngày nay trời lại mưa. Những cành cây hạt dẻ trước nhà oằn trong gió. Chim chóc lặng câm. Shai-ve-ta.) Đệ hỏi ông Shi-shmi tại sao bọn mũi lõ (dĩ nhiên đệ không dùng kiểu diễn đạt này trước mặt ông) lại định cư ở cái vùng Shai-ve-ta này mà không tại đất nước có thành Lôm?
À, tại vì xưa kia đế quốc Lôm của hoàng đế Hao-go-shu, hay đúng hơn của những người kế vị ông, đã gặp phải một vấn đề khiến nó bị chấn động. Để làm sáng tỏ, ông phải nói dông dài về thời trước nữa – giống như đệ hiện đang làm đây. Tầm quan trọng của hoàng đế Hao-go-shu nằm ở chỗ ngài đã kiến lập đế quốc lâu dài đầu tiên. Trước ngài tuy đã từng có những đế quốc khác lớn hơn, nhưng không tồn tại lâu. Nói chung nó giống hoàn cảnh nước ta trước thời Tần Thủy Hoàng hoặc trước nữa: một loạt thành quốc ít nhiều quan trọng hình thành quanh trung tâm một thành phố lớn; chúng cạnh tranh với nhau, tuy thỉnh thoảng hòa hiếu, nhưng phần lớn tranh giành quyền bá chủ. Thành phố Lôm, mới đầu không đáng kể, nhưng rồi nhờ năng lực và sức mạnh luân lý của người dân đã dần dần giành được vai trò thống trị; mới đầu nó lần lượt thôn tính những thành phố lân cận, rồi tới những thành phố xa hơn, cuối cùng khi Hao-go-shu nắm quyền, ngài hợp nhất tất cả vùng đất thời bấy giờ của bọn mũi lõ thành một vương quốc, vương quốc Lôm. Tầm quan trọng của hoàng đế Hao-go-shu – theo đệ thì dường như việc nghiên cứu về cuộc đời và vai trò của Hao-go-shu là lĩnh vực đặc biệt của ông Shi-shmi – không phải với tư cách tướng chỉ huy tác chiến, anh hùng và tổng thống lĩnh quân đội, mà là người gìn giữ hòa bình. Ông Shi-shmi nói cá nhân ngài là một người mộc mạc và khô khan nên các nhà sử học không thích nghiên cứu, vì việc chăm lo giữ gìn trật tự không hấp dẫn bằng hành động của những kẻ làm mọi chuyện loạn lên (hệt như ở ta). Hoàng đế Hao-go-shu đã thống nhất đế quốc, xây dựng hệ thống hành chính, ban bố luật lệ công bằng, điều chỉnh hệ thống tiền tệ và buôn bán, tiễu trừ bọn cướp và hải tặc – hoàn toàn giống Tần Thủy Hoàng của chúng ta – và xây dựng một biên giới vững chắc chống lại bọn rợ phương Bắc – cũng như Tần Thủy Hoàng.
Tất cả những chuyện này xảy ra, như đã nói là vào thời ở ta tên soán ngôi Vương Mãng lật đổ nhà Tiền Hán. Thành ra hồi đó và sau đấy một thời gian dài có hai đế quốc, đế quốc Trung Hoa cao quý của chúng ta và đế quốc Lôm của bọn mũi lõ mà không đế quốc nào biết đến sự hiện hữu của đế quốc kia trong suốt nhiều thế kỷ. Đệ mới hỏi cái gì ở giữa hai đế quốc này? Ông Shi-shmi bảo ở giữa hai đế quốc này là núi, biển và những vùng đất hồi đó hiểm trở, dân cư thưa thớt của những tộc người kém văn minh, nghĩa là chẳng có gì hết thảy.
Vâng, nhưng tiếp tục thế nào? Hoàng đế Hao-go-shu đã sáng lập nên một kiểu tương tự như triều đại, nếu ta không quan niệm quá hẹp về khái niệm triều đại, kéo dài tới gần thời đại của ông Shi-shmi. Quốc huy của đế quốc coi như do Hao-go-shu dựng nên là một con chim ưng (sau đổi thành chim ưng hai đầu), với quan niệm không lay chuyển là quyền lực của hoàng đế do được trời ban. Điều đó – về cốt lõi – là cột trụ của quyền lực. Thân phụ ông Shi-shmi còn sinh ra dưới sự trị vì của hoàng đế cuối cùng theo truyền thống này, đến thời ông không còn nữa. Nói thêm: đệ không mấy thông cảm khi ông Shi-shmi tỏ ra rất bất kính lúc nói tới vị hoàng đế cuối cùng, đế hiệu Wi-li[6], mà ông gọi là hoàng đế ngu xuẩn. Chính vì sự ngu xuẩn của ông ta, theo lời ông Shi-shmi, mà đế chế đã suy vong – song, ông bổ sung rằng công bằng mà nói thì chẳng qua thời gian để đế quốc suy vong đã chín muồi. Ngay cả một minh quân có lẽ cũng chỉ có thể kéo dài sự suy vong này thêm một thế hệ là cùng.
Nhưng hãy trở lại với đế quốc của hoàng đế Hao-go-shu: nó tồn tại dưới thể chế nguyên thủy được năm trăm năm, tuy chỉ sau ba trăm năm – nghĩa là cùng khoảng thời gian nhà Đông Tấn ở ta – đế quốc có hai hoàng đế tranh nhau quyền bính, một bên Đông và một bên Tây[7]. Người nào cũng tự cho mình mới thật là chân mạng hoàng đế; chẳng khác ở ta chút nào.
Nhưng vào quãng thời gian đế quốc Lôm chia hai – sau đó dẫn tới một chuyển biến theo đệ là không lành mạnh trong lịch sử bọn mũi lõ, đến nay vẫn chưa kết thúc – từ phương Bắc, tức là từ những xứ sở có mưa, những bộ tộc da trắng, tóc màu nhạt, hoàn toàn xa lạ với người dân thành Lôm, đã kéo tới đây vì họ cũng muốn dự phần trong cuộc sống tại những nước có nắng ấm, điều không ai có thể trách cứ. Đệ không muốn kể chi tiết làm gì, mà thật ra chính đệ cũng không nhớ nổi trong vô vàn điều ông Shi-shmi đã giải thích cho đệ. (Ông còn dùng cả những bản đồ, những hệ phả và những diễn tả bằng hình ảnh để thuyết minh. Trong số những hình ảnh ấy ông cho đệ xem một bức hình phó bản của hoàng đế Hao-go-shu, nghĩa là hình vẽ từ hình, đúng hơn: hình của một pho tượng. Ngay hoàng đế Hao-go-shu đã rành rành mũi lõ rồi). Đệ không đi vào chi tiết. Khi các bộ tộc da trắng phương Bắc đổ về Lôm, đế chế phía Tây cực kỳ lộn xộn rồi suy vong, đế chế phía Đông cũng tàn lụi rồi trở thành nạn nhân trước cuộc tấn công vũ bão của một bộ tộc[8] mà ông Shi-shmi bảo rằng chúng ta có biết, vì chúng thân thuộc với những bộ tộc man rợ phía Tây Bắc xâm lược chúng ta vào cùng thời đó. Tộc người da trắng phương Bắc tái lập đế chế Tây Lôm – dưới dạng thức thay đổi – vào khoảng giữa triều đại Đường (chính xác hơn: khoảng thời hoàng đế Huệ Tông trị vì). Các lãnh chúa trên danh nghĩa vẫn suy tôn hoàng đế, nhưng càng ngày càng trở nên độc lập và dựng biên cương phân định ranh giới lãnh thổ của mình. Do đó ở đây, phía Bắc ba rặng núi, có một vương quốc hùng mạnh, ở phía Tây là một vương quốc khác nữa, một vương quốc khác trên một hòn đảo ở biển phía Tây[9], nhiều vương quốc ở phía Bắc, vân vân. Rồi các vương quốc này càng ngày càng xa cách nhau về ngôn ngữ và phong tục; họ không có một lịch sử thống nhất đúng nghĩa, tuy có thể nói những tư tưởng về nhà nước của Hao-go-shu vĩ đại vẫn tiếp tục phát triển và tác động dưới nhiều dạng khác nhau.
Đệ đã suy nghĩ khá lâu rằng nên hiểu thế nào về sự khác biệt lịch sử giữa vương quốc chúng ta và lịch sử vùng này của thế giới. Có lẽ huynh nên hình dung thế này: lịch sử Trung Quốc tôn quý của chúng ta có thể so sánh với vận mệnh một gia đình lớn, phân thành nhiều chi mà các thành viên tuy thường cãi cọ lâu dài nhưng vẫn cư ngụ trong một ngôi nhà rộng rãi, thông thoáng, cùng nói một thứ tiếng và không bao giờ quên – dù có nhiều cay đắng – rằng họ cùng thuộc về một gia đình. Còn lịch sử thế giới ở đây giống cuộc sống trong một lữ quán: mỗi ông khách ngụ riêng biệt trong một căn phòng, tất cả chỉ liên hệ với nhau một cách ngẫu nhiên, không ai biết người khác đến từ đâu, không ai hiểu người khác và ai cũng chỉ tìm cách trục lợi.
Theo đệ thấy thì rõ ràng sự phát triển lịch sử như thế này của bọn mũi lõ – đệ chắc chắn đó là do thiên bẩm của chúng – khiến chúng không thành công về văn hóa. Còn việc chúng không ngừng đam mê thay đổi là nguyên nhân hay hậu quả của sự phát triển này thì đệ không dám nói. Song đệ không hoài nghi rằng tình trạng văn hóa mọi rợ hiện nay của chúng là hậu quả của đường lối hướng nội nhỏ nhen mà dường như chúng vẫn thực hiện cho đến ngày nay.
Nhưng rồi sao nữa? Khoảng năm trăm năm trước – nghĩa là năm trăm năm sau thời đại chúng ta và năm trăm năm trước thời đệ đang sống ở đây – lại có sự chuyển biến trong lịch sử bọn mũi lõ. Một người đàn ông[10] ương ngạnh từ một vương quốc phía Nam đã căng buồm đi về hướng Tây và phát hiện rằng ngoài Trung Quốc và những đất nước ở đây của bọn mũi lõ, còn một miền đất khổng lồ mà tới lúc đó chưa ai biết đến. Người ta gọi vùng đất trải dài qua nhiều đại dương từ Bắc xuống Nam này là Am-mei-ca và số dân bản xứ ít ỏi ở đấy đã bị bọn mũi lõ tiêu diệt trong thời gian ngắn. Ông Shi-shmi bảo đến nay ông vẫn vô cùng xấu hổ về cách bọn mũi lõ xử sự thời bấy giờ. Ông đọc cho đệ nghe những tường thuật thời bấy giờ về điều mà bọn mũi lõ gọi hoa mỹ là “chinh phục và khai phá thuộc địa”. Đệ phải nói với huynh: đúng là nhạo báng. Chúng ta, con dân Trung Quốc, dĩ nhiên chẳng phải thánh nhân đức hạnh và khi đọc lại những gì các hoàng đế và nguyên soái ngày xưa gây ra cho những tộc dân bên kia Trường Thành ta cũng rợn tóc gáy. Nhưng những chuyện này chẳng thấm tháp gì so với hành động của bọn mũi lõ đối với thổ dân Am-mei-ca. Nếu trời cao công bình thì bọn mũi lõ không thể hạnh phúc được và dường như điều này quả đã không đem lại cho chúng hạnh phúc.
Sau khi thổ dân Am-mei-ca bị tiêu diệt, con cháu bọn mũi lõ ở đây liền di dân tới đó. Đất đai hoặc khí hậu ở đấy dường như vô cùng tốt cho sự phồn thực, nên bọn mũi lõ sinh sôi nảy nở như thỏ và bây giờ, theo lời ông Shi-shmi, chỉ sau năm trăm năm số mũi lõ ở Am-mei-ca nhiều hơn tại cố hương của chúng. Ông Shi-shmi đã có nhiều dịp sang Am-mei-ca quan sát. Ông bảo: do đất nước ấy rộng lớn và khả năng để phát huy tài năng là vô cùng tận nên những nét đặc trưng của bọn mũi lõ phát triển đặc biệt mạnh ở Am-mei-ca, đó chính là tiến bộ – tiến xa khỏi mình. Sự to lớn, ồn ào và hôi hám ở Min-chen đã khiến đệ sợ hãi, song chẳng thấm thía gì với sự to lớn, ồn ào và hôi hám ở Am-mei-ca. Ở đó có những tòa nhà cao đến nỗi xứng đáng được gọi là “Chọc trời”. Chúng cụm lại chằng chịt trông kinh hãi không tưởng tượng nổi. Giữa những tòa nhà này – không khác những hẻm núi – tiếng ồn rầm rập cả đêm lẫn ngày. Cuộc sống – nếu có thể gọi đó là đời sống – sôi sục có thể nói từ tầng dưới tới tầng trên, rồi tầng trên nữa, chồng chồng lớp lớp; ai bị đày đọa phải sống bên dưới sẽ chẳng bao giờ được thấy bầu trời, còn ai sống trên cao cũng chỉ thấy bóng dáng như hơi nước của bầu trời. Những thành phố cuộn vào nhau như những con trăn khổng lồ hóa thạch thì vô số. Ngày nay giới cầm quyền không kiểm soát chúng được nữa, ở đó chỉ còn bạo lực và khủng bố. Ông Shi-shmi bảo đệ nên mừng vì chỉ tới với thế giới này tại Min-chen, chứ không phải một trong những thành phố nọ ở Am-mei-ca.
Tất nhiên sự phát triển của vương quốc nọ bên kia đại dương không thể không ảnh hưởng đến lịch sử các nước ở đây. Ông Shi-shmi bảo rằng trong một thời gian dài người ta ngồi ỳ trong những căn phòng chật cứng của vương quốc Lôm già nua suy tàn, coi Am-mei-ca chỉ là thuộc địa, xem thường việc nó nỗ lực vươn lên thành cường quốc. Nhưng khoảng bảy mươi năm trước ở đây, tại “Cựu thế giới” này (như cách ông Shi-shmi gọi quê hương của bọn mũi lõ) lại nổ ra chiến tranh[11], phần nào do hoàng đế Wi-li ngu xuẩn nọ gây ra. Cuộc chiến tranh này nhằm mục đích gì? Đệ hỏi. Thật ra không một ai biết rõ tại sao, giống như người ta không hiểu tại sao phụ nữ và trẻ con hay cãi cọ lẫn nhau. Đúng ra chẳng vì chuyện gì cả, nhưng đã khiến hàng triệu người chết. Các quốc gia và vương quốc đã đua nhau chế ra những cỗ máy giết người như rạ, ngày một thêm tàn bạo. Có những cỗ máy đủ nghiền nát cả trăm hoặc nghìn lính đối phương một lúc. Cuộc chiến kéo dài bốn năm, sau đó chẳng còn tên mũi lõ nào sống sót mà không què chân, cụt tay hoặc mất một mắt. Sau đó tới cuộc chiến tranh thứ hai do một ngụy hoàng đế[12] gây ra, y độc ác đến nỗi ông Shi-shmi muốn đối xử với y theo cách tệ hại nhất mà một nhà sử học có được: ông cự tuyệt không nhớ tên y. Thuở nhỏ ông Shi-shmi đã sống qua cuộc chiến tranh thứ hai này. Ông kể nhiều chuyện tàn bạo mà đệ không muốn thuật lại ở đây. Di Ngô thân mến, huynh biết chiến tranh mà, đệ cũng thế. Trong một nghìn năm qua chúng chẳng đổi khác gì, nguyên nhân ở đây cũng giống ở ta thôi: do bọn ngu xuẩn nhiều thêm hoặc những kẻ cầm quyền ngu ngốc thêm.
Một bên tham gia cuộc chiến này khi lâm vào thế kẹt và có nguy cơ sẽ thua, đã cầu cứu Tổng lãnh chúa Am-mei-ca. Lính Am-mei-ca tức khắc đến (bằng tàu vượt đại dương), với binh lực mới quyết định cuộc chiến tranh – và ở lại. Bao giờ chả thế. Những chuyện như thế này chúng ta cũng đã biết cả...
Ông Shi-shmi bảo họ không ở lại theo nghĩa những người di dân thời bấy giờ quay trở lại “Cựu thế giới”. Họ chỉ để lại sứ thần, toàn quyền và thương nhân; họ đã thuộc địa hóa “Cựu thế giới” và bây giờ – trước khi người ta kịp hiểu – “Cựu thế giới” chẳng là gì khác hơn một thuộc địa của Am-mei-ca hùng mạnh. Về điều này, ông nói, những người có suy nghĩ ở Ba-Yan và mọi xứ khác đều rõ cả... có điều người ta không thích thừa nhận bị lệ thuộc nên trả thù lại bằng cách bám vào truyền thống và cho rằng “Cựu thế giới” tài giỏi hơn.
Nó không khác thái độ của một quý tộc sa sút đối với một kẻ giàu mới nổi mà ông ta phải gả con gái để khỏi chết đói. Trước mặt thì họ trò chuyện với kẻ giàu mới này như người ngang hàng, nhưng với nhau thì họ vẫn cao ngạo như xưa. Và kẻ giàu mới lại ngây thơ lóa mắt trước vẻ vinh quang bám đầy bụi của một cái vỏ rỗng tuếch.
Nhưng tất cả những điều này, ông Shi-shmi nói, chỉ là một mặt thôi. Còn một mặt khác: đó là có một vương quốc nữa vì thế giới đã phân chia (quả đất bị chia ở giữa như một quả táo, chỉ có điều không rõ ràng như ở một quả táo thôi). Vương quốc này nằm phía Đông của “Cựu thế giới” – nhưng không ngăn cách bởi biển – tuy cũng khá lâu đời, lâu đời hơn Am-mei-ca, nhưng cũng chỉ mới thành cường quốc được hai thế hệ thôi. Đó là một quá trình hết sức phức tạp và ở nước Am-mei-ca phía Tây người ta không ngớt vỗ trán sao họ lại có thể vấp hết sai lầm này tới sai lầm khác, không ngăn chặn vương quốc của bọn Lu-sen[13], để chúng trở thành cường quốc. Ba mươi năm trước[14] còn có thể ngăn chặn, chứ bây giờ không được nữa rồi. Bây giờ hai vương quốc Am-mei-ca và Lu-sen thù địch nhau và trang bị tận răng. Nước nào cũng muốn tấn công nước kia càng sớm càng tốt, nhưng không dám, vì không đoán được thực lực đối phương. Thành ra hai gã khổng lồ này đứng nhe răng dọa nhau, thỉnh thoảng đá ống chân nhau, nhưng không quá mạnh và nhất là luôn phải cảnh giác không được quay lưng lại, kẻo bị đối phương nhân cơ hội choảng vỡ sọ. Song choảng vỡ sọ chưa phải nghiêm trọng. Bọn mũi lõ có những vũ khí nguy hiểm hơn nhiều. Cung tên đã được thay bằng những roi lửa tầm xa có khả năng xuyên thủng ngay cả những kẻ ở xa. Những roi lửa này to như voi, gắn trên ô-tô bọc thép, quật một cái có thể nghiền nát cả một dãy nhà ở xa. Đội ơn Trời là đệ không phải chứng kiến và trải qua những chuyện này, mà được ông Shi-shmi cho xem một quyển sách hình về cuộc chiến tranh vừa qua và giải thích những chi tiết kinh hoàng ấy. Thế mà so với loại roi lửa hiện tại thì những vũ khí sử dụng trong cuộc chiến tranh này chỉ đáng là đồ chơi thôi đấy.
Nhưng gần cuối cuộc chiến tranh, tính từ thời điểm đệ viết đây là khoảng bốn mươi năm trước, người ta đã nghĩ ra một điều hết sức kinh tởm. Để giải thích cho huynh, một lần nữa đệ phải dông dài. Huynh tưởng tượng nhé: ta cắt một thanh gỗ làm đôi, rồi vứt một nửa đi. Thế là còn một thanh gỗ dài bằng nửa lúc đầu. Bây giờ lại cắt nữa thì đương nhiên chỉ còn thanh gỗ dài bằng một phần tư. Cứ tiếp tục cắt thì thanh gỗ sẽ càng ngắn thêm. Huynh có thể chia mãi trong ý tưởng, nhưng trên thực tế sẽ tới một lúc thanh gỗ chỉ còn bằng một phần vạn cái tai con chấy và người ta chỉ có thể chia thêm một lần nữa thôi – lúc ấy sẽ có một tiếng nổ khủng khiếp. Tại sao? Về chuyện này bọn mũi lõ có nhiều lý thuyết viết thành những pho sách dày cộm. Ông Shi-shmi, không phải chuyên gia trong lĩnh vực này, đã thử giải thích cho đệ những gì đệ vừa thuật lại ngắn gọn cho huynh. Nếu khi trở về cố hương nghìn năm xa cách của chúng ta mà đệ còn nhớ được những giải thích này thì đệ sẽ thuật lại cho huynh vào vài buổi chiều hè. Hôm nay huynh hãy tạm hài lòng rằng nó như thế đấy.
Nhưng chia nhỏ một thanh gỗ (hoặc một hòn đá hay một chậu nước) cho đến khi nó nổ vang rền để được gì chứ? Theo suy nghĩ của chúng ta, của huynh, của đệ thì chẳng được gì hết thảy. Trong mắt bọn mũi lõ lại không thế. Chúng nghĩ ngay rằng với tiếng nổ gây ra khi chia nhỏ một phần vạn cái tai con chấy thì chúng có thể thiết kế một quả bom cực kỳ đáng sợ. Và cuối cùng người ta đã ném những quả bom như thế hẳn vì tò mò xem điều gì sẽ xảy ra. Sự tò mò này đã khiến hàng nghìn người chết trong nháy mắt, hai thành phố[15] bị san bằng. Không còn được một xác người, chỉ có những núi tro dị hình dị dạng. Ông Shi-shmi cũng cho đệ xem những hình ảnh này.
Có thể ta liền nghĩ rằng bọn mũi lõ sẽ kinh sợ, không dám tò mò kiểu này nữa. Nhầm to. Chúng còn chế những quả bom tinh vi hơn dựa trên phương pháp tách chia vừa nói. Ngày nay chúng có thể tiêu diệt nhiều quốc gia trong một cái phẩy tay và hắt hết nước biển lên đất liền. Chúng không, hay chưa thử đó thôi.
Bọn tướng tá của hai cường quốc lăm lăm dùi cui và nhe những cái răng như thế ra với nhau. Khi nghĩ đến quân sự thì người ta không coi lý trí là phẩm chất hàng đầu, thành ra huynh có thể lường được cái thế giới ở đây phải giữ thăng bằng trên một sợi dây mong manh cỡ nào phía trên một vực thẳm.
Đệ đập tay lên bàn – rất là bất lịch sự, nhưng không phải nhắm vào ông Shi-shmi – và nói với ông: chẳng lẽ không thể tước thứ vũ khí đáng sợ này khỏi bọn tướng tá sao? Chẳng lẽ những người có suy nghĩ không đứng cả lên hô lớn: bây giờ phải chấm dứt... Ái chà, ông Shi-shmi nói, không đâu – điều này chỉ có thể được khi hai bên, đám tướng tá của Am-mei-ca và Lu-sen vứt dùi cui đi cùng lúc. Nhưng ai cũng nói: mi quăng trước đi. Và ai cũng đáp: ha ha, ngay khi ta quẳng dùi cui thì mi đập vỡ sọ ta thay vì cùng vứt như thỏa thuận. Bên này nói: không, mi quăng dùi cui trước. Bên kia đáp: ha ha...
Ông Shi-shmi nói từ nhiều năm nay, các thượng thư và tướng lĩnh hai nước họp hội nghị để không ngớt lải nhải màn đối thoại này. Song dẫu sao, ông nói tiếp, bao lâu họ còn đối thoại thì họ không đánh nhau.
Dĩ nhiên huynh đã hỏi từ lâu: thế còn Trung Quốc hùng mạnh đời đời? Nó ở đâu trong hệ thống chính trị của thế giới một nghìn năm sau chúng ta? Hãy nhẫn nại. Di Ngô yêu quý, đệ lại phải dài dòng mới làm huynh hiểu được.
Việc hai vương quốc chia nhau mọi quyền lực hiện hữu và làm ra vẻ hòa bình với nhau – bao lâu chưa biết ai mạnh hơn ai – song chỉ rình khi có ưu thế là tức khắc tấn công đối phương, chuyện này thì chúng ta biết rõ trong sử sách nước ta rồi. Là người nghiên cứu nhiều năm nên huynh rành rẽ hơn đệ trong lĩnh vực này, hẳn huynh có thể nêu ra năm thời kỳ như thế làm ví dụ.
Điều mới ở đây là: không phải hai triều đại khác nhau đấu tranh giành ưu thế, không phải hai tôn giáo khác nhau hiện thân qua hai vương quốc Am-mei-ca và Lu-sen, song hai nhân sinh quan khác nhau về hạnh phúc trần thế của người dân, mà như đệ hiểu – theo quan niệm của những kẻ cai trị thì điều này trực tiếp liên quan đến vấn đề dùng phương cách nào làm giàu quốc khố nhất. Một cách – quốc sách của vương quốc Am-mei-ca – bảo rằng cứ để mọi người được làm điều họ muốn, kể cả kẻ ngu xuẩn nhất. Ai làm ăn giỏi sẽ thắng, giống con heo sữa khỏe nhất giành được chỗ bú tốt nhất. Chính quyền quan sát tất cả và chờ cho những kẻ mạnh nhất lộ diện để rồi khen thưởng họ. Bọn người tài giỏi này cảm thấy nổi trội, được Nhà nước che chở; họ đóng thuế, tuy miễn cưỡng, vì hiểu rằng địa vị họ có được là nhờ Nhà nước.
Nghe ông Shi-shmi giải thích về quốc sách này đệ phản bác ngay: thế thì vương quốc này trở thành Nhà nước của bọn tiểu và phú thương là điều không thể tránh khỏi. Chẳng phải bọn con buôn ở đấy giữ vai trò đáng kể ư? Đúng thế, ông Shi-shmi nói. Theo ông thì bọn thương gia giữ vai trò đáng kể ở vương quốc Am-mei-ca và có uy tín hơn mọi quan chức và triết gia. Liệu như thế có tốt không? Ông Shi-shmi chỉ nhún vai.
Cách kia – quốc sách của vương quốc Lu-sen – cho rằng dân chúng, chủ yếu bọn tầng lớp thấp, quá ngu ngốc nên không thấy được điều gì lợi, điều gì không (đệ thấy có lý). Vì thế Nhà nước ở đấy sắp xếp mọi chuyện từng ly từng tí và không ai được phép làm điều mình muốn. Chuyện đương nhiên nảy sinh là sẽ phải lập nên một bộ máy quản lý khổng lồ, vì mọi việc lẽ ra tự động diễn ra nếu để mọi người làm điều họ muốn, nay phải ra chỉ thị. Nghĩa là phải có một bộ quyết định việc sông phải chảy theo dòng. Ở đây đệ cũng phản bác: thế nghĩa là ở đấy nửa số dân là viên chức để theo dõi nửa số dân kia làm gì ư? Đúng thế đấy, ông Shi-shmi đáp. Và tiền thuế mà bọn người bị canh chừng phải đóng chỉ đủ trả lương cho các viên chức? đệ hỏi. Đại khái thế, ông Shi-shmi đáp, tuy theo nguồn tin đáng tin cậy thì chính quyền Lu-sen cũng có được đôi chút dư thừa. Có thể trong thời gian qua họ đã cải thiện hệ thống này và chỉ cần hai viên chức canh chừng ba công nhân thôi. Tuy nhiên đến ngày hôm nay, so với sự thịnh vượng của vương quốc Am-mei-ca thì họ không bằng. Đệ xen vào: nhất là hễ ở đâu mọi việc do viên chức Nhà nước điều chỉnh thì ở đó tham nhũng phát triển? Đúng thế, ông Shi-shmi đáp.
Tại cả hai vương quốc này không có triều đại nào trị vì, cũng không có hoàng đế, nghĩa là không có ai là con Trời và cầm quyền nhờ thiên mệnh. Ông Shi-shmi bảo ở đấy hoàng đế cùng vua chúa đã bị bãi bỏ, thay bằng một loại thượng khanh người trần mắt thịt, không có quyền đòi hỏi được sùng bái như thần thánh. Tước hiệu thượng khanh này không cha truyền con nối. Dường như điều này rất quan trọng đối với bọn mũi lõ. Trong nhiều năm chế độ này hiện hữu, chưa từng có chuyện con trai một thượng khanh cũng thành một thượng khanh. Họ tránh điều này. Đệ cho rằng bọn mũi lõ sợ sẽ hình thành một triều đại của các thượng khanh và rồi sẽ lại có hoàng đế. Khi bọn mũi lõ sợ sệt né tránh chuyện cha truyền con nối chức thượng khanh thì dường như chúng lại thầm khao khát một hoàng đế chân mạng thiên tử. Đệ thông cảm điều này. Một chính quyền không được thiên mệnh ư? Ở đất nước chúng ta chẳng ai hình dung nổi điều này. Đệ tin chắc rằng hệ thống chính quyền của ta hợp tự nhiên và lòng người hơn cũng như ít tốn kém hơn.
Viên thượng khanh của Am-mei-ca do dân chúng nước này bầu lên cứ bốn năm một lần. Mỗi người dân được phát một mảnh giấy để viết tên người mình cho là xứng đáng làm thượng khanh. Đã bao giờ thế giới nghe nói tới chuyện thế này chưa? Đúng, Thi nhân hội hoàng gia “Nhị thập cửu đài tiển nham bích” của đệ cũng bầu ra chức Hội trưởng trong số các hội viên, họ cũng viết tên lên mảnh giấy... nhưng hội chỉ có hai mươi chín thành viên thôi. Ở Am-mei-ca có triệu triệu dân, hẳn đông gấp ba mươi lần số dân Trung Quốc vào thời chúng ta. Thử hỏi một người có thể quen biết được bao nhiêu người? Tính cả gia đình, bạn bè, đồng nghiệp – cùng lắm quen được hai trăm người. Vậy phải chăng không ai có thể nói được trong triệu triệu người ấy người nào xứng đáng nhất? Vậy chẳng lẽ ở đấy mỗi người chọn chính mình ư (như lần bầu kế chót ở Thi nhân hội của đệ)?
Ông Shi-shmi đáp “phải” và “không phải” trước lời phản bác của đệ. Ông bảo vì ở đấy có bầu vòng loại. Đệ hình dung chuyện ấy thế này: giới thương gia, nhóm thế lực nhất bên Am-mei-ca, muốn một người của họ hoặc ít nhất thân cận với đẳng cấp của họ được bầu làm thượng khanh. Họ phái người liên lạc đi khắp nước này, lớn tiếng xướng tên người mà giới thương gia muốn dân chúng bầu và dán hình người ấy khắp mọi nơi.
Thế tại sao giới thương gia không tự bầu ngay ra viên thượng khanh? Tại sao lại phải hỏi những người tầm thường khác? đệ thắc mắc. Vì giới thương gia không bao giờ nhất trí được, ông Shi-shmi đáp. Vì họ có mối quan tâm khác nhau nên dĩ nhiên có ứng cử viên khác nhau. Đệ bảo điều này đệ rõ, vì nó cũng giống ở ta thôi: giới bán than thích người ta mặc ít quần áo và mỏng, để bán được nhiều than, còn giới bán len muốn giới bán than làm ăn thất bát, để người ta mặc áo quần dày.
Đại khái thế, ông Shi-shmi nói, cho nên các người liên lạc của giới này ra sức gào, át tiếng người liên lạc của giới khác và dán những hình lớn hơn nữa của ứng viên phe mình, tốt nhất dán đè lên hình đối thủ, đại khái thế... Và phe nào dán hình to nhất thì ứng viên phe đó thắng à? đệ hỏi. Ngoài một số điều không lường trước được nào đấy luôn có thể xảy ra, diễn tiến có thể là như thế, ông Shi-shmi nói.
Trong chế độ này, đệ hỏi, một ứng viên khôn khéo có thể nào leo tới chức thượng khanh không? Ngoại lệ thì có, ông Shi-shmi nói, nhưng bình thường thì chế độ này – họ gọi là “dân làm chủ” (đây là đệ dịch) – chỉ tạo thành công cho những ứng viên thỏa hai điều kiện: họ phải tin tưởng vào uy tín của chính mình và không được có lập trường dứt khoát. Vì thiếu tin tưởng vào uy tín và tầm quan trọng của chính mình thì không ai gào nổi liên tục về giá trị của mình, còn thiếu điều kiện kia, nghĩa là có lập trường dứt khoát, thì sẽ làm phật lòng đa số.
Điều này khiến đệ sáng tỏ tức thì, nhưng như thế chẳng lẽ các thượng khanh là bọn ngu đần và dối trá ư? đệ nói. Vì chỉ kẻ ngu đần mới có thể dai dẳng tin tưởng vào tầm quan trọng của chính mình. Còn người có suy nghĩ thì hoài nghi chính mình trước hết, đúng không? Và người không lập trường sẽ phải liên tục dối trá, dù muốn hay không?
Ông Shi-shmi bảo rằng đệ đã nhận xét gay gắt về các thượng khanh, nhưng không thể phủ nhận rằng đệ đúng.
Ngoài ra không chỉ các thượng khanh, mà mọi tể tướng, thống đốc vân vân đều được bầu theo cách này và không chỉ ở Am-mei-ca, mà ở mọi nước tiếp thu chế độ này từ Am-mei-ca, nghĩa là nửa thế giới; cả ở Ba Yan.
Thế ở nửa thế giới kia thì như thế nào? Ở đấy đơn giản hơn, ông Shi-shmi nói. Ở đấy khi viên thượng khanh nắm quyền bính chết đi thì trong cung đình sẽ diễn ra một cuộc đấu đá bằng mọi phương tiện. Nói một cách hình tượng, viên quan này giết viên quan khác, xô y xuống cầu thang, ném y qua cửa sổ, chỉ còn lại kẻ mạnh nhất. Ông ta bước ra ban công và được dân chúng tung hô.
Chế độ này đệ quá rành, đệ nói.
Đúng, ông Shi-shmi bảo ông cũng nghĩ thế. Chỉ có điều chế độ này cũng coi trọng, hầu như còn hơn cả chế độ kia, chuyện được gọi là dân chủ. Chính vì thế mà ở nước Lu-sen người ta luôn phủ nhận và giấu nhẹm diễn tiến thật sự của việc tranh giành quyền bính. Đúng, đệ nói và dẫn một câu của bậc hiền giả đồi hạnh: “Cai trị là lừa dối.”
Đệ tiếp tục kẻo lạc đề: hai vương quốc Am-mei-ca và Lusen này đều có các nước chư hầu và tại nơi mà hai vùng ảnh hưởng đụng độ nhau người ta đã dựng lên một bức tường[16] tương tự Trường Thành của chúng ta, nhưng không đẹp bằng, ông Shi-shmi nói. Song cũng có những nước, lớn có nhỏ có, không theo chế độ này hoặc chế độ nọ. Ông Shi-shmi cho biết trong phần lớn trường hợp, cần phải nói rằng những nước ấy thử không theo chế độ nào, mà có đường lối riêng độc lập. Song hầu như chẳng nước nào thành công. Hoặc những nước ấy âm thầm – và mâu thuẫn với lý thuyết của chính họ – theo chế độ này hoặc chế độ nọ, hoặc hết ngả theo phe này tới phe kia vì tư lợi, hoặc họ hoàn toàn không đáng kể. Duy nhất, và dĩ nhiên điều này khiến đệ hân hoan, nước Trung Hoa tôn kính của chúng ta – đã từ lâu nó cũng không còn hoàng đế nữa, mà đứng đầu là một thượng khanh – không thuộc về chế độ nào và vì thế, chính ông Shi-shmi nói, sau nhiều năm bị làm nhục và hỗn loạn, đã lại trở thành Trung Quốc. Ở đấy ngày nay viên thượng khanh được quyết định theo kiểu Lu-sen, nhưng Trung Quốc và nước Lu-sen băng hoại thù địch nhau về ý tưởng và dĩ nhiên nước Am-mei-ca hết sức thích chí, nếu không nói là hả hê.
Ông Shi-shmi nói hình ảnh thế giới ngày nay là như thế. Tuy khái quát nhưng không phải không đúng sự thật.
Trung Quốc, kẹt giữa hai khối thù địch Am-mei-ca và Lusen, phải lo giữ kín (vì nền an ninh của mình) để không ai biết ở đấy đã thật sự thực hiện, suy nghĩ và hoạch định chuyện gì. Một thái độ rất khôn ngoan. Cho nên các quan chức hiện đang cai trị đất nước này (bọn này mới thật là hậu duệ của chúng ta, chứ không phải bọn mũi lõ) không cho ai vào nước họ nếu thấy người ấy đáng ngờ, mà đệ phải thú nhận rằng đối với bọn quan chức này thì đệ hết sức đáng ngờ. Cho nên sẽ không thể có chuyện đệ tới Trung Hoa ngày nay rồi đấy. Ông Shi-shmi bảo rằng đệ sẽ đau lòng khi thấy ở đấy hình ảnh Đức Khổng Tử vĩ đại bị chà đạp như thế nào. Có thật ngày nay ở đó lời giáo huấn của bậc hiền giả đồi hạnh bị khinh miệt? Thật, ông Shi-shmi đáp. Đệ lấy ống tay áo che mặt. Hậu duệ của chúng ta tuy không trở thành bọn mũi lõ, nhưng cũng chẳng khôn ngoan gì hơn.
Thành ra đệ ở lại đây, tại Min-chen. Có lợi thế là đệ được ở gần nàng Pao-leng. Đệ đã thận trọng dọ xem ý ông Shi-shmi thế nào về chuyện thăm nàng lần nữa. Ông trả lời né tránh. Đệ không muốn thúc ép ông hơn nữa. Việc gì tới sẽ tới. Nếu có cách khiến ông Shi-shmi không mất lòng, đệ sẵn sàng dọn khỏi đây, thuê đâu đấy trong thành phố này một căn hộ riêng. Đến nay đệ đã thông thạo ngôn ngữ của người dân Min-chen và quen với phong tục của họ đến mức có thể tự lập được và đệ cho rằng những gì có thể học tại nhà ông Shi-shmi và từ chính ông thì đệ đã học cả rồi – đệ mãi mãi nhớ ơn ông – và đệ chỉ học được điều mới khi thay đổi môi trường.
Cả chuyện này cũng sẽ tới khi nào nó tới. Thư đã dài. Nhưng đây là một bức thư quan trọng. Chào huynh.
Cao Đài
Quan tứ phẩm kiêm Hội trưởng Thi nhân hội hoàng gia “Nhị thập cửu đài tiển nham bích”.
❀ ❀ ❀
[1] Chúa Giê-su Ki-tô.
[2] Rặng Alp.
[3] Augustus (63 trước CN – 14 sau CN): hoàng đế đầu tiên của đế quốc La Mã, đã chinh phục nhiều nước Tây và Nam Âu cũng như Bắc Phi.
[4] Rom: như đã chú thích ở thư thứ sáu: phần lớn người Trung Quốc phát âm chữ “r” thành “l”, nên Rom mới thành “Lôm” và Roma thành “Lôma”.
[5] Zwischenhoch (suyt-sân-hóc): vùng áp suất cao tạm thời – cho nên thời tiết đẹp.
[6] Wilhelm II (gọi tắt là Vi-li II): 1859 – 1941, hoàng đế Đức cuối cùng, buộc phải thoái vị năm 1918 sau khi Đức thua trong Thế chiến I (1914 – 1918).
[7] Năm 395, đế quốc La Mã phân thành hai: đế quốc Tây và Đông La Mã (Byzantine).
[8] Năm 1453 bộ tộc Thổ từ Trung Á đã diệt đế quốc Byzantine, thành lập vương quốc Osmann (tiền thân của nước Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay).
[9] Các vương quốc Đức, Pháp, Anh.
[10] Christoph Columbus, người đã “khám phá” ra châu Mỹ vào cuối thế kỷ 15.
[11] Thế chiến I (1914 – 1918).
[12] Ám chỉ Hitler và Thế chiến II (1939 – 1945).
[13] Russe: người Nga.
[14] Tức là đầu thập niên 1950 (quyển này xuất bản năm 1983).
[15] Ám chỉ hai quả bom nguyên tử của Mỹ ném xuống Hiroshima và Nagasaki của Nhật cuối Thế chiến II.
[16] Bức tường ngăn cách Tây và Đông Berlin do phía Đông Đức dụng lên năm 1961, sụp đổ năm 1989.