Thư gửi về Trung Quốc xa xưa

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thư thứ tư

❊ ❊ ❊

(Thứ Bảy, 20 tháng Bảy)

Bạn vô cùng quý mến,

Ba ngày qua đã có bao chuyện mới, chuyện bất ngờ, chuyện lạ và chuyện không giải thích được ập tới với đệ! Nhưng đệ xin kể tiếp những sự kiện xảy ra ngay sau khi đệ đặt chân tới chốn này.

Con đường đá mà đệ vừa nói và định băng qua ấy thuộc loại có hai hàng cây xấu xí mọc trên hai thảm cỏ èo uột dọc hai bên phải và trái. Những viên đá cũng chỉ được nện cẩu thả vào lòng đất nên đường hơi mấp mô. Chỉ cần Thiên tử ngự giá trên con đường ấy một lần thôi thì hẳn quan thượng thư lục lộ sẽ mất đầu tức khắc.

Đệ vô ý vừa dợm băng qua con lộ thì nghe một tiếng hú rền rĩ, tiếng nghiến trên đường và tiếng lọc xọc xộc tới (trong thế giới của chúng ta không có tiếng gì để so sánh). Đồng thời một con vật to lớn – đệ chợt nghĩ hay đó là một con quỷ phun ra lửa – ào ào phóng tới nhanh hơn mọi tia chớp, nhanh khủng khiếp, khiến đệ không kịp nhìn thấy đó là con hay vật gì. Nay đệ đã biết qua loa rồi: chúng không phải quỷ, nhưng tối thiểu cũng nguy hiểm như lũ quỷ sứ đối với kẻ mê tín – nhưng lúc ấy tất nhiên đệ hoàn toàn chưa được chuẩn bị. Đệ vừa qua được nửa đường thì con vật phì phò nọ trông thấy đệ, đệ nghĩ thế. Tất cả diễn ra trong chưa đầy một chớp mắt. Hóa ra con quỷ này không nhắm vào đệ, vì nó bật lên một tiếng hụ kinh khiếp hơn nữa và tìm cách tránh. Đệ cũng muốn né tránh nên đã nhảy vài bước trở lại cây cầu. Nhưng giống như một con heo rừng đang phóng trong cơn giận dữ tột cùng, con vật (to gấp mười con heo rừng) không thể nhanh chóng chuyển hướng được. Nó vẫn tiếp tục hụ, bật ra một tiếng nổ inh tai (mà ta chỉ có thể tạo ra được khi đốt cùng một lúc toàn bộ kho pháo của Đức Hoàng đế trong buổi lễ đón mừng năm mới), con quỷ chồm lên một thân cây theo như đệ thấy. Rồi đệ ngã nhào xuống đường, bất tỉnh.

Khi tỉnh lại, đệ thấy một đám mũi lõ đông hơn nữa xúm lại, trông gã nào cũng giống gã nào. Tuy đệ được đặt nằm lên một chiếc ghế gỗ dài giữa hàng cây, nhưng hầu như chẳng ai ngó ngàng đến đệ. Chúng bu quanh cái cây mà con quỷ chạy nhanh và to gấp mười heo rừng kia vừa leo lên. Không: không phải nó leo lên cây mà khi hơi nhổm người lên đệ thấy nó đã ngoạm chặt vào đấy. Nay đệ biết đó không phải quỷ kiếc gì, cũng chẳng phải heo rừng lớn tựa con rồng, mà đó là một chiếc thiết xa. Nhà ông Shi-shmi ở gần chiếc cầu nọ và từ hôm đó đến nay đệ đã nhiều lần đi qua chỗ này. Đệ e cái cây ấy sẽ chết mất thôi.

Ở đây số lượng những chiếc xe bằng sắt có bốn bánh như thế nhiều đến độ cực kỳ nguy hiểm, nó không cần ngựa kéo mà vẫn chạy nhanh hơn ngựa rất nhiều. Thông thường trong mỗi thiết xa này có một gã mũi lõ ngồi vặn một bánh xe bên trong để cố điều khiển nó. Chúng chạy nhanh đến nỗi huynh chưa kịp thấy chúng xuất hiện phía bên phải thì chúng đã mất dạng ở phía bên trái rồi. Không ai có thể đi bộ trên những con đường đá này, số thiết xa nhiều thế đấy. Chúng phóng ào ào hỗn loạn cả ngang lẫn dọc và đệ tự hỏi chúng làm thế nào mà không thường xuyên húc vào nhau. Có lẽ chúng có một phương tiện để đẩy nhau ra như nam châm. Chim sẻ cũng bay từng đàn loạn xạ quanh cây cối, thế mà đệ chưa từng chứng kiến hai con cụng đầu vào nhau. Đệ hình dung như thế đấy về những chiếc xe bằng sắt. Nhưng đệ sẽ dò hỏi chuyện này mới được. Ngoài ra người ở đây gọi những thiết xa ấy là ô-tô. Đó là một trong những từ đầu tiên của thứ ngôn ngữ ồn ào này mà đệ đã học được.

Ngay cả khi không thấy chiếc ô-tô nào cũng chẳng ai dám đặt chân xuống đường. Những vật quỷ quái này nhanh đến nỗi người nhanh nhẹn nhất cũng không đủ thời gian để nhảy tránh qua bên. Cho nên ở hai bên đường người ta đã làm những con đường nhỏ cao hơn đôi chút để bộ hành có thể đi tương đối an toàn trên đó. Trên những con đường nhỏ để đi bộ này người ta cũng chen chúc và gây huyên náo. Ngược với đường cho thiết xa, đường đi bộ rất hẹp. Đệ suy ra rằng ngồi trong ô-tô là những kẻ cai trị thành phố và hẳn cả nước này, còn những người đi bộ chỉ là dân quèn.

Nhưng trở lại thứ tự những sự kiện đã xảy ra vào ngày đầu tiên: đệ cố gắng đứng lên. Khi đệ nhận ra nội vụ với chiếc ô-tô ngoạm chặt vào cây, đệ cũng thấy một số chiếc ô-tô như thế bị ghìm chặt bên lề đường. Đệ muốn đứng dậy bỏ đi vì nghĩ ngay rằng biết đâu người ta chẳng đổ lỗi cho đệ, kẻ đã gây chú ý tuy vô hại về chiếc thiết xa nọ – giờ đây nó đứng ì ở đó và bốc khói – bị cái cây làm cho ngừng chạy và có thể cái cây đã bị hư hại. Nhưng hai gã khổng lồ áo quần giống nhau màu xanh lục đính quá nhiều cúc bạc đã chú ý tới đệ, như đệ cũng đã thấy chúng, và túm chặt đệ tức thì. Chắc chắn đây là bọn sai nha của đức Hoàng thượng. Nghe giọng điệu chúng gầm gừ – tất nhiên đệ không hiểu chữ nào – là đệ thấy quen thuộc ngay. Đấy là điều đầu tiên giống với thế giới đệ thân quen, khiến đệ cảm thấy đầm ấm như ở nhà, cho dù bị chúng túm chặt đau đớn mấy chăng nữa.

Đệ nói với bọn sai nha: “Thưa các ngài sai nha tôn kính của đức Hoàng thượng! Kẻ hèn mọn nhơ nhuốc đồng thời vô hại này là quan tứ phẩm Cao Đài, Hội trưởng Thi nhân hội hoàng gia “Nhị thập cửu đài tiển nham bích”, phu quân của hai cháu gái của vương phi rực rỡ thứ tư Trang Phủ chẳng may mới vừa tạ thế, người vốn rất được Thiên tử minh quân vô song sủng ái. Xin các ngài mở lượng bao dung và lòng nhân ái hải hà mà kẻ hèn này không xứng đáng được hưởng, thả ngay kẻ hèn này, kẻo người bằng hữu của kẻ hèn mọn khôn tả này là quan Pha Cung đầy quyền thế và vô cùng được kính nể (mà kẻ hèn đạo đức nhơ nhuốc này đồng thời có vinh dự không thể giải thích nổi: được là anh em họ của ngài), bậc thống lĩnh sáng như vầng dương của các sai nha có thể sẽ gây cho các ngài nhiều rắc rối nghiêm trọng mà các ngài chớ nên coi thường, chưa biết chừng các ngài có thể sẽ không còn những cái đầu mỹ miều gần như vô song để đội chiếc mũ màu cánh rừng khi chớm vào xuân của đức Hoàng thượng”. Trong lúc hoang mang đệ quên khuấy – khi đầu óc mất tỉnh táo thì thói quen vốn chiếm thượng phong mà – rằng người anh em họ Pha Cung “ở đây” đã chết ngỏm gần một nghìn năm rồi và một viên quan khác đang nắm quyền sinh sát trên bọn sai nha và có lẽ đối với y cái tên Pha Cung chẳng nói lên điều gì nữa cả.

Nhưng tất nhiên đằng nào bọn sai nha cũng không hiểu đệ nói gì. Một gã vẫn gầm gừ, còn đệ chỉ một mực lắc đầu cho đến khi chúng hiểu rằng không thể trò chuyện gì được với đệ.

Bọn sai nha mũ xanh còn nói gì đấy với nhau một lúc nữa và đệ thấy khuôn mặt bè bè không biểu cảm của chúng lộ vẻ bất lực. Rồi chúng thô bạo lôi đệ tới một chiếc ô-tô đậu gần đấy. Hẳn chúng vô tình thô bạo thôi vì có lẽ bọn sai nha khổng lồ này bí kế. Bàn tay chúng to như tàu lá dừa và vụng về như ván thùng. Chúng ấn đệ vào một chiếc thiết xa. Quá sợ hãi, đệ áp chặt túi du hành vào người.

Di Ngô thân mến, huynh cần hiểu rằng tất cả những gì nãy giờ đệ kể đầy hết trang này qua trang khác thật sự diễn ra chỉ trong một phần tư giờ, có lẽ ngắn hơn nữa. Những ấn tượng lạ lùng mà đệ cảm nhận được không khác gì một dòng sông ầm ầm chảy xiết và đệ chỉ nhớ vài ấn tượng rời rạc. Chắc chắn đệ đã bỏ sót những mối liên hệ quan trọng của những ngày đầu này trong sự hiện hữu của đệ “ở đây”. Nhưng trong tình huống này mấy ai đủ điềm tĩnh giữ nổi đầu óc sáng suốt và có khả năng tiếp thu.

Đệ thấy chống cự lại việc mình bị bắt là vô nghĩa. Đệ hy vọng rằng đức công bình của Hoàng thượng không đến nỗi suy tàn như phong tục “ở đây” nói chung và như thế đệ tự nhủ chẳng có gì để phải sợ. Đệ vô tội mà, vả chăng mục đích chuyến đi của đệ là quan sát. Chúng ta biết trước rằng chuyến đi này rất mạo hiểm, song mới chân ướt chân ráo đến đây đã bị đối xử như tội phạm là điều đệ không ngờ. Nhưng đệ đã quyết định coi đây là kinh nghiệm trong chuyến du hành của đệ vào tương lai.

Chiếc thiết xa, hẳn là xe công vụ của bọn sai nha, chật khủng khiếp, cứ như trong một chiếc kiệu thô sơ. Nhưng dẫu sao cũng có ghế nệm êm ái. Một tên sai nha màu xanh lục ngồi cạnh đệ, tên kia ngồi phía trước, nơi có chiếc bánh lái. Trong xe hôi hám ghê người và khi nó bắt đầu nổ ầm ầm và loạch xoạch chạy thì đệ lại bất tỉnh. Sau lần ấy đệ đã nhiều lần ngồi ô-tô như thế, người ta quen dần với mọi thứ mà. Tuy không còn ngất đi vì vận tốc khủng khiếp của nó nữa, nhưng đệ vẫn chưa dám mở mắt khi xe chạy. Khi những ngôi nhà và cây cối bên ngoài vụt qua với tốc độ không còn là của con người bình thường, thì khả năng ghi nhận ấn tượng của đệ như thể bị một cái giũa thật to bào qua giũa lại. Cho nên đệ không loại trừ rằng mọi cảm xúc tinh tế của bọn người “ở đây” bị chiếc giũa to này của tốc độ bào mất sạch. Có lẽ vì vậy mà chúng mới thô kệch như thế.

Hai tên sai nha áp giải đệ đến một tòa nhà rất to và thật tối tăm. Ở đó có nhiều sai nha khác nữa. Dường như trên thế gian này có những điều vẫn tồn tại dù qua hàng nghìn năm. Hồi ba mươi hai tuổi, có lần đệ là thành viên một ủy ban của triều đình đi thanh tra những ngục thất ở Hải Châu, lúc đó đệ mới là quan thất phẩm thôi.

Theo đệ thì điểm đặc trưng tại các nhà giam ấy dường như là một mùi ôi khét nào đấy. Đệ nhận ra mùi này trong tòa nhà đệ vừa bị đưa vào và qua đó đệ biết đấy là một nhà tù. Nghĩa là có những đặc điểm nào đấy của những vật nào đấy tồn tại qua hàng nghìn năm. Hiển nhiên đó không phải là những đặc điểm hay ho nhất cũng như của những vật tốt đẹp nhất.

Trong nhà tù, hẳn cũng là bản doanh của bọn sai nha, đệ bị điệu tới trước một viên quan. Trước đó một tên sai nha đã giật chiếc túi du hành của đệ và lục soát. Khi đệ bị giải qua những lối đi dài, tăm tối, hôi hám thì một sai nha xách chiếc túi nọ của đệ theo; hiển nhiên không phải vì lịch sự.

Đệ chẳng muốn thử chào hỏi viên thượng quan sai nha làm gì. Đệ nín thinh và luôn chỉ hơi khom lưng mỗi khi y nói gì đấy bằng thứ ngôn ngữ ồm ồm, cấm cẳn như chó sủa của lũ cháu chắt vô phúc của chúng ta. Gương mặt y lộ rõ vẻ bất lực. Đệ phải ngồi trên một chiếc ghế gỗ dài bẩn thỉu. Chiếc túi du hành – hiển nhiên nó vô hại – được chúng đặt cạnh đệ. Vô số sai nha làm như tình cờ đến đấy để chòng chọc nhìn đệ. Đệ phải phì cười dù đang trong hoàn cảnh bị sỉ nhục. Song đệ cũng lúng túng chứ.

Lát sau viên thượng quan nọ quay lại với một gã khác không mang sắc phục sai nha. Gã này – song đệ tin đó là một mụ đàn bà – cũng thử trò chuyện với đệ. Tuy biết mụ là người thông dịch, nhưng đệ cũng không hiểu thứ ngôn ngữ của mụ thông dịch này nốt. Đệ chẳng thấy sự khác biệt nào giữa những âm tiết của chúng và của mụ thông dịch khi nói với đệ. Chúng lần lượt đưa tới khoảng mười thông dịch viên. Mới đầu đệ mơ hồ hy vọng trong đám ấy có được một người hiểu tiếng nói của chúng ta, nhưng đệ nhanh chóng chôn vùi hy vọng này – viên thượng quan sai nha dường như cũng thế.

Đệ không thể cho biết chính xác những chuyện này đã kéo dài bao lâu. Nhưng sau khi bốn viên thông dịch đã hoài công thử với đệ, một viên sai nha hạ đẳng bưng tới cho đệ – chắc chắn là với hảo ý – một cái khay giập bằng sắt; nhìn kỹ một lúc đệ cho rằng trong đó có vài thứ có thể ăn được. Y giúi vào tay đệ một dụng cụ – đến nay đệ đã làm quen với những dụng cụ như thế và sẽ kể sau – cũng giập từ sắt, tên nó là gan-bal[1]. Hiển nhiên ở đây chúng không cầm thức ăn bằng tay mà dùng những gan-bal này đưa vào miệng. Vì kích động và cảm thấy khủng khiếp đệ chẳng đói tí nào, lại còn ghê tởm thứ bột lổn nhổn màu xám nhạt (giống cơm của chúng ta thế nào được!) cùng vài miếng đen đen, nhìn gần mới biết là thịt và trên cùng là một lớp màu đỏ, sền sệt. Đệ nhủ thầm: mình du hành vào tương lai không phải để kinh tởm, mà để thu thập kinh nghiệm và quan sát. Thành thử đệ đã ăn chút bột. Chủ yếu nó có vị muối và rất nóng. Nay đệ biết được rằng bọn người “ở đây” – ngay cả những kẻ học thức – nghiện ăn nóng phỏng lưỡi gần như mọi thứ. Chính vì thế chúng phải dùng gan-bal. Nếu ăn bằng tay như ta vẫn quen, chúng sẽ phỏng ngón tay. Món thịt dai như quai guốc và cũng nóng.

Đệ ăn tí chút, rồi sau khi tin rằng đã thu thập đủ kinh nghiệm về chuyện ăn uống, đệ khom lưng một phần tám – chỉ một phần tám thôi, vì phẩm trật của viên thượng quan sai nha này hiển nhiên thua kém đệ xa – đưa trả cái đĩa giập bằng sắt và cái gan-bal. Khi đệ ra hiệu rằng đệ khát, chúng đem cho đệ một bình thủy tinh với một chất lỏng kinh tởm màu trắng mà giờ đây đệ biết đó không gì khác hơn sữa bò. Đúng thế: sữa của bò. Đệ xây xẩm mặt mày khi vừa mới ngửi, ngỡ ngay rằng chúng định đầu độc đệ. Tên sai nha mũi lõ lắc đầu lấy lại bình sữa, đem tới một bình với ¼ sheng[2] nước. Đệ uống. Nước ngon.

Khi viên thông dịch thứ mười đến, đệ cảm thấy như thể mặt trời lại mọc sau một đêm đen tối giông tố bão bùng: viên thông dịch này có khuôn mặt của con người. Tuy y vẫn cao lớn hơn đệ, song không đến mức khổng lồ như hết thảy bọn kia. Nhưng đệ đã thất vọng não nề: cả y cũng không hiểu được đệ. Đệ cho rằng y là người vùng Nam đảo[3]. Chẳng lẽ diện mạo con người ở đó lại không đổi khác quá đỗi như ở kinh đô bất hạnh của chúng ta? Hoặc đệ đang ở đâu khác chứ không phải kinh đô Khai Phong? Có thể đệ sẽ có cơ hội tìm hiểu điều này. Nhưng ngôn ngữ đã biến đổi đến mức không hiểu được nhau. Cả những chữ đệ viết ra y cũng không đọc được.

Trong khi đó trời đã về chiều. Người ta nhốt đệ – đúng vậy đấy, Di Ngô trung hậu yêu quý ơi – người ta đã nhốt bạn của huynh, Cao Đài này, quan tứ phẩm kiêm Hội trưởng Thi nhân hội hoàng gia “Nhị thập cửu đài tiển nham bích” trong một phòng giam, điều này không làm đệ kích động nữa. Nhưng trước đó đệ phải chịu để chúng tiến hành một vài thủ tục có lẽ là lễ nghi. Chẳng hạn đệ phải nhúng các ngón tay vào mực đen rồi sờ lên một tờ giấy. Có lẽ để trừ tà, ếm quỷ. Rồi đệ vào trong một căn phòng có một tên sai nha sử dụng một cái máy khó hiểu phát ra tia chớp nho nhỏ. Đệ phải ngồi trên một chiếc ghế đẩu để sẵn, một lần nhìn thẳng, một lần nhìn sang trái, một lần nhìn sang phải. Mỗi lần như thế ánh chớp lại lóe lên trong cái hộp nọ, nhưng đệ không hề hấn gì hết. Có lẽ đó là ma thuật để chúng tẩy trần. Để phòng hờ, đệ khom hai phần ba người, tất cả ba lần, trước cái hộp chớp chớp ấy. Khi chúng đã mê tín như thế, đệ nghĩ, thì mình nên tỏ ra kính trọng sự mê tín của chúng chứ. Phòng giam rất thiếu tiện nghi, vừa lạnh vừa bẩn vừa hôi hám. Tuy nhiên đệ vẫn ngả lưng trên một chiếc giường gỗ, đắp chiếc chăn thô màu nâu. Đệ thiếp đi – nhưng trước đó đệ đã thở dài nghĩ đến huynh, hảo bằng hữu của đệ, đến Tiểu Siêu dễ thương yêu quý (nó thường hay ngủ chung giường với đệ), đến chiếc gối lụa màu xanh ở nhà và tấm chăn màu nghệ che chở những giấc mơ của đệ. Đệ đã qua đêm đầu tiên nơi thời gian xa xôi này trong ngục tù như thế đấy. Âu đó cũng là một kinh nghiệm. Có lẽ đó là sự hạ nhục tồi tệ nhất mà đệ đã gặp phải trong chuyến du hành này. Nhưng việc đệ phải nếm mùi nhục nhã ngay từ đầu có thể lại là may. Đệ không đánh mất hy vọng rằng mình có thể sẽ có được những kinh nghiệm hay ho và hữu ích, tuy đôi khi cũng đã hoài nghi trong cái hố sương mù về tương lai. Hố sương mù – đúng vậy. Tuy thời tiết tốt, nhưng đệ cảm thấy như đi qua màn sương xám xịt. Sẽ có lúc nào nó tan không?

Đệ đã viết suốt buổi sáng rồi. Ông Shi-shmi vừa bước vào cửa. Ông ra hiệu cho đệ đi theo. Có lẽ bọn đệ đi để nuốt vào bụng cái mà ở đây chúng hiểu là bữa ẩm thực. Sau đó đệ sẽ tới điểm liên lạc – đúng giờ rồi – và đặt thư này vào đó, gửi về Trung Quốc một nghìn năm trước. Có thể hôm nay đệ nhận được thư của huynh.

Đệ nghĩ tới quá khứ tươi đẹp của hai ta và tới huynh, Di Ngô quý mến nhất của đệ.

Cao Đài

❀ ❀ ❀

[1] Gabel (ga-bần): cái nĩa.

[2] Sheng (có lẽ là “thăng”, dụng cụ để lường ngày xưa) – theo chú thích của tác giả thì bằng khoảng 2 lít.

[3] Indonesia (chú thích của tác giả).

Người dịch: Lê Chu Cầu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.