(Thứ Ba, 26 tháng Mười Một)
Lão bằng hữu Di Ngô quý mến,
Xin nói ngay để được yên thân: đệ đã đọc các bài thơ huynh gửi rồi. Đệ đã vượt một nghìn năm, để rồi đang ngồi đây trong căn phòng của một khách sạn, vào một buổi xế trưa tháng Mười Một gió mưa, ẩm ướt và tương lai thật là hỗn loạn. Lát nữa đệ sẽ bị ướt mất thôi khi phải hối hả chạy tới điểm hẹn để kịp gửi bức thư này; tất cả cũng chỉ vì tám mươi hoặc chẳng rõ bao nhiêu bài thơ không cần thiết của “Nhị thập cửu đài tiển nham bích”, những hội viên đáng kính của Thi nhân hội hoàng gia. Nhưng đệ đã đọc. Bài “Thời gian có trọng lượng không” của Lôi Thọ Sơn ít dở nhất: bằng cái cân cực nhạy, một người thử cân mới đầu là nước, rồi không khí, rồi ánh sáng và cuối cùng là thời gian, ý tưởng này thật thú vị và đạo lý của bài thơ rằng thời gian đè lên chúng ta nặng nhất khiến đệ đặc biệt xúc động trong hoàn cảnh hiện tại. Nghĩa là Lôi Thọ Sơn đoạt giải. Huynh vui lòng thông báo giúp đến Thi nhân hội nhé. Khi đệ trở về, sẽ tổ chức lễ trao giải.
Ngoài ra đệ xin kể hầu huynh một chuyện vui nho nhỏ về văn học. Trong một hiệu sách đệ tìm được một hợp tuyển thơ từ Trung Quốc dịch ra tiếng của người vùng Min-chen, gồm tác phẩm của nhiều nhà thơ đất nước ta. Đệ vô cùng hài lòng thấy không có bài nào của những cái đầu rỗng tuếch ngạo mạn thuộc Thi nhân hội hoàng gia “Nhị thập cửu đài tiển nham bích”, ngay cả của tay Lôi Thọ Sơn tương đối đặc sắc cũng không. Hầu hết những bài sáng tác thời chúng ta hoặc trước đó đệ đều biết cả. Hợp tuyển còn có bài thơ nổi tiếng mà chắc chắn huynh biết “Một làn sương mỏng bồng bềnh trên mặt đất...” từ chiếc bút của Thiên tử; đệ đã đứng bật ngay dậy và phủ phục liền xuống đất khi phát hiện ra nó. Hợp tuyển bắt đầu bằng những bài của các nhà thơ khuyết danh thời Chu cho tới những thi sĩ hiện đang sống ở Trung Quốc – tính theo thời gian của bọn mũi lõ.
Qua hợp tuyển này đệ được biết hai mươi bốn năm sau ngày đệ trở về, một đứa bé tên Âu Dương Hưu sẽ chào đời và nổi tiếng thơ phú. Âu Dương Hưu thọ sáu mươi lăm tuổi; một bài thơ của y mở đầu như sau: “Thăm thẳm, ánh hào quang thăm thẳm, thăm thẳm như nỗi khát khao – Thăm thẳm chừng nào? – Làn sương mờ nơi rặng liễu”. Đấy là đệ dịch trở lại sang tiếng của ta. Khi Âu Dương Hưu chào đời chúng ta có thể biết, nhưng không thể nữa khi y lìa đời. Đệ sẽ dùng thư pháp viết thảo bài thơ này và để lại cùng với sách vở của đệ, sau khi đệ chết. Biết đâu mai sau Âu Dương Hưu tìm thấy nó... và chắc chắn y sẽ không thể lý giải được chuyện này.
Mấy ngày trước đệ cùng ông Shi-shmi – có cả nàng Paoleng nữa – dự một buổi trình diễn âm nhạc dành cho công chúng. Nó có những nét lễ nghi rõ rệt, chứ không như những buổi hòa nhạc ở ta.
Thiên hạ ăn mặc trang trọng. Khán giả tụ tập và ngồi tại những chiếc ghế được gắn chặt trong một đại sảnh sáng trưng. Khách mộ điệu nhận được một tập giấy mỏng chú thích về âm nhạc sẽ được trình diễn. Các nhạc công – toàn mặc đồ đen – ngồi trên một bục cao phía trước sảnh. Qua tập giấy đệ được biết sẽ có hai nhạc khúc, hai “Tiếng sắt tiếng vàng tuyệt diệu”. Ở đây nhạc khúc không sắp xếp theo loại hoặc theo dịp chúng được trình diễn, mà theo nhạc sĩ sáng tác. Lạ lùng là mỗi nhạc khúc người ta đều biết của nhạc sĩ nào. Có lẽ vì họ luôn luôn chỉ trình diễn loại nhạc hoàn toàn mới, nên tên tác giả chưa rơi vào lãng quên. Đệ từng viết cho huynh: thầy Ve-to-feng mà đệ rất khâm phục (khi trở về, đệ sẽ thấy thiếu âm nhạc của ông) sống cách đây gần hai trăm năm. Hầu như nhạc của ông là loại cổ nhất còn được trình diễn. Hiếm khi ta nghe được một tác phẩm cổ hơn ba trăm năm. Nhạc khúc thứ nhất “Tiếng sắt tiếng vàng tuyệt diệu” là của thầy Shu-ve mà nhạc khúc “Ngũ tấu siêu phàm, cá hương” đệ đã biết, còn nhạc khúc thứ hai là của một nhạc sĩ qua đời cách đây không lâu, tên Sho-ta-ko-vi[1].
Mọi người an tọa. Ban nhạc thật là đông, ước chừng sáu mươi người. Nhiều vi-lo-lin, có cả va-tsche và cheng-lo, sáo, kèn trompet và trống. Ông Shi-shmi bảo ban nhạc do một nhạc trưởng điều khiển, nhưng tạm thời đệ chưa thấy, mãi một lúc sau ông mới bước ra sân khấu. Tiếng ồn khôn tả lại khiến đệ ngạc nhiên lần nữa. Đệ ngỡ đã quen với tính thích ồn ào của bọn mũi lõ từ lâu rồi, nhưng hóa ra chúng vẫn khiến đệ ngạc nhiên qua sự biểu lộ ồn ào vào lúc thật không ngờ. Ấy là khi nhạc trưởng – tên Hải Tĩnh[2], nhưng không phải người Trung Quốc ta đâu – ra sân khấu, bước lên một bục con, bọn mũi lõ vỗ tay điên cuồng. Vì nàng Pao-leng lẫn ông Shi-shmi cũng vỗ tay, nên đệ cũng vỗ theo. Thế gọi là hoan hô. Nhạc trưởng Hải Tĩnh lịch thiệp cúi đầu chào, nhưng rồi đã rất vô lễ quay lưng về phía khán giả và giơ que răn đe các nhạc công. Họ mặc ông răn đe và bắt đầu chơi. Dường như các nhạc công quá vô kỷ luật nên nhạc trưởng cứ phải giơ que đe dọa suốt buổi, thậm chí đôi lúc điên cuồng vung tít, kẻo họ ngừng chơi. Sau nhạc khúc thứ nhất (gồm hai phần) là giờ giải lao, bọn đệ cùng mọi người đi đi lại lại trong tiền sảnh chật ních, uống một ly Mo-te Shang-dong bán ở quầy. Nhạc khúc sau giải lao gồm bốn phần. Sau đó lại vỗ tay. Các nhạc công đứng lên, nhạc trưởng Hải Tĩnh khom người nhiều lần rồi ai về nhà nấy.
Đệ thích thứ âm nhạc do ông Shi-shmi và các bạn của ông trình tấu trong khuôn khổ nhỏ hơn. Thứ của dàn nhạc đệ cho là rất mũi lõ, nghĩa là chủ yếu ồn ào, nhất là nhạc khúc sau giờ giải lao. Ông Shi-shmi nói nhạc sĩ mới qua đời Sho-ta-ko-vi sáng tác được hơn chục bài “Tiếng sắt tiếng vàng” thế này. Bản nhạc đệ vừa nghe là Khúc thứ năm. Đệ nghe bản này có vẻ rất hiếu chiến, chỉ phần thứ ba mới khá êm dịu và từ tốn. Nhạc khúc trước giờ giải lao của thầy Shu-ve nghe êm ái hơn – dù ông mất năm mới ba mươi mốt tuổi, song cũng đã sáng tác nhiều bài “Tiếng sắt tiếng vàng”. Nhạc khúc hôm nay là khúc thứ tám dở dang của ông, chính vì thế thiếu mất hai trong bốn khúc phải có như quy định.
Đệ thử công bằng với nhạc khúc này, tuy khó, khó hơn với loại âm nhạc “tứ tấu” gần gũi, vì ở đây bao thứ âm thanh của những nhạc cụ khác nhau vang lên cùng lúc khiến đệ rối trí. Ông Shi-shmi hết sức trân trọng tác phẩm này. Đệ chịu không nhận ra được sự hài hòa trong những âm thanh hỗn độn ấy, tuy đệ tin mình có thể học được. Có lẽ điều duy nhất đệ lấy làm tiếc khi rời khỏi thế giới của bọn mũi lõ là không kịp học để nhận ra sự hài hòa này được nữa. Không còn thời gian.
Nhạc khúc “Tiếng sắt tiếng vàng” số tám của thầy Shu-ve gồm một phần tương đối xúc động và một phần khá chậm rãi. Việc âm thanh nảy sinh trong trái tim con người, như viết trong Kinh Lễ, biểu hiện rõ ràng trong phần chậm rãi. Ở một vài đoạn đệ cảm thấy như mình hợp nhất với tình cảm của thầy Shu-ve, dù ông sinh sau đệ rất lâu nhưng lại qua đời trước đệ. Điều bí ẩn nằm trong những âm thanh của ông, khác hẳn trong những âm thanh của thầy Ve-to-feng vô song. Người ta phải kính trọng thầy Ve-to-feng, còn thầy Shu-ve người ta có thể quý mến. Giả thử biết trước điều này, có lẽ đệ đã chỉnh chiếc la bàn-thời gian để đến với thế giới của thầy Shu-ve. Có thể đệ được gặp ông. Có thể ông cũng sẽ quý mến đệ. Còn thầy Ve-to-feng thì đệ xin kính nhi viễn chi, dù vô cùng hâm mộ.
Thôi đệ không nói về âm nhạc nữa; có lẽ huynh không quan tâm lắm, vì huynh không hề thắc mắc, mà chỉ hỏi về thế giới này cùng chính thể của nó. Và huynh có lý, vì đó chính là mục đích chuyến đi của đệ, nếu không thì thật là vô trách nhiệm trước lời giáo huấn của Khổng phu tử vĩ đại.
Đệ thú nhận thỉnh thoảng, ấy là khi nghe nhạc, đã quên bẵng mình là một phụ mẫu chi dân Trung Quốc. Nhưng rồi từ thế giới âm thanh ấy đệ sực tỉnh ngay và biết rằng dù bọn mũi lõ có Ve-to-feng và Shu-ve, nhưng không có được một Đức Khổng phu tử.
Tạm biệt, hảo bằng hữu, đệ gửi lời chào đến Lôi Thọ Sơn. Bài thơ của hắn quả thật không tệ. Có lẽ nó không có trong hợp tuyển chỉ vì bị thất lạc trong vòng một nghìn năm qua. (Dĩ nhiên huynh không thể cho hắn biết điều này được). Đệ không quên chuyện mấy quả bóng màu trắng huynh hỏi đâu.
Đệ ôm huynh.
Cao Đài
❀ ❀ ❀
[1] Shostakovich (1906 – 1975): nhạc sĩ Nga.
[2] Bernard Haitink: nhạc trưởng người Hà Lan.