Thư gửi về Trung Quốc xa xưa

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thư thứ hai mươi tám

❊ ❊ ❊

(Thứ Năm, 12 tháng Mười Hai)

Di Ngô quý mến,

Hôm nay là ngày trăng thượng tuần cuối cùng trong năm ở đây. Như mọi khi, bọn mũi lõ chẳng hề quan tâm đến chuyện này. (Nói thêm: tiểu phụ Chung cũng đã quên sạch phong tục xưa của ta rồi, nàng sống theo tập tục của bọn mũi lõ). Trong khi đó phố xá lại tấp nập hơn bình thường. Đối với bọn mũi lõ thì đây là tháng đặc biệt, vì chúng tin rằng ông Chúa mà chúng tôn thờ đã sinh ra vào một ngày cuối tháng này – không lâu trước Tết của chúng. Ông Shi-shmi (đệ mới đến thăm ông ít ngày trước, vì bộ tứ tấu chơi nhạc ở đấy) giải thích cho đệ rằng: thời gian trước lễ kỷ niệm ngày ông Chúa của họ ra đời gọi là “Giáng Sinh” dùng để tập trung tư tưởng mà đủ loại người trong máy-viễn-vọng gọi là “thời gian tĩnh lặng”. Thật là phỉ báng, vì suốt năm không bao giờ phố xá lại ồn ào náo động như chính bây giờ. (À, đệ đã kể với huynh về cái máy-viễn-vọng chưa nhỉ? Đệ tin rằng chưa. Đệ không còn nhớ những gì đã kể, những gì chưa. Máy-viễn-vọng là một trong những vật dụng quan trọng nhất của bọn mũi lõ. Thật là sơ sót lớn khi đệ chưa kể về nó. Để sau vậy).

Thông thường, ông Shi-shmi nói, nhân mừng sinh nhật của ông Chúa, còn gọi là “Đêm Thánh”, người ta tặng quà cho thân nhân và bè bạn. Không phải muốn thì mới tặng, mà bắt buộc. Con cái biếu quà cha mẹ, cha mẹ tặng quà con cái, anh em tặng nhau, chú bác, cô dì, anh chị em rể và anh chị em họ, kể cả hàng xóm, đồng nghiệp và đối tác trong làm ăn, cấp dưới biếu cấp trên, mọi người đều tặng, dù ưa nhau hoặc không. Chỉ nghĩ đến chuyện kịp mua đủ quà tặng đã khiến ông Shi-shmi rên lên rồi. Ngay từ đầu tháng bọn mũi lõ đã bắt đầu một cuộc chạy đua tìm những quà đặc biệt để tặng lẫn nhau. Dĩ nhiên bọn con buôn xoa tay thích chí. Ông Shi-shmi nói nếu mọi người giữ lấy những thứ họ định làm quà tặng thì sẽ không có chuyện lộn xộn như thế này, mà còn lợi ở chỗ biết mình có sẵn những gì, vì bình thường người ta được tặng những thứ không cần thiết, thừa, không đẹp mà không được phép vứt đi – làm ngược lại là xúc phạm người tặng – và phải rất thận trọng, sau vài năm mới được dùng những thứ ấy làm quà tặng người khác. Quà được đồng loạt tặng vào tối ngày 24 tháng này. Điều khó xử nhất có thể xảy ra với một người là được tặng quà mà không có gì để tặng lại – hoặc do thấy không cần thiết hoặc quên. Vì quà được đồng loạt tặng nên thiếu sót vừa nói là không chuộc được và kẻ lãng quên hoặc tắc trách sẽ phải co đầu rụt cổ tránh mặt người đã tặng quà suốt một năm.

Do đó bọn mũi lõ cố nặn óc để khỏi quên một ông dượng nào đấy, dù là họ hàng xa tít mù tắp. Và đệ thấy những tay đàn ông, những mụ đàn bà thở hổn hển như bị quỷ dữ vung roi đánh đuổi trên phố xá nhớp nháp tuyết và đóng băng, gói lớn gói nhỏ tới cổ, lễ mễ khuân từ các cửa hàng – nơi họ nợ ngập đầu – về nhà, gom góp ở đấy để đến ngày thứ 24 đem ra trao đổi. Họ thường bị trượt trên băng tuyết. Đệ thích ngắm nhìn cảnh tượng này từ cửa sổ phòng khách sạn trông ra con đường có nhiều hàng quán. Họ ngã chổng vó, gói quà văng trúng đầu người khác. Có gói văng xuống đường, bị ô-tô cán bẹp. Đám mũi lõ khác, cũng bị quỷ săn đuổi, dửng dưng bước qua những kẻ bị ngã, trong khi họ tuyệt vọng cố gom lại những gói quà.

Thế mà bọn mũi lõ gọi đó là “thời gian tĩnh lặng” đấy! Chúng đón mừng Chúa của chúng như thế đấy! Ông ấy hẳn sẽ vui lắm! Tuy đứng ngoài cuộc, song đệ e rằng cũng sẽ bị kéo vào vòng xoáy của sự trao đổi quà tặng này mất thôi. Nếu đệ đoán không lầm những lời bóng gió của ông Shi-shmi, thì ông đang âm thầm chuẩn bị quà cho đệ. Như thế đệ không tránh khỏi phải tặng lại ông món gì đấy.

Nhưng tất cả những chuyện kia không phải là điều đệ định viết trong thư này. Bọn mũi lõ không chỉ treo hoặc trưng bày những ngôi sao và đủ thứ biểu tượng khác (cành thông, những đứa bé nằm trong những cái nôi lạ kỳ, và luôn luôn có một cặp bò với lừa) liên quan đến lễ của chúng trên đường phố mà cả trên các tường nhà và trong cửa sổ của các cửa hàng rực rỡ. Đặc biệt trong máy-viễn-vọng người ta không ngớt nói về “Đêm Thánh” sắp tới và trịnh trọng gọi đó là “Lễ của hòa bình”. Đệ đã tìm hiểu: quả thật có hòa bình từ trưa ngày thứ 24 tháng này cho đến sáng sớm ngày thứ 27 cùng tháng. Song chỉ vì đó là những ngày lễ mà các cửa hàng và công sở đóng cửa, các xưởng rèn cũng ngưng hoạt động. Người ta bận mở quà ra, ngắm nghía và bực bội vì sự vô dụng của chúng. Quả thật trong thời gian này các vụ xử án cũng đình chỉ, song chỉ vì phán quan không tới nhiệm sở. Thế chiến tranh có khả năng ngừng không? đệ hỏi ông Shi-shmi. Không, ông đáp, chưa hề có viên tướng chỉ huy nào tạm ngưng hành quân vì “Lễ của hòa bình” này. Trong cuộc chiến tranh cuối cùng, chưa lâu gì lắm và ông Shi-shmi đã chứng kiến hồi nhỏ, người ta đã gọi một cách vô lý đó là “Lễ chiến tranh của hòa bình”. Ai muốn hiểu thế nào về bọn mũi lõ thì hiểu. Không thể tận diệt sự rối loạn về khái niệm ở bọn chúng.

Trong những ngày “Lễ của hòa bình” lại xảy ra nhiều vụ tự sát nhất, chồng đánh đập vợ (hoặc đôi khi ngược lại), trẻ con bị bỏ rơi, người già chết đói. Ông Shi-shmi bảo sở dĩ thế vì các căn hộ quá nhỏ. Người ta chịu không nổi ba ngày liền phải sống ép như cá hộp trong những căn hộ nhỏ và thấp. Họ chịu không nổi nên thường cãi nhau. Chính ông Shi-shmi cũng không nhớ được cha mẹ ông đã bao giờ có nhiều vụ cãi nhau như vẫn luôn xảy ra trong những ngày “Lễ của hòa bình”. Có lần cha ông bỏ nhà một thời gian vì bị mẹ ông ném nguyên một con ngỗng quay lên đầu sau khi cha ông suốt nhiều giờ không nói gì khác ngoài chuyện bà quay con ngỗng quá cay.

Thông thường, hẳn vì nhàm chán, người ta ăn rất nhiều trong những ngày “Lễ của hòa bình”. Được ưa chuộng là món ngỗng “Lễ của hòa bình” và cá chép “Lễ của hòa bình”. Ngay bây giờ đệ đã thấy chúng được bày bán tại các cửa hàng rồi. Có lẽ họ uống cũng không ít. Và khi bọn mũi lõ không cãi nhau, đệ nghĩ rằng chúng sẽ làm điều mà chúng thích nhất, hơn cả ăn uống, hơn cả ngủ, hơn cả ái ân: chúng xem máy-viễn-vọng. Nhà nào, căn hộ nào và hầu như căn phòng nào (cả phòng của đệ trong khách sạn) cũng có những máy-viễn-vọng này. Chúng thường rất đắt và hay hỏng. Tuy nhiên bọn mũi lõ thà không có ô-tô, thà ăn uống đạm bạc, thà không có giường hoặc bếp lò, hơn là không có máy-viễn-vọng. Ngay bọn mũi lõ nghèo nhất cũng có, chúng thà cầm cố vợ con, chạy lõa lồ trong giá rét, thậm chí bán cả linh hồn nếu cần, miễn giữ được máy-viễn-vọng.

(Tuy nhiên những người đệ thấy vào mùa hè nằm lõa lồ trước mắt thiên hạ trên bãi cỏ công viên không phải là những kẻ đã hy sinh manh áo cuối cùng để khỏi phải bán đi máy-viễn-vọng. Không phải thế. Họ nằm lõa lồ vì vô liêm sỉ và vì dường như có lợi cho sức khỏe).

Máy-viễn-vọng[1] là một cái hòm lớn vừa phải, mặt trước trông như cửa sổ. Ở đâu đó có một ủy ban có khả năng phóng hình ảnh, hình ảnh sống nhé, vào không trung. Cơ cấu của máy-viễn-vọng sẽ thu nhận những hình ảnh này và chiếu ra lại, miễn là người ta bấm nút và lúc ấy máy không hỏng. Đó không phải trò ảo thuật, dù thoạt nhìn có vẻ thế. Cơ cấu này không phức tạp hơn tính toán của chúng ta cho cuộc du hành vượt thời gian của đệ. Đệ đã yêu cầu ông Shi-shmi giải thích, nhưng đệ nghĩ rằng huynh không quan tâm đến chi tiết.

Thế này nhé: huynh ngồi trước máy-viễn-vọng và nhìn người khác như thể nhìn qua cửa sổ. (Những người khác này tuy nhiên không thể nhìn thấy huynh đang ngồi trước máy. Để yên tâm, đệ đã yêu cầu được cam kết về điều này). Phần lớn những gì huynh thấy qua chiếc cửa sổ viễn vọng này là thừa, tuy phải thừa nhận lúc đầu đệ cũng vô cùng thích. Hãy hình dung huynh có khả năng nhìn người khác trong phòng họ mà họ không thể thấy huynh; nhưng rồi sẽ nhàm chán. Những người khác làm gì? Chẳng có gì mà huynh không hình dung được. Họ ăn, uống, yêu nhau, đánh đấm nhau, cưỡi ngựa hoặc lái ô-tô... toàn những thứ chán ngắt, chẳng có gì mà người ta không biết.

Ít lôi cuốn hơn khi có ai đấy hát qua máy-viễn-vọng, bài ca này phần lớn không liên quan gì đến thứ âm nhạc quý phái của thầy Ve-to-feng và những thầy khác. Tuy nhiên khi các ông các bà hát trong máy-viễn-vọng nhăn mặt thì cũng khôi hài, khiến thỉnh thoảng đệ cũng được tiêu khiển. Song cửa-sổ-viễn-vọng thường chiếu những vật dụng mà người ta khuyên nên nhanh chóng mua tại các cửa hàng. Nhưng như đệ đã tìm hiểu, không bó buộc phải theo.

Vào những lúc nhất định một nữ mũi lõ xuất hiện tại cửa-sổ-viễn-vọng, đọc từ những tờ giấy màu vàng những tai họa nào đã xảy ra trên thế giới trong những giờ qua, sau đó luôn luôn có một người thông báo rằng thời tiết xấu đi. Nhưng những điều này không phải là điều tệ hại nhất liên quan đến máy-viễn-vọng. Đã nhiều lần đệ yêu cầu được giải thích về những quan hệ này, vì viễn vọng là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong đời sống của bọn mũi lõ. Những hình ảnh sống động, màu mè lừa bịp kia thật đến độ người xem ngỡ là có thật ngoài đời. Nhưng không phải tất cả đều thật. Tuy người nữ mũi lõ đọc từ tờ giấy màu vàng tin một chiếc tàu bị đắm hoặc người nữ mũi lõ thông báo mai sẽ mưa nhiều hơn hôm nay là thật, cả đám mũi lõ tự cho là biết hát cũng thật. Nhưng đám mũi lõ sau đó xuất hiện, xông vào nhau, chửi bới nhau, chém giết nhau suốt hai tiếng là không thật – mới đầu đệ cũng tưởng là thật nên hoảng vía – chúng diễn trò thế thôi. Đôi khi đệ phải công nhận đó là một vở diễn dàn dựng rất tài tình. Đệ (tuy đến từ nơi xa xôi – song có thể chính vì thế) thấy rõ điều này, còn phần lớn bọn mũi lõ vô cảm ngó đăm đăm vào máy-viễn-vọng và tin những gì chúng thấy đều là thật. Thành thử phần lớn bọn mũi lõ không còn nhận biết thực tế nữa và thay nhận thức này bằng những gì chúng biết được từ máy-viễn-vọng.

Đệ được biết phần lớn bọn mũi lõ rảnh phút nào là ngồi trước máy-viễn-vọng phút ấy.

Đệ thấy chuyện này logic thôi. Sau khi chúng nhận thấy ý nghĩa cuộc sống và lịch sử của chúng liên tục tiến khỏi chính mình thì hiển nhiên chúng không thích làm gì khác hơn là nhìn khỏi chính mình[2].

Trong một trong những bức thư cuối đệ hứa sẽ kể về đĩa nhạc[3]. Sở dĩ có đĩa nhạc là vì bọn mũi lõ nghiện sao chép thành nhiều bản; về cơ bản điều này cũng đã tạo nên viễn-vọng; ở viễn-vọng một hình ảnh được sao chép thành vô số – dù hình ảnh ấy bi thảm đến đâu – thì ở đĩa nhạc một khúc nhạc được sao chép thành vô số. Huynh hãy hình dung một cái đĩa rất phẳng, mỏng, màu đen, huynh thận trọng đặt nó vào một cái máy dành riêng để quay đĩa (không khó sử dụng đâu), bấm vài cái nút – bọn mũi lõ coi trọng việc bấm nút hơn chuyện sinh con đẻ cái – thế là từ chiếc máy vang lên thứ âm nhạc tuyệt vời, không nhanh cũng không chậm hơn các nhạc công chơi ngay trong phòng, nếu họ có mặt ở đó. Dù kỳ quặc và tiêu biểu cho thế giới của bọn mũi lõ thế nào, nó vẫn có mặt tốt, vì huynh có thể nghe được mọi thứ âm nhạc huynh thích mà không phải tốn tiền thuê ban nhạc. Đệ đã sắm một cái máy này (đệ thấy nó lần đầu tiên ở nhà ông Shi-shmi) và để trong phòng ở khách sạn sau khi đi nghe buổi hòa nhạc cho công chúng mới đây. Đệ thường nghe đi nghe lại hai nhạc khúc được trình diễn lần đó và cố thử hiểu ý nghĩa của chúng. Đệ cũng thích nghe những nhạc khúc của thầy Ve-to-feng.

Mấy hôm trước đệ đi dự buổi biểu diễn một loại âm nhạc khác hẳn (cũng do ông Shi-shmi dẫn theo). Ông Shi-shmi đến khách sạn đón đệ và bảo đó sẽ là một ngạc nhiên lớn dành cho đệ.

Bọn đệ vào trong một ngôi nhà lớn có nhiều cột trụ cao ở mặt tiền. Nhiều tay mũi lõ đi loanh quanh trong đó. Ngôi nhà này khác hẳn khách sạn, đệ cho đó là một ngôi đền và khi đệ nói với ông Shi-shmi thì ông cười rằng quả thật đôi khi nó được gọi là: “Đền của các nữ thần nghệ thuật”. Loanh quanh một chút nơi các lối đi và cầu thang, bọn đệ nghe vang lên một âm thanh chát chúa như tiếng kim loại, liền đi tới chỗ mà theo đệ là trung tâm ngôi nhà. Nó gợi đệ nhớ đến sảnh đường, nơi đã diễn ra buổi đại hòa nhạc cho công chúng; quả thật phía dưới kia (lần này hơi khuất) nhiều nhạc công đang ngồi chỉnh nhạc cụ, âm thanh thật khó nghe. Dưới đó có hàng trăm ghế và năm hoặc sáu ban công phía trên còn nhiều ghế hơn nữa, nếu đệ đếm đúng (chúng không ở bên ngoài như các ban công nhà, mà quanh tường bên trong). Người ta ít nhiều gấp gáp ngồi vào chỗ. Mọi người nhìn về một hướng – ghế được xếp như thế mà. Bọn đệ ngồi trên ban công thứ nhất, tính từ dưới lên.

Đèn mờ dần rồi tắt hẳn. Người ta vỗ tay. Khi đệ yêu cầu ông Shi-shmi giải thích, ông cười bảo đệ sẽ thấy ngay thôi. Nhưng mới đầu đệ chẳng thấy gì cả. Các nhạc công chơi một đoản khúc mà đệ chẳng hiểu mấy – họ chơi hầu như hoàn toàn trong bóng tối. Rồi một tấm màn khổng lồ cuộn lên, lộ ra một căn phòng sáng trưng, ở đó lần lượt lần lượt... – đệ không biết phải nói thế nào – những hình ảnh khác nhau được dựng nên. Nói ngắn gọn: đó là một buổi ca vũ nhạc sống do người thật (phụ nữ lẫn đàn ông) thực hiện; đệ nghe nói họ được đào tạo riêng cho nghề này và được trả công. Họ là diễn viên và kiểu biểu diễn của họ chỉ hơi giống kiểu diễn kịch ở ta.

Kiểu biểu diễn của họ không có tính nghi lễ hoặc biểu tượng, mà tạm gọi là minh họa. Không như các ca sĩ và vũ công ở ta bóng gió qua âm thanh, nét mặt và cử chỉ mà mọi người đều hiểu, ở đây họ diễn hoàn toàn trực tiếp để khơi dậy ảo ảnh của cuộc sống thật. Thật là kỳ quặc, vì những người trong căn phòng sáng trưng kia làm như không biết có cả nghìn mũi lõ ngồi trong bóng tối chăm chú xem. Khi ở đấy có người nói: trăng sáng, quả thật vầng trăng xuất hiện và mọi thứ chìm trong ánh trăng, khiến mới đầu ta tưởng đang nhìn qua một ô cửa sổ lớn vào một vùng khác; khi có người nói bây giờ anh ta đi vào nhà là có ngay ngôi nhà giả. Giữa những lúc ấy họ thình lình hát, lúc đơn ca, lúc đồng ca, luôn luôn có ban nhạc đệm theo.

Tất cả nhằm trình diễn thật tự nhiên một truyện thơ, nhưng đệ chỉ hiểu khi được ông Shi-shmi giải thích. Có lẽ vì đệ hầu như không hiểu ca từ nên không nắm được ý nghĩa truyện. Dường như nó nói về một người phụ nữ đến một đất nước xa xôi, lấy ở đấy một nhân vật quan trọng, nhưng rồi lại bỏ ông (hoặc ngược lại). Giữa các màn có pha trò và bọn mũi lõ cười ồ; nhưng các diễn viên vẫn làm như không nhận thấy.

Sau khoảng hai tiếng, màn hạ và người ta lại vỗ tay. Phòng lại sáng và điều kỳ lạ nhất là người phụ nữ nọ cùng nhân vật quan trọng kia và mọi người trước đó đều lách qua màn, tiến ra phía trước, cúi chào nhiều lần, nghĩa là họ biết rõ nãy giờ có bọn mũi lõ ngồi xem.

Trang phục của những người này khác hẳn áo quần thông thường của bọn mũi lõ. Đệ ngạc nhiên vì chưa gặp ai ăn mặc như thế trên đường phố; ông Shi-shmi cười bảo đó chỉ là quần áo hóa trang. Sau đó các bà, các ông ấy đi vào hậu trường, cởi bỏ lớp áo sặc sỡ, mặc vào y phục thường ngày rồi về nhà.

Bọn đệ cũng thế – nghĩa là trước hết vào một phạn điếm để ăn. Ông Shi-shmi hỏi đệ, qua nét mặt và giọng nói đã rõ ngay ông muốn biết đệ có thích không. À thì, đệ nói, rất thú vị. Đệ không nhận thấy gì ư? Nhận thấy nhiều thứ chứ, đệ đáp... Không, ông nói, đệ không thấy gì đặc biệt ư? Đệ không thấy gì quen thuộc sao? Không, đệ đáp.

Ông Shi-shmi cười. Cả truyện thơ vừa diễn người ta cũng biết tên tác giả. Ông tên Le-ha[4] và mất khoảng bốn mươi năm trước. Truyện thơ này có tựa đề: “Vở ba-lát diễn ở một đất nước nơi người dân luôn mỉm cười”. Ám chỉ Trung Quốc đấy! Và đệ đã cười. Đệ cứ nghĩ đó là chuyện dứt khoát mũi lõ, thế mà lại là câu chuyện ở nước ta, ở Trung Quốc! Bọn mũi lõ hình dung cuộc sống ở nước ta như thế đấy! Ta thấy chúng, đặc biệt ông Le-ha này, chẳng biết gì hết về cuộc sống ở nước ta. Đệ cười không ngớt. Đệ yêu cầu ông Shi-shmi ngay ngày mai lại tới ngôi đền xem trình diễn lần nữa. Nhưng không được, vì có nhiều ba-lát và không phải tối nào cũng diễn vở “đất nước nơi người dân luôn mỉm cười”. (Những ba-lát kia không viết về Trung Quốc). Ông Shi-shmi xem lại trong một tập nhỏ, thấy tháng sau mới lại diễn vở này. Đệ nhất định sẽ lại đi xem. Nhưng tạm thời phải kiên nhẫn.

Ngày qua đi như thế. Tuyết vẫn rơi. Đệ đã mua một cái măng-tô dày màu xanh theo kiểu mũi lõ. Phải chi huynh thấy được đệ! Đôi khi đệ tự cảm thấy mình trông thật kỳ quặc. Vừa rồi đệ lại ghé dạ điếm “Thiên Đường” lần nữa. Nàng vũ nữ thoát y với những quả banh trắng không còn diễn ở đó nữa, đệ rất tiếc không thể giúp được huynh. Nàng đã đi khỏi đây, tới diễn ở một thành phố xa xôi khác. Hy vọng huynh không chờ đợi đệ chạy theo nàng vì chuyện này, dù đệ rất quý huynh.

Đệ gửi lời chào đến thi sĩ Lôi Thọ Sơn. Hãy bảo hắn rằng vinh quang không dài lâu đâu, cho dù năm nay hắn đoạt giải thơ. Nhưng đừng tiết lộ từ đâu đệ biết nhé.

Chào và ôm huynh thắm thiết.

Người bạn xa xôi của huynh, Cao Đài

❀ ❀ ❀

[1] Ngôn ngữ hiện đại là máy truyền hình (hoặc TV).

[2] Tác giả chơi chữ: nếu “tiến bộ” là tiến xa, là rời khỏi chính mình (xem chú thích ở thư thứ mười), thì “viễn vọng” là nhìn khỏi chính mình, nghĩa là quên thực tại, đeo đuổi chuyện viển vông.

[3] Đúng ra phải dịch: đĩa ăn có nhạc.

[4] Franz Lehár (1870 – 1948), nhạc sĩ Áo-Hung.

Người dịch: Lê Chu Cầu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.