(Thứ Hai, 12 tháng Tám)
Di Ngô xa xôi quý mến,
Hôm nay trăng khuyết, chỉ còn một phần tư giống như hôm đệ đến đây. Đã nhiều ngày trôi qua kể từ lần cuối đệ viết cho huynh. Mong huynh không vì thế mà lo lắng. Đệ khỏe – tương thích với hoàn cảnh. Đã hết mưa rả rích. Nhưng mùa hè thật sự là gì thì dường như bọn mũi lõ ở đây không hề được hưởng, nên trời mới nắng có hai ngày mà chúng đã vội vàng nằm phơi lõa lồ trên bãi cỏ trước mắt bàn dân thiên hạ. Thật hết sức trơ trẽn. Chuyện này đệ sẽ kể sau.
Đệ lại vẫn không biết nên bắt đầu thế nào và với chuyện gì.
Quá nhiều chuyện mới, quá nhiều chuyện lạ và chúng vẫn còn nữa. Mặt trăng hẳn sẽ phải tròn khuyết thêm nhiều lần cho đến khi đệ cảm thấy không còn chuyện gì mới lạ nữa.
Hẳn huynh sẽ nói – sau khi đọc bức thư dài của đệ, bức thứ tám (dài hơn mọi bức thư của huynh gộp lại cho đến nay) – chuyện tiền giấy nào có gì mới lạ.
Đúng. Ông cha chúng ta còn nhớ dưới thời “Ngũ Đại” khốn khổ đã tràn lan cái trò tiền giấy càn quấy này rồi. Nên Đức Thái Tổ, thiên tử chí tôn, đấng sáng lập nhà Đại Tống – cầu mong nó muôn năm trường trị – tiên vương nổi danh của đương kim Hoàng đế ta, vừa lên cầm quyền đã đình chỉ ngay tiền giấy cùng nhiều thứ khác.
Chuyện này đã khiến đệ có một vài suy nghĩ: chúng ta có nên phổ biến những nhận thức đệ mang về từ chuyến du hành cùng những gì – phần quan trọng nhất – đệ tiết lộ với huynh trong bức thư này, để người đương thời với chúng ta có thể tham khảo?
Liệu lão thượng thư tài chính Quan Đại Phương sáu ngón chân, kẻ mà đằng nào đệ cũng coi là một tên ngu ngốc khai man, sẽ không tức khắc suy luận từ những tường thuật của đệ rằng trong tương lai xa vời tiền giấy sẽ vẫn đóng một vai trò quyết định trong việc giao dịch thanh toán? và – đệ nói với tất cả tấm lòng tôn kính – liệu Đấng chí tôn (vốn rành rẽ việc nuôi chó kiểng Bắc Kinh và lại càng rành rẽ chuyện ban ơn mưa móc tuyệt vời cho các quý phi, nhưng hầu như mù tịt những chuyện tài chính) sẽ không lập tức đòi sử dụng lại tiền giấy ở đất nước ta? Và rồi sau vài năm – chỉ cần hai vụ mùa thất bát – nước ta sẽ lạm phát thảm hại?
Liệu có tốt hơn không nếu chúng ta giữ những nhận thức này cho riêng mình, dù chỉ vì cực chẳng đã? Có thể huynh sẽ phản đối, rằng chúng ta có nhiệm vụ ít nhất cũng phải tâu lên Hoàng thượng chí tôn về chuyến đi của đệ, phải dâng lên ngài một tờ sớ tóm tắt cô đọng những điều chính yếu, phù hợp với khả năng hiểu biết đơn giản về văn học của ngài. Nhưng ngay cả chuyện này đệ cũng đắn đo. Đệ vừa viết tới chỗ: “nhà Đại Tống – cầu mong nó muôn năm trường trị...” thì cây bút lông của đệ khựng lại, nhưng đệ vẫn viết với điều kiện sau đó, tức là chỗ này đây – sẽ thưa thêm một lời: hoàn toàn không có chuyện triều đại Tống vô cùng xứng đáng này sẽ muôn năm trường trị. Ở đây, nơi mà tương lai chỉ cách ta có một nghìn năm thôi – “chỉ” so với muôn năm – chẳng ai nói đến triều đại Tống nữa, ngay cả một người học cao hiểu rộng như ông Shi-shmi (bản thân là một thầy đồ như ông cho đệ biết) cũng không biết tí gì về húy danh của các hoàng đế chúng ta. Dường như ở đây không còn hoàng đế nào nữa, huống hồ triều đại Tống. Chẳng lẽ chúng ta nên trình điều này trong tờ sớ dâng lên Thiên tử ư? Còn nếu chúng ta lờ đi thì đó sẽ là điều đầu tiên Đấng chí tôn cật vấn. Rồi sao? Câu trả lời sẽ khiến mỗi chúng ta mất một cái đầu, mà mỗi chúng ta chỉ có được một.
Thành ra đệ thiên về giấu nhẹm hoàn toàn chuyến du hành này. Có lẽ thiên hạ không biết gì hết về tương lai của họ lại hay hơn.
Nhưng chính câu hỏi về tương lai triều đại Tống quang vinh của chúng ta đã khiến đệ nghĩ đến vài vấn đề kích động mà lời giải đáp có thể giải thích được cá biệt những điều phi lý mà đệ thường xuyên gặp phải ở đây. Ông Shi-shmi bảo Wi-wel-ba[1] là triều đại cuối cùng ở đây, và Hoàng đế cuối cùng chính là vua Lu-ving thứ ba mập ú đệ đã nhiều lần nói đến. Ông Shi-shmi chẳng biết gì hết về nhà Đại Tống. Khi trò chuyện bọn đệ có đề cập tới địa lý và đệ phải kinh ngạc vì ông Shi-shmi bảo đại dương không ở phía Đông, mà phía Tây. Sao được nhỉ? Biển đã di chuyển rồi ư? Đệ thuật lại dưới dạng vắn tắt về buổi trò chuyện này:
Ông Shi-shmi: Không đâu, Cao Đài thân mến ạ, biển ở phía Tây, tận phía Tây.
Đệ : Nhưng Shi-shmi quý mến, vậy sông chảy đi đâu? Lên núi chăng? Nay nước chảy ngược lên cao à?
Ông Shi-shmi: (cười) Chảy về hướng Đông là con sông lớn tên Tô-nao[2]. Dĩ nhiên nó chảy ra biển, nhưng một biển rất nhỏ[3]. Còn sông I-sal[4], Min-chen nằm trên bờ sông này, chảy vòng vèo rồi đổ vào sông Tô-nao. Nhưng đại dương ở phía Tây, hướng mặt trời lặn. Tin tôi đi, hỡi Cao Đài thông thái và tôn kính, chính tôi đã chu du các nước mà.
Đệ : Hm.
Đến đây thì điều đệ từ lâu âm thầm hoài nghi đã trở thành chắc chắn. Số là khoảng mười ngày trước, có lẽ đó là hôm đệ với ông Shi-shmi vào phố và mua cái shao-bo. Ít ngày sau đệ phát hiện trong căn hộ của ông Shi-shmi một điều khiến đệ bị kích động. Chẳng là đệ được ông Shi-shmi cho phép dùng mọi đồ vật trong nhà ông. Ông bảo ông không có điều gì giấu giếm đệ. Đệ đã làm như được cho phép, không phải vì tò mò chuyện cá nhân mà do khao khát tri thức. Đệ cần nói trước là bọn mũi lõ còn biết cả nghệ thuật in sách. Chúng in thứ chữ lạ lùng của chúng lên cả hai mặt giấy, nhưng là loại rất dày và thô. Thành ra sách của chúng nặng như chì, nhất là khi đóng bìa cứng.
Trong một số quyển, dĩ nhiên đệ chưa đọc được rành mạch, có hình, nên đệ thường thích lục trong các kệ – ông có khoảng nghìn quyển – tìm loại sách này để xem những khi đệ buồn chán và ông Shi-shmi vắng nhà. Những hình này không nằm trên đầu mà rải rác khắp bài văn. Một quyển tên là “Quyển sách về hai thằng bé ngỗ nghịch” có nhiều hình ảnh; hai đứa bé này tên Ma’ch và Mo-lix[5], bắt trộm gà của một góa phụ. Ông Shi-shmi thấy quyển này vui nhộn, còn đệ cho nội dung của nó là đáng phàn nàn về luân lý. Nhưng nhờ quyển này – đệ không rõ sao ông Shi-shmi lại chọn chính nó để dạy đệ – đệ đã học và đọc được thứ chữ ở đây. Nó viết theo thể thơ, nhưng thi luật khác hẳn của chúng ta. Đệ đã đọc được vài câu rồi. Nó đại khái như sau:
“Bậc quân tử phàn nàn,
Rằng người ta không thể tránh khỏi biết
Những ví dụ xấu xa,
Chẳng hạn hành động ác độc của hai thằng bé
Tên là Ma’ch và Mo-lix.
Thay vì nghe lời dạy bảo sáng suốt của người lớn
Chúng lại nhạo báng những bậc khả kính ấy...”
Tác giả bài thơ về hai thằng bé hư hỏng này tên là Vivem-bu[6], nhưng đệ muốn kể với huynh về một quyển khác hẳn. Huynh không đoán nổi đâu. Nó rơi vào tay đệ – theo đúng nghĩa – vì khi đệ rút quyển bên cạnh thì nó tuột ra, rơi xuống và đệ kịp chụp lấy; lúc nó rơi vào tay đệ, đệ thấy như được tình cảm ấm áp – khác nào sau một tuần mưa trời lại nắng – ôm ấp, không khác đang ở quê nhà. Huynh tưởng tượng xem: trên bìa quyển sách (mà tí nữa đệ đã thất kính quăng xuống đất, dù không cố ý) lóe lên, đúng thế, lóe lên những nét văn tự thân yêu của chúng ta, dù chúng in màu đen. Hai nét thôi và đó không gì khác hơn là những nét của từ “Kinh Dịch” thần thánh. Huynh không nhầm đâu: quyển “Kinh Dịch” tôn quý của chúng ta đấy. Đó là một bản dịch sang ngôn ngữ ở đây. Những nét chữ nọ của chúng ta được in trên bìa để trang trí. Nghĩa là thế giới nơi đây chưa phải đã mất? Nghĩa là vẫn còn một sợi dây, dù mỏng và sờn, nối liền bọn mũi lõ với chúng ta, với thế giới của chúng ta và với những gì chúng ta cho là đúng?
Ngay khi nghe tiếng chân ông Shi-shmi về, đệ đã chỉ ông xem quyển sách. Phải, đệ thú nhận đã kích động đến nỗi chạy ào tới ông, chìa quyển sách ra, dù ông chưa kịp cởi áo măng-tô ướt đẫm và hai cái hộp con bằng da cho bàn chân (su-hê[7]) cũng sũng nước. Ông mỉm cười, cởi áo măng-tô và cất dù. Ông dẫn đệ – tay đệ vẫn nắm chặt quyển “Kinh Dịch” thần thánh – vào thư phòng, đồng thời cũng là phòng sinh hoạt chung của bọn đệ, rồi ông đốt một trong những cuộn hiến tế nhỏ và nói ông không ngạc nhiên rằng đệ biết quyển này. Suốt thời gian qua ông quên khuấy nó ở trong số sách của ông, bằng không ông đã cho đệ xem sớm hơn nhiều.
Buổi mạn đàm tiếp đó kéo dài đến quá nửa đêm – may mà đệ đã hiểu kha khá ngôn ngữ của ông, nên có thể tự theo được những diễn đạt phức tạp; ông Shi-shmi ngược lại đã bỏ không học ngôn ngữ của chúng ta qua đệ, ông bảo nó quá khó, có lẽ không thích hợp với ông... đệ có thể hiểu được, vì ông sẽ chẳng đời nào đến với thế giới chúng ta thì ông cần gì biết ngôn ngữ của chúng ta. Bọn đệ không ăn uống gì; riêng ông Shi-shmi đốt vô số vật hiến tế, cuối buổi mạn đàm thậm chí thêm vài cái lớn màu nâu mà ông chỉ dùng trong những ngày lễ. (Đệ vẫn quen gọi đó là vật hiến tế, dù gần đây đệ biết đó không phải một hành động thờ cúng, mà là một kiểu “hút - uống” theo thói quen rất phổ biến ở bọn mũi lõ, chẳng đóng góp gì vào việc giúp không khí được trong sạch hơn. Nhưng tên gọi “vật hiến tế” đệ thấy có vẻ thích hợp, vì bọn mũi lõ nghiện thói quen này như thể bám vào những nghi lễ thiêng liêng. Tuy nhiên đệ phải thú nhận đã thấy thích những vật hiến tế này rồi, song chỉ những thứ thơm tho màu nâu thôi).
Đệ không thể kể lại trình tự buổi mạn đàm, vì sẽ đầy cả một quyển sách. Đệ phải nói trước rằng, vì không thể tránh được nữa nên đệ đã tiết lộ với ông Shi-shmi – đến lúc ấy ông chưa biết gì hết về lai lịch đệ – về chuyến đi vượt thời gian của đệ. Ông bảo sẽ không tin nếu đệ không ngồi bằng xương bằng thịt trước mặt ông và không trưng ra được bằng chứng – đó chính là những thoi bạc rất cổ đối với ông và thế giới của ông. Triết lý của ông, ông nói, không phải một học thuyết phổ biến, chỉ là quan điểm riêng của ông về thế giới mà ông đã tiếp thu được trong những năm tháng của cuộc đời, triết lý ấy cho phép ông coi mọi chuyện đều có thể. Ông ôm đệ và bảo hẳn ở đây đệ rất cô đơn và thế giới, nghĩa là thế giới của ông, dường như lạnh lùng và vô tình đối với đệ. Ông hỏi đệ có cảm tưởng thế giới này của ông đang làm mọi chuyện để đào thải đệ, viên quan Cao Đài già khú đế, như một cơ thể lạ không thích hợp? Có, đệ đáp, đệ có cảm tưởng ấy. Ông ôm đệ lần nữa, bảo ông rất mừng vì ít nhất đã có thể cho đệ được một chỗ trú ngụ an toàn trong căn hộ của ông. Rồi đệ ôm ông, cám ơn và nói rằng ông chớ nên lo lắng thái quá. Một người như đệ, vốn gắn chặt suy nghĩ theo quỹ đạo những lời giáo huấn của đức Khổng Phu tử chí tôn, sẽ làm chủ được tình cảm, cũng như tính hiếu kỳ, nỗi khát khao hiểu biết sẽ át được sự lo lắng của mình.
Sau khi đã nhiều lần cam kết sẵn sàng hết lòng trợ giúp đệ, ông nhìn đệ thật lâu và nói: đệ đừng giận, trước hết ông phải tiêu hóa điều tiết lộ về lai lịch của đệ đã, vì tạm thời ông còn hơi coi đệ như một bóng ma. Đệ cười, khom lưng hai lần (bình thường đệ chỉ làm thế trước một phó tể tướng hoặc một cung phi) và nói: điều này quá rõ, vì ngược lại cả thế giới của ông cũng là một bóng ma đối với đệ.
Nhưng thật ra kết quả cơ bản của cuộc mạn đàm này là: đệ hiện hoàn toàn không ở đế đô Khai Phong của chúng ta, cũng không hề ở Trung Quốc và nó xác nhận tuyệt đối điều phỏng đoán đệ đã nêu ra nhiều lần. Min-chen không ở và chưa từng ở Trung Quốc, mà ở nơi khác. Đệ hiện không đứng trên vùng đất huynh đang đứng, Di Ngô thân mến ạ. Thời gian và không gian đã đảo lộn hết cả. Đệ hiện sống tại một vùng khác của thế giới. Quê hương của chúng ta không chỉ đã biến mất từ lâu mà còn xa lắc xa lơ đối với ông Shi-shmi và đồng bào ông cùng những người đương thời. Họ gọi đất nước chúng ta, vương quốc Trung Hoa tôn kính, là Chi-na. Từ đâu có tên gọi này, cũng như Trung Quốc còn không, đệ vẫn chưa rõ. Đệ hỏi ông Shi-shmi có muốn cùng đi đến đó không. Ông cười rằng xa quá, vả lại có nhiều khó khăn không vượt qua được. Đệ hỏi đất nước của ông, cái vương quốc với thủ phủ là Min-chen, tên gì? Ông bảo nó tên là Ba Yan[8], còn lâu mới lớn và lâu đời bằng vương quốc Trung Hoa tôn kính.
Đệ sẽ còn biết thêm những gì nữa trong thế giới xa lạ này, hở Di Ngô yêu quý hơn tất cả? Nhưng, như đã nói, lòng khát khao tri thức của đệ lớn hơn nỗi lo lắng và sợ hãi. Ngoài ra đệ cũng đã kể với ông Shi-shmi về huynh. Ông nhờ đệ chuyển lời chào.
Nhưng hơn tất cả là lời chào của Cao Đài, người bạn nay trở thành xa gấp đôi của huynh.
❀ ❀ ❀
[1] Dòng họ Wittelsbacher (vít-tân-bắc-khơ)
[2] Sông Danuble, tiếng Đức là Donau (Đô-nao).
[3] Biển Đen.
[4] Isar (I-da).
[5] Marx và Moritz.
[6] Wilhem Busch (vin-hèm bút), 1832 – 1908, nhà thơ kiêm họa sĩ tranh trào phúng nổi tiếng của Đức, tác giả nhiều tập thơ mang nội dung giáo dục thiếu niên do chính ông minh họa.
[7] Schuhe (su hờ): giày.
[8] Bayern (Bay-ờn) tức là bang Bavaria ở Đông Nam nước Đức – song ở đây đôi khi tác giả ám chỉ nước Đức nói chung.