(Thứ Tư, 31 tháng Bảy)
Di Ngô yêu quý,
Bức thư của huynh, cuối cùng huynh đã viết được kha khá dài, như lời chào từ quê hương nghìn năm xa cách đã đem tới cho đệ vô vàn hạnh phúc. Những hàng chữ thân yêu, nhất là những nét chữ quen thuộc của huynh đã khiến đệ ấm lòng khôn xiết, cho dù ở đây mỗi ngày, phải nói là mỗi giờ, đệ đã cảm thấy quen thuộc hơn, gần như ở nhà vậy.
Huynh đừng tiếp tục bận tâm đến chuyện mụ thứ thất của đệ (con cá sấu ngu đần ấy!) thường xuyên gấu ó với mấy nàng hầu của đệ. Mụ luôn thế đấy. Hễ đám vợ con đệ ướm hỏi đệ đang ở đâu, huynh cứ bảo là điều này chẳng liên quan gì đến họ. Việc con ngựa non mãi vẫn chưa bình phục khiến đệ lo lắng. Có lẽ nên mời thú y sĩ Mã Khương từ nước Đại Uyển. Ông ta được coi là tài giỏi nhất. Đừng ngại tốn kém. Tệp giấy vượt thời gian cũng đã đến nơi nguyên vẹn. Chính thất của đệ nên trị mụn nhọt với dầu hạt dẻ. Việc bà nhạc mẫu thứ tư của đệ còn sống khiến đệ rất mừng.
Hơn một tuần nay ông Shi-shmi đã nỗ lực đều đặn dạy đệ học tiếng đến nơi đến chốn. Hảo tâm của ông thật đáng ca ngợi; gặp được ông trong cái thế giới hỗn loạn này là điều may mắn khôn lường. Tuy đối với đệ và cho cuộc sống xa vời của đệ sau khi may mắn trở về được với quê hương nghìn năm xa cách – đệ hy vọng thế – việc thấu đáo thứ ngôn ngữ mọi rợ của tương lai xa vời này hoàn toàn vớ vẩn, nếu không nói là vô ích, song dĩ nhiên đệ vẫn hiểu rằng học thứ tiếng này trong hoàn cảnh trước mắt của đệ là điều quan trọng bậc nhất, để hiểu biết chuyện gì xảy ra ở đây chứ không chỉ nhìn thế giới này với đôi mắt lòa của một con cá ngu đần, câm và lười biếng nhởn nhơ, không bận tâm đến chuyện gì khác hơn là sống sót. Mỗi ngày hai giờ được dành cho việc học ngôn ngữ, một giờ vào buổi sáng, một vào chiều tối. Ông Shi-shmi tỏ ra cố gắng vô cùng và kiên nhẫn tột độ. Đệ tự an ủi rằng qua đó ông cũng có lợi, vì khi dạy ông bắt buộc cũng phải học ngôn ngữ của chúng ta, nghĩa là có qua có lại.
Ông bắt đầu với những khái niệm rất đơn giản. Lúc ấy vào buổi chiều ngày đệ viết bức thư thứ ba cho huynh. Bằng cử chỉ ông ra hiệu cho đệ vào ngồi trong căn phòng lớn nhất căn hộ. (Đệ đoán đó là thư phòng của ông. Thỉnh thoảng đệ thấy ông ngồi tại một chiếc bàn gỗ và viết từ trái qua phải). Đệ nhận ngay ra mục đích: ông Shi-shmi đi tới đi lui vài lần, chỉ vào mình và nói: “tôi đi”. Rồi ông bảo đệ đi và nói: “anh đi”. Đệ lặp lại từng từ một, rồi nói những từ tương ứng trong ngôn ngữ của chúng ta và ông lặp lại. Rồi ông nắm cánh tay đệ, cùng đệ đi vài bước và nói: “chúng ta đi”; rồi ông chỉ ra ngoài cửa sổ – đệ bám chặt ông và cố không chóng mặt – vào một bộ hành: “hắn đi” vân vân. Bọn đệ mò mẫm học như thế từ những thứ thật đơn giản. Đệ không cần kể chi tiết làm gì. Ông Shi-shmi chỉ vào những vật khác nhau rồi nói tên chúng, đệ lặp lại. Đệ cố viết những từ này bằng chữ của chúng ta và ôn nhẩm giữa hai giờ học. Ông Shi-shmi cũng dạy đệ chữ viết ở đây (đệ chỉ cho ông chữ viết của chúng ta). Tất cả đều rất khó, vì đệ thấy rằng hệ thống ngôn ngữ ở đây khác hoàn toàn của chúng ta. Đệ không thể hình dung nổi rằng nó thoát thai từ ngôn ngữ của chúng ta. Hẳn là trong một nghìn năm mà đệ vọt qua ấy đã có những bộ tộc lạ tràn ngập vương quốc và chiếm mất chỗ của con cháu chúng ta. Hay là tuy chúng ta không tính toán sai về thời gian, nhưng sai về địa điểm? Nếu đệ tiến bộ về ngôn ngữ nhanh như bây giờ, chẳng bao lâu nữa đệ sẽ có thể hỏi ông Shi-shmi về điều này. Những khái niệm trừu tượng tương đối đơn giản đệ cũng nắm được rồi: “sáng, tối, lạnh, ấm” vân vân. Rõ ràng càng học thì ngôn ngữ càng dễ dàng và kết quả cao hơn.
Ông Shi-shmi cũng tiến bộ tương tự trong việc học ngôn ngữ của chúng ta, dù nó hoàn toàn xa lạ đối với ông về hệ thống chữ viết. Nhưng ông cũng nỗ lực và rất quan tâm. Ông được lợi nhiều hơn chứ, vì trong khi đệ chẳng làm gì được với thứ ngôn ngữ lạ lùng này khi đã trở về cố hương thì ông lại có thể đọc những kinh thư chúng ta để lại cho đời sau, nếu chúng tồn tại được với thời gian và tình cờ một quyển nào đấy lọt vào tay ông.
Hôm qua ông Shi-shmi hỏi có phải đệ già lắm rồi không. Đệ xác nhận. Ông mỉm cười bảo ông đoán thế qua thoi bạc đệ đưa hồi mới đến. Thoi bạc đã nghìn năm tuổi. Đệ đã kể rồi: ông ấy đoán được chuyện này đấy.
Về “sáng và tối” cũng có nhiều điều để nói. Trong chuyện này thật khó tin rằng không có trò ảo thuật. Ở đây họ không có nến. Khi trời tối, các căn phòng sáng lên nhờ những diễn biến mà tạm thời đệ hoàn toàn không hiểu. Người ta nhấn vào một cái nút nhỏ màu trắng gắn đâu đó trên tường, thế là cùng lúc ánh sáng phừng lên – không phải ở cái nút ấy, mà đâu đó trong phòng. Sáng hơn trăm ngọn nến. Không chỉ ông Shi-shmi khôn ngoan và viên phán quan mới biết cách, mà mọi người: bọn sai nha trong nhà giam, người bán dầu trong cửa hàng, những người khác sống trong tòa nhà này. Thậm chí đệ cũng đã biết. Sau vài lần ngần ngại vì sợ, mấy ngày trước đệ đã thử – kết quả mĩ mãn và hoàn toàn không nguy hiểm. Thế nghĩa là không phải do ảo thuật, ngoại trừ điều này: không có ảo thuật nào cả, vì với mọi hiện tượng đều có lời giải thích tự nhiên, như Trang Tử đáng kính đã khẳng định. Ánh sáng phát ra từ những chiếc đèn lồng hình thù khác nhau, cái bằng thủy tinh, cái bằng giấy, có cái bằng vải, thậm chí bằng gỗ. Ngay cả trên đường phố cũng có những đèn lồng bằng thủy tinh treo trên những cây sào cao – hàng trăm cây. Thành ra ở đây người ta hoàn toàn không biết thế nào là tối thật sự, cũng như họ không biết yên tĩnh nghĩa là gì. Người ta tắt những chiếc đèn lồng này cũng bằng cách ấn nút. Lại có những đèn lồng nhỏ, nút bấm không gắn trên tường mà vào một sợi dây lủng lẳng dưới ngọn đèn. Cạnh giường đệ có một cái như thế. Đôi khi đệ đã có cảm giác như một người dân ở đây: chiều tối lên giường rồi kéo sợi dây gắn nút của chiếc đèn lồng nơi giường ngủ và thế là trời tối – thật ra không tối hẳn, vì những chiếc đèn lồng treo ở đường sáng suốt đêm, rọi qua khung cửa sổ khổng lồ bằng kính kể cả khi đã kéo màn cửa. Mới đầu đệ thật khó ngủ, nhưng nay đã quen dần.
Chúng ta có học thức, sống trong thời đại khai sáng là điều may mắn. Một kẻ ít học trong thời chúng ta, hoặc của những thế kỷ trước, mà được đi du lịch vào tương lai xa xôi này sẽ cảm thấy xung quanh toàn ma với quỷ và mọi thứ không khác trò ảo thuật. Nhưng mà chúng ta biết đã từ lâu, chỉ không nói công khai vì những lý do tôn giáo và chính trị nào đấy thôi, rằng làm gì có quá nhiều quỷ như quần chúng nghĩ và phần lớn những điều dường như là ảo thuật lại có nguyên nhân tự nhiên như đã nói. Theo đệ thấy thì dường như những người sống ở đây trong một nghìn năm qua đã nghiên cứu một cách có hệ thống những nguyên nhân tự nhiên này và sử dụng chúng. Nếu đúng vậy thì đó quả là một thành tích đáng kể của bọn mọi rợ này và vì thế ta cũng nên khoan dung với chúng ở một số điểm. Khoan dung cả với sự ồn ào và bẩn thỉu ư? Đệ chưa rõ.
Đệ biết chúng vẫn còn và luôn tin vào quỷ, nhưng là loại quỷ khác, ẩn sâu sau những sự vật. Ngay cả ông Shi-shmi cũng tin, vì đệ thấy ông thường xuyên cúng kiếng bằng một vật hiến tế nho nhỏ. Vật hiến tế là những cuộn nhỏ màu trắng mà ông ngậm vào mồm và – huynh chớ giật mình – đốt... như người diễn trò nuốt lửa. Nhưng những cuộn nhỏ này không cháy bùng, chỉ âm ỉ thôi, bốc khói và khá hôi. Tuy đã quan sát thật kỹ đệ vẫn không nhận ra ý nghĩa trong những cuộn nhỏ âm ỉ cháy này. (Những cuộn nhỏ này tên là “Tối và sáng”[1] – có thể đó là tên con quỷ). Nhất định đó phải là một hành động sùng bái. Ngoài ra ông Shi-shmi cũng tỏ ra có kỹ xảo đến mức nguy hiểm và gần như khổ hạnh trong việc cúng tế. Ông ngậm cuộn nhỏ này trong miệng cho đến khi nó chỉ còn bằng đốt ngón tay út của đệ mới thôi. Lúc ấy dường như phép phù thủy (một thần chú?) mà ông khá tin tưởng đã hết thiêng, nên mẩu còn lại bị ông chểnh mảng quẳng đi. Đệ quan sát thấy cứ khoảng mỗi nửa giờ ông Shi-shmi lại cúng một cuộn như thế. Ông không bao giờ quên. Ông luôn mang theo trong người một gói con đựng những cuộn nhỏ ấy và ông trữ sẵn khá nhiều trong căn hộ.
Đệ hỏi vì sao ông lại làm chuyện hiến tế này. Ông luống cuống thấy rõ. Hẳn ông xấu hổ vì chuyện mê tín của mình. Tuy ông cười, nhưng câu hỏi của đệ đã khiến ông khá lúng túng. “Chính tôi cũng không biết”, ông đáp. Và ông mời đệ cùng làm chuyện cúng tế đó. Là người đã thoát khỏi sự mê tín, dĩ nhiên đệ từ chối. “Như thế tốt hơn”, ông Shi-shmi nói. Có những lúc – đệ chưa quan sát được khoảng cách chính xác – ông Shi-shmi cúng tế lớn hơn. Các cuộn hiến tế lúc ấy lớn và dài hơn, không trắng mà nâu, âm ỉ cháy được đến nửa giờ và thơm phức. Ông tăng phần cúng tế cho con quỷ “Tối và sáng” hay cho con quỷ nào khác uy lực hơn thì đệ chưa tìm ra được.
Sự mê tín của ông Shi-shmi dường như phổ biến rộng rãi, vì đệ thường thấy tại cầu thang chính, thậm chí trên đường phố, nhiều người vừa đi vừa đốt vật hiến tế. Đệ đã nhiều lần thấy trên vệ đường hình những cái đầu khổng lồ rất thiếu thẩm mỹ: một người mặt sạm nắng, nhe răng trắng ởn đe dọa, tay cầm hoặc ngậm một cuộn nhỏ màu mè rất đậm dùng để đốt hiến tế, còn những cái đầu hoặc hình thù thường to choán đầy bức hình. Đệ chắc chắn mình không nhầm khi cho rằng đấy là những chỗ để tưởng niệm những con quỷ nọ. Mới đầu đệ còn khom lưng ba phần tám trước mỗi tấm biển này, không phải vì đệ coi trọng lũ quỷ ấy hay sợ hàm răng đe dọa của chúng, nhưng là người đã thoát khỏi mê tín nên đệ muốn tỏ lòng kính trọng sự thờ phụng xa lạ. Nhưng vì đệ chưa hề thấy tên khổng lồ nào ở đây từng mặc niệm trước một tấm biển thờ quỷ như thế nên bây giờ đệ không còn khom lưng nữa. Đệ không muốn sùng kính lũ quỷ của họ hơn chính họ.
Đệ cũng phải kể một chuyện đã khiến đệ bối rối. Hai ta – Di Ngô vô cùng thân quý và đệ – từ lâu là bạn tâm giao, nên đệ thấy chẳng cần phải giấu giếm huynh câu chuyện bất nhã này. Hẳn huynh đoán được đệ sẽ viết về chuyện gì – nhưng nói cho cùng thì chuyến du khảo tuy bí mật của đệ vào thời đại xa xôi này nhằm phục vụ khoa học, và để phục vụ khoa học, nhất là phục vụ sự nhận thức thì ta không được phép giấu giếm. Cơ thể yếu ớt và tuyệt đối không hoàn thiện của chúng ta có những chức năng nào đấy đáng ghét cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Đệ không cần phải nói thêm. Trong nhà giam có một cái thùng mà mục đích của nó thật rõ ràng. Mấy ngày liền đệ bị táo bón hành hạ, bệnh cũ ấy mà – hẳn là do kích động, nên chẳng lúc nào đệ phải giải quyết nhu cầu lớn cả. Còn với nhu cầu nhỏ hơn thì đệ giải quyết trong những lúc đi tới điểm liên lạc hoặc những dịp tương tự. Nhưng ở đây, trong căn hộ thoải mái của ông Shi-shmi, khi ruột của đệ sực nhớ tới nhiệm vụ của nó thì thú thật đệ đứng trước một vấn đề phải nói là hết sức cấp bách...
Đệ chưa hề quan sát thấy ông Shi-shmi giải quyết chuyện này[2] như thế nào và ở đâu. Khi bị ruột hối thúc, đệ đang ở nhà một mình. Đệ tuyệt vọng chạy quanh khắp căn hộ – càng lúc càng khổ sở hơn vì quá mót. Đệ không tìm thấy cái chậu nào có vẻ thích hợp cho chuyện ấy. Thế là đệ liền đi tới kết luận rằng ở đây thiên hạ giải quyết những chuyện đáng ghét này bên ngoài căn hộ. Đệ chạy bay tới cầu thang chính. Dĩ nhiên chẳng còn thì giờ mặc bộ an-tsu nữa. Vị phu nhân tài giỏi và có lẽ có địa vị cao[3] lại đang có mặt ở cầu thang (sở dĩ đệ biết được đấy là một phụ nữ vì đã nhiều lần thấy bà cầm dù màu đỏ) – bà có quyền hành gì đấy ở đây, thậm chí có thể là chủ ngôi nhà này, vì đệ thường thấy bà quỳ nơi cầu thang chính, làm những cử chỉ cầu khấn rất trang trọng, đồng thời dùng giẻ xoa dầu lên cầu thang; bà cũng ăn to nói lớn hơn mọi người trong nhà và lũ trẻ rất sợ. Bà sửng sốt nhìn đệ, vì đệ chỉ mặc y phục bình thường chứ không đóng bộ an-tsu. Để ra vẻ bình thường, đệ ít nhất cũng đã cầm theo cái dù. Đệ chạy lên cầu thang. Tận trên cùng, đệ biết, không có ai ở cả. Tới nơi, đệ căng dù tại một góc rồi ngồi khuất phía sau...
Từ đó trở đi đệ thường xuyên làm như vậy. Đệ nghĩ làm thế là đúng. Tuy ông Shi-shmi lộ rõ vẻ ngạc nhiên, khi thỉnh thoảng thấy đệ cầm dù – cả khi trời không mưa – chạy ra khỏi căn hộ, nhưng lúc ấy khả năng hiểu nhau của đôi bên chưa được tốt đẹp như bây giờ để đệ có thể giải thích với ông – hoặc ông giải thích với đệ – về một chuyện mà người ta không dùng từ thô tục, nhưng lựa lời sao cho lịch sự.
Nhưng một ngày nọ, khi đệ vừa mới ngồi khuất sau chiếc dù, phu nhân này thình lình xuất hiện.
Bà kêu la inh ỏi.
Bà chạy ngay xuống gặp ông Shi-shmi và cũng lớn tiếng kêu than rất lâu với ông. Đệ lại phải hết sức chân thành thán phục ông. Ông đã bênh vực đệ. Trong lúc vị phu nhân này kêu than không khác hổ rống báo gầm, như tiếng sấm động đến nứt cả mặt đất, trong lúc tay bà chỉ lên trên và muốn kéo ông Shi-shmi lên đó, ông – có đủ lý do để tức giận đệ – đã vẫy tay ra hiệu cho đệ lẻn sau lưng ông vào trong nhà. Vị phu nhân này mù quáng trước cơn thịnh nộ nên đã không nhìn thấy. Sau đó, ông Shi-shmi đưa cho bà một bức thư màu xanh nho nhỏ, tiếng kêu ca của bà liền nhỏ bớt, nhưng liến thoắng hơn. Phải thêm một bức thư như vậy nữa bà mới thôi ta thán và rút lên trên.
Ông Shi-shmi đóng cửa lại. Đệ phải thú nhận rằng đệ biết mình có lỗi như một cậu học trò đã làm điều sai trái nhưng không rõ đó là lỗi gì. Nhưng ông Shi-shmi mỉm cười khiến đệ ấm lòng làm sao. Ông dẫn đệ tới cái phòng nhỏ nhất trong căn hộ (đến lúc đó đệ vẫn không rõ phòng này dùng vào việc gì) và chỉ cho đệ một kiểu nguồn nước chứa trong chậu sứ. Ông vào bếp lấy một vốc vỏ táo mà ông ăn trước đó không lâu, ném vào nguồn nước. Rồi ông giật một sợi dây xích nhỏ: một tiếng ào thật to vang lên khiến đệ giật thót mình và một dòng nước mạnh cuốn đi những vỏ táo kia.
Đấy – thế là đệ biết cách người ta giải quyết những thứ thỉnh thoảng gây nặng bụng rồi. Điều đệ chưa rõ là: nguồn nước này trôi đi đâu? Nó chảy xuống dưới, rõ rồi. Đệ đã nghiên cứu mọi thứ kỹ càng... theo như ta có thể xét đoán thì nước và mọi thứ nó cuốn theo phải chảy xuống căn hộ bên dưới. Chẳng bao lâu nữa đệ sẽ đủ khả năng hỏi ông Shi-shmi về điều này. Nhà cửa của người ở đây, từ những vật trang trọng nhất đến những vật tầm thường nhất, đều kỳ lạ và khác thường. Dù sao đi nữa: chỉ khi ta chịu thích nghi với chúng, ta mới có thể làm sáng tỏ ý nghĩa và bí mật của chúng.
Nhưng đệ luôn cố tránh mặt phu nhân nọ. May mà đệ nhận ra được bà, phân biệt được bà với những người khác, vì bà quá mập khiến hai cánh tay cứ thõng như vây cá.
Đã đến lúc đệ phải ra điểm liên lạc rồi. Hôm nay là lần đầu tiên đệ ra đó một mình. Đệ không còn sợ sệt gì nữa. Vậy nên đệ chấm dứt bức thư này và chào huynh.
Cao Đài
❀ ❀ ❀
[1] Stuyvesant (stoi-vê-dan): một nhãn hiệu thuốc lá của Đức.
[2] Cao Đài dùng lối nói trại của Trung Quốc: “thay y phục” (Chú thích của tác giả).
[3] Thật ra chỉ là bà quản gia có nhiệm vụ lau chùi dọn dẹp trong chung cư.