(Thứ Ba, 23 tháng Bảy)
Hiền huynh Di Ngô quý mến,
Đệ lại đang ngồi trong một căn phòng tại nhà ông Shi-shmi; đúng ra không phải là nhà, nhưng đệ sẽ giải thích sau. Ba ngày đã trôi qua kể từ bức thư chót của đệ. Tạm thời đệ ở nhà ông Shi-shmi. Cầu Trời phù hộ ông vì ông là một con người – tuy ông trông không giống như thế. Đệ càng ngày càng hiểu ông hơn. Ông dành cho đệ một căn phòng. Tuy nó nhỏ xíu như lều một gã ăn xin, nhưng đệ đã cảm thấy gần như ở nhà mình rồi, trước hết vì ở đây đệ được mặc thứ y phục quen thuộc của ta, trong khi hễ đi ra ngoài là đệ cứ phải lang thang trong một lớp da lùng thùng như ruột heo kinh tởm màu xám mà bọn chúng gọi là an-tsu[1]. Bộ an-tsu làm khổ đệ này gồm lắm thứ rắc rối. Người ta mặc vài ba thứ như ruột heo màu trắng, hai ruột heo màu đen ở hai bàn chân, rồi một chiếc quần xám, rồi một áo khoác mỏng với vô số cúc. Áo khoác này (gọi là hem-hem[2] – song có thể đệ không hiểu đúng) người ta nhét trong quần. Cái cổ của chiếc áo khoác mỏng vốn đã gây khó chịu lại được thít chặt bằng cách buộc quanh nó một dải vải mà công dụng thật mơ hồ.
Dải vải này phải đeo lòng thòng ở độ dài nhất định. Nhiều người đàn ông mang dải vải này và đệ phải thừa nhận rằng chỉ nhờ nhìn vào đó mà đệ nhận ra được – tạm thời – rằng người đeo nó là đàn ông, vì phụ nữ không đeo[3] những dải vải ấy. Chúng có màu sắc khác nhau. Dải vải ông Shi-shmi đưa cho đệ màu đỏ, còn ông đeo một cái màu xanh. Thắt dải vải này là việc cực kỳ phức tạp. Đệ vẫn chưa làm được và ông Shi-shmi luôn phải giúp. Vì đệ hoàn toàn không rõ chức năng của những dải vải này nên đệ cho rằng đó là dấu hiệu của phẩm trật. Đệ mong rằng dải vải màu đỏ tương ứng phần nào phẩm trật quan tứ phẩm và Hội trưởng Thi nhân hội hoàng gia “Nhị thập cửu đài tiển nham bích” của đệ. Phải chăng dải vải màu xanh ông Shi-shmi thắt quanh cổ chứng tỏ một thứ bậc thấp hơn? Đệ rối trí vì không biết về thứ bậc nên không thể có cách cư xử đúng mực. Đệ chưa đủ rành ngôn ngữ ở đây nên chưa thể hỏi về những chuyện phức tạp như thế. Đệ rất muốn biết, tuy đệ không tin rằng phẩm trật của ông Shi-shmi cao hơn của đệ và ông khom lưng đáp lễ đệ đúng y như cách đệ khom lưng chào ông. Đệ hy vọng phẩm trật của ông không quá thấp hơn đệ.
Nhưng đệ nghĩ rằng ông đã giúp đệ rất nhiều, đã hữu ích cho đệ đến thế, không có ông đệ sẽ chẳng biết ất giáp gì nên cho dù nếu ông chỉ là một viên chức mang hàm thập bát phẩm và đã thi trượt kỳ thi hương thứ bảy và kỳ cuối, đệ vẫn yêu quý và kính trọng ông. Trong hoàn cảnh hiện giờ của đệ thì đệ thiên về ý nghĩ rằng phẩm trật và thi hương, thi hội không phải là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá con người.
Nhưng đệ còn lâu mới tả xong bộ an-tsu. Người ta còn mặc một áo khoác dày hơn bên ngoài cái quần, áo khoác mỏng cùng dải vải chỉ phẩm trật nọ. Người ta xỏ hai bàn chân vào những cái hộp nhỏ bằng da cứng kinh khủng, lại còn thắt dây khiến không thể nào bước nổi. Bên ngoài mọi thứ ấy, thỉnh thoảng vào những chiều tối lành lạnh – mà mùa hè ở đây là thế – người ta choàng thêm một chiếc áo cũng màu xám dài hơn đôi chút. Đóng bộ hết tất cả những thứ ấy vào, người ta chẳng khác gì một đứa bé quấn tã, không cục cựa nổi. Hai bàn tay thọc vào ống tay áo thụng như cách chúng ta quen thuộc là hoàn toàn không thể. Ở đây người ta thọc tay vào rất nhiều những cái túi trên quần áo ở những chỗ không ngờ nhất. Nhiều hơn nữa, có thể nói nhiều đến mức khôi hài là số cúc của bộ an-tsu. Một loạt cúc nhỏ nằm ngay chỗ che hạ bộ, vì thế đệ cho rằng mọi chuyện mê tín này là một thứ ma thuật liên quan đến sự phồn thực.
Đệ lang thang ngoài đường phố như thế đấy. Đành vậy, vì đệ chủ tâm quan sát nên không muốn thường xuyên là đối tượng gây ngạc nhiên về mọi mặt. Đệ chỉ mặc an-tsu thôi cũng đã đủ gây chú ý rồi.
Nhưng trước khi tiếp tục trình bày những trải nghiệm trong ngày đầu tiên ở đây, đệ cám ơn về bức thư tuy ngắn song đậm đà thân ái của huynh. Đệ tìm thấy nó nguyên vẹn ở điểm liên lạc, tuy nhiên không thấy những thoi bạc kèm theo như huynh cho biết. Dường như chỉ những tờ giấy đặc biệt vượt thời gian của chúng ta mới phóng qua nổi một nghìn năm mà không hư hao thôi. Thành ra huynh hãy hoãn việc gửi mấy thoi bạc đến tương lai nhé... (thật ngộ nghĩnh khi đệ dùng từ “tương lai” gửi về quá khứ xa xôi đến thế)... mà đệ cũng hoàn toàn không cần tới. Đệ mới chỉ dùng một trong năm mươi thoi đệ mang theo. Ông Shi-shmi đã đổi ra tiền ở đây. (Đệ hoàn toàn tin tưởng ông ấy). Ông đã sắm cho đệ một bộ an-tsu cùng bao nhiêu thứ khác nữa và cho biết – nếu đệ hiểu đúng những cử chỉ của ông – còn thừa nhiều tiền. Thứ đệ cần trong thời gian sắp tới là giấy vượt thời gian, vì thư của đệ gửi huynh khá dài mà lượng giấy dự trữ gần cạn rồi. Vậy lần tới huynh nhớ gửi kèm cho đệ một tệp giấy trắng nhé.
Ngoài ra đệ rất vui vì Tiểu Siêu yêu quý của đệ mạnh khỏe. Nó nhớ đệ khiến đệ mát lòng mát dạ. Đệ cũng nhớ nó. Nếu như được thì đệ đã mang nó theo trong chuyến du hành; nhưng để nó ở nhà thì tốt hơn. Thế giới “ở đây” không thích hợp với tâm hồn nhạy cảm của nó.
Nhưng bây giờ đệ tường trình tiếp nhé: đệ thức dậy khi một tên sai nha mặt mũi cau có nhưng không nham hiểm mở cửa phòng giam, đem cho đệ món điểm tâm trên một cái khay có thể nói là dị hợm, phi nghệ thuật. Sau khi đệ nếm một chút cái khối màu nâu thẫm hẳn được nướng cẩu thả từ loại bột mặn khiếp (đệ thận trọng không đụng tới thứ chất lỏng kèm theo rất nóng và có mùi hết sức lạ lùng), tên sai nha kia quay lại, vẫy đệ bằng chùm chìa khóa. Đệ vuốt áo sống chỉnh tề rồi đi theo y. Y dẫn đệ qua những hành lang dài, ồn ào và bẩn thỉu; mùi hôi hám khiến những người như chúng ta không thể dừng lại lâu, còn bọn ở đây lại chẳng thấy phiền hà gì. Chỉ việc này thôi cũng có thể tốn nguyên một bức thư mới nói hết được. Chính ông Shi-shmi dường như cũng chưa từng biết gì về sự phát minh ra cây nhang.
Người ta dẫn đệ vào một căn phòng lớn hơn đôi chút. Một người, phải, một người ngồi trong đó, tuy y cũng mang gương mặt – nếu ta có thể nói thế được – của những con cua khổng lồ ở đây. Đôi mắt y không giống mắt bọn khổng lồ khác. Đệ đoán ngay – và hẳn là đúng – rằng đây là một viên phán quan cao cấp hơn. Mới đầu có vẻ y cũng bối rối trước diện mạo của đệ. Đệ biết làm sao được: giả thử có một người thời nhà Thương[4] đến với chúng ta, đệ muốn nói là trong thời của chúng ta, thời được Thiên tử, đức Hoàng đế quang vinh và ân đức trị vì, thì đối với chúng ta người ấy cũng lạ lùng và độc đáo không kém một vị khách chẳng hạn từ Tây vực xa xôi, nơi nói thứ ngôn ngữ hơi khác và có những tập tục kỳ quái. Ở đây đệ cũng lạ kỳ như một con thú hiếm – không: như một hòn đá độc đáo. Chúng ta biết rõ tên những hoàng đế và những thi sĩ thời quá khứ xa xôi nhất của chúng ta. Bọn ở đây ngày nay chẳng biết gì hết về chúng ta. Đệ có cảm tưởng chúng không những mù tịt về những hoàng đế cùng những thi sĩ nọ, mà còn hoàn toàn không biết rằng chúng có một quá khứ. Đệ không hiểu nổi làm sao mà trong một nghìn năm qua lại nảy sinh một hố ngăn cách tai hại đến thế giữa cháu chắt của chúng ta và chúng ta, tổ tiên của chúng. Song có thể bọn này thật sự thuộc giống người khác, những kẻ đã xâm nhập, xâm lược, xua đuổi và tiêu diệt con cháu chúng ta. Hoặc giả hai ta đã tính toán sai khi chuẩn bị chuyến đi này của đệ? Phải chăng thay vì một nghìn năm, đệ đã du hành một vạn năm vào tương lai? Nếu thế thì có thể sáng tỏ một số điều.
Bọn người không có quá khứ này hạnh phúc hay bất hạnh hơn chúng ta, đệ còn phải tìm hiểu. Tất nhiên việc biết về quá khứ cũng có thể là một gánh nặng. Đệ chỉ không hiểu nổi rằng có thể có một chủng tộc thản nhiên sống đến ngày hôm nay mà không hề ý thức về danh tính của tổ tiên.
Viên phán quan hay viên chức của triều đình nọ cũng đã thử trò chuyện với đệ, tất nhiên hoài công. Đệ chỉ vào mình vài lần và khom lưng ba phần tám thôi – vì đệ đoán phẩm trật viên quan này nhất định thua đệ – và nói: “Cao Đài”. Thật chậm rãi và rõ ràng: “Cao Đài”. Y hiểu, mỉm cười và viết tên đệ vào một tờ giấy để trước mặt (Chúng viết một thứ chữ hoàn toàn không hiểu nổi, nực cười là theo dòng ngang, từ trái sang phải). Sau đó y cho dẫn đệ trở lại phòng giam khiến đệ thất vọng vô biên. Mặc dù vậy, cho đến lúc ấy tâm trạng của đệ thiên về sự tò mò nhiều hơn. Nhưng khi tên sai nha lần nữa khóa cánh cửa sau lưng đệ, đệ trở nên tuyệt vọng. Hẳn là không ai cô đơn như đệ: bị tống ra xa khỏi thế giới của mình cả nghìn năm, bất lực trong sự hỗn loạn của việc không thông hiểu. Đệ có còn tìm ra được địa điểm liên lạc với huynh nữa không? Không, chắc chắn không nếu không được trợ giúp. Ngay cả chiếc ô-tô đã chở đệ đi bao xa đệ cũng chẳng biết nữa... Ai nói được với đệ rằng không phải một nghìn lý? Đệ bất tỉnh trong lúc xe chạy mà. Ngày đó trong phòng giam đệ tưởng đã vĩnh viễn mất điểm liên lạc, mất sợi dây liên hệ duy nhất của đệ với quê hương nghìn năm xa cách. Vâng, còn những tám tháng nữa – nhưng trong tám tháng ấy bằng cách nào đệ có thể tìm lại được cây cầu nhỏ kia trong sự hỗn loạn này, khi mọi trợ giúp bị cắt đứt, trong một thế giới huyên náo của những con cua mũi lõ khổng lồ, trong một thế giới không ai hiểu đệ? Đệ tuyệt vọng. Đệ đã tưởng tượng mình – ngay cả khi được thả khỏi nhà tù – lạc bước qua thế giới vô trật tự này, hoài công tìm cây cầu ấy... lỡ làng thời điểm quay về... và thế là đệ bị tống vào cái thế giới mờ mịt này, dứt khoát bị cắt lìa khỏi quê hương mà không cứu vãn được, cắt lìa khỏi tất cả, khỏi huynh, khỏi lũ con của đệ, khỏi Tiểu Siêu yêu quý của đệ... tất cả đã chết từ nghìn năm và – xin lỗi huynh – đã rữa nát, thậm chí sự tưởng nhớ cũng tàn phai.
Đệ ngồi trong phòng giam, đầu óc rối bời, như ngồi trên một chiếc cầu không lan can bên trên một vực thẳm, nghĩ tới một bài thơ của Liễu Tôn Nguyên vĩ đại mà hẳn bọn chúng ở đây cũng không còn biết nữa:
“Khi nào về Bắc, hỡi Xuân
Thì xin nhớ ghé đất Tần xa xôi,
Đem vào vườn cũ giùm tôi
Giấc mơ tôi được ở nơi quê nhà.”
Nhưng có gì mà trái tim người không chịu đựng nổi. Đệ ngủ hai tiếng, cũng có thể ba, rồi cửa phòng giam vụt mở và đệ sửng sốt thấy viên phán quan nọ bước vào, kẻ mà đệ đã nhận thấy ở y, trong mức độ nào đấy, một con người. Y vẫn nhớ tên đệ và gọi: “Hel[5] Cao Đài!” “Hel” ở đây là tiếng xưng hô lễ phép. Vì thế đệ lại khom lưng ba phần tám và nói: “Ôi, Hel phán quan được trời gửi xuống, kẻ sâu bọ hèn hạ này xin tri ân về tiếng xưng hô thân mật của ngài. Xin trời ban phước cho tổ tiên ngài, mà có thể tại hạ là một trong số tổ tiên đó”. Tất nhiên y không hiểu, nhưng có thể đoán được ý nghĩa câu nói của đệ, nên đã vỗ nhẹ vai đệ ba lần. Có lẽ đó là một nghi thức tẩy uế. Đệ khom lưng và y chỉ tay vào chiếc cửa mở. Đệ hiểu mình được tự do.
Bức thư hôm nay có bấy nhiêu thôi. Cuộc phiêu lưu thật sự của đệ, đệ cảm thấy thế, bây giờ mới bắt đầu. Ông Shi-shmi đứng chờ bên cạnh từ lúc đệ viết bài thơ trên. Ông biết hôm nay đệ lại muốn đem thư đến điểm liên lạc. Ông Shi-shmi rất ý tứ và đệ tin rằng ông đoán được tâm trạng của đệ.
Cho tới giờ đệ chưa hề đi ra ngoài một mình. Luôn có ông Shi-shmi đi cùng, vì đệ vẫn còn luôn sợ ô-tô, mà từ đây tới cây cầu xa những ba lý. Nhưng đệ không đi lạc nữa rồi. Đệ không lo lắng về chuyện quay về.
Chào huynh, Di Ngô vô vàn thân ái; hãy mau viết cho đệ một bức thư dài hơn.
Cao Đài
❀ ❀ ❀
[1] Anzug (an-xúc): bộ com-lê.
[2] Hemd (hem): áo sơ-mi.
[3] Thật ra phụ nữ Âu châu cũng có mốt đeo ca-vát vào những thập niên 70, 80 thế kỷ trước.
[4] Còn gọi là nhà Ân, khoảng 1700 – 1066 trước Công nguyên (chú thích của tác giả).
[5] Herr: ông (đọc là “he”với âm “r” nhẹ; song phần lớn người Trung Quốc phát âm sai “r” thành “l”, nên Paris mới biến thành Ba-Lê, Rumanie thành Lỗ Ma Ní, Roma thành La Mã...)