(Thứ Hai, 11 tháng Mười Một)
Di Ngô quý mến,
Đệ càng tiếp xúc rộng rãi bao nhiêu, lai lịch của đệ càng dễ bị lộ bấy nhiêu. Tất nhiên thôi. Hồi còn ở nhà ông Shi-shmi và được ông bảo trợ thì đệ chẳng có gì phải lo ngại. Bây giờ đệ ở trong khách sạn này, kẻ ra người vào nườm nượp như chuồng bồ câu. Có hai người biết hoàn cảnh của đệ: nàng Pao-leng và ông Shi-shmi. Ông Shi-shmi coi chuyến du hành vượt thời gian của đệ và việc đệ chỉ là người khách tạm thời trong thế giới của ông là đầy ý nghĩa và ông hiểu việc giữ bí mật nghĩa là gì và quan trọng thế nào. Nếu ông sống trong thế giới của chúng ta thì ông là một người quân tử theo nghĩa Đức Khổng phu tử dạy. Nàng Pao-leng cũng là quân tử, nếu là đàn ông. Đó là điều quý báu nhất mà ta có thể nói về một phụ nữ – ngoài chuyện ca ngợi sắc đẹp của họ. Nhưng đệ không dám chắc nàng thật sự tin điều đệ tiết lộ về lai lịch của mình. Nàng chẳng bao giờ thắc mắc. Có thể nàng nghĩ đệ muốn qua câu chuyện thậm chí vô lý và không tin nổi này che giấu một câu chuyện khác tuy đáng tin hơn, nhưng bất hảo? Đệ đành chịu vậy.
Tại sao đệ lại sợ lai lịch mình bị phát hiện dù đệ không làm điều gì bị cấm đoán qua chuyến du hành vượt thời gian này? Có thể người ta sẽ nhìn đệ như một bóng ma, thật chẳng thú vị gì. Có thể họ sẽ không tin, như thế đệ càng thấy khó chịu hơn, vì lúc ấy đệ chỉ muốn đưa ra bằng chứng, điều đệ làm được. Nhưng khi đó đệ sẽ thành kỳ quan thế giới và không thể quan sát được nữa, vì ngay lập tức đệ sẽ trở thành đối tượng quan sát của nhiều người lạ. Không, tốt hơn, thậm chí bó buộc, đệ cứ âm thầm quan sát, còn chính mình hoàn toàn không lộ diện dù việc này khó khăn tới đâu, vì ngay cả ăn mặc như bọn mũi lõ thì dung mạo đệ vẫn không mấy thích hợp với thế giới này.
Duy-Lân tử đã trở lại đây. Bây giờ ông ở một phòng khác, nhưng cũng vẫn trong khách sạn này. Ông rất hay hỏi, chính vì thế ông trở thành một mối nguy. Tiết lộ cho ông hết mọi điều về đệ như đã làm với ông Shi-shmi và nàng Pao-leng thì đệ thấy không nên. Cho nên đệ cứ luôn phải cảnh giác tìm câu trả lời thích hợp cho những câu hỏi rắc rối của ông. Ông lại nhắc tới buổi trò chuyện qua te-lei-fong với chuyên gia trồng rừng nọ ở Bắc Kinh, đúng là ông dai như đỉa. Lần trò chuyện không thành trước đây không làm ông nản chí. Duy-Lân tử đã khiến bà phụ trách tổng đài te-lei-fong trong khách sạn gần phát điên vì không ngớt phải nối đường dây với Bắc Kinh, mà thường là không thành công. Nối được rồi song thường lại đứt. (Hệ thống đường dây dường như chưa thật hoàn hảo, ít nhất ở tầm xa). Nhưng cuối cùng cũng nghe được tiếng viên chuyên gia, dù rất nhỏ, gần như không nghe thấy. May mà đệ không biết nên nói chuyện gì với y. Sau vài câu xã giao đệ chuyển lời chào của Duy-Lân tử. Viên chuyên gia ở Bắc Kinh, cháu chắt của chúng ta, chẳng còn nhớ được bao nhiêu lễ phép ngày xưa của chúng ta. Mới đầu y tưởng đệ là người Hoa ở Tân Cương nói thứ khẩu âm mà y không hiểu, thứ nữa y chẳng vấn an đệ cũng như hỏi thăm song thân đệ còn không. Y gửi lời chào Duy-Lân tử. Tất cả chỉ có thế nhưng Duy-Lân tử rất vui và đệ hy vọng vấn đề nghiêm trọng này đã được giải quyết.
Một chuyện khác hoàn toàn chưa giải quyết được, mà đúng ra chỉ mới bắt đầu. Nó làm đệ sợ thắt ruột gan, mặt khác lại khiến đệ hết sức tò mò.
Chuyện xảy ra hôm qua: đệ vô tư xuống dưới sảnh, nơi đệ hẹn với Duy-Lân tử uống Mo-te Shang-dong. Ông ngồi đấy – nhưng ai ngồi cạnh ông thế kia? Một cô nàng bằng xương bằng thịt từ Trung Quốc. Đệ khựng lại, nhưng rút lui thì đã quá trễ, vì họ đã thấy đệ. Đệ sửng sốt đến quên cả lễ phép, nhưng – sau đó nhìn lại – vậy mà lại là hay. Một nàng Trung Quốc bằng xương bằng thịt, như đệ vậy, tất nhiên ăn mặc kiểu mũi lõ, tóc cắt kiểu phụ nữ mũi lõ, không bó chân, không mạng che mặt – nhưng rành rành từ Trung Quốc. Duy-Lân tử đứng bật dậy, giới thiệu nàng, vẻ mặt ông cho thấy ông nghĩ rằng thấy nàng thì đệ sẽ vui khôn xiết.
Đệ xin kể ngắn gọn: may sao nàng gốc gác từ một hòn đảo ngoài khơi Phúc Kiến, nay có dân ta ở, nhưng là một Nhà nước độc lập[1]. Nàng nói một thứ khẩu âm rất chướng tai, nhưng bọn đệ vẫn có thể hiểu nhau. Tên nàng là “Tiểu phụ”[2] Chung. Bọn mũi lõ dùng từ “tiểu phụ” để chỉ một người nữ chưa chồng, mặt khác dùng để gọi nữ tiểu nhị trong phạn điếm, dù có chồng hay chưa. Có lần đệ cùng Duy-Lân tử vào một trong những vườn bia xinh đẹp (khi trời đẹp người dân Min-chen hay vào đây, ngồi uống bia bằng cốc vại hoặc cốc nửa lít dưới tán cây dẻ); ra tiếp là một nàng mông bằng hai mông ngựa, hai bàn tay to đến mức khuân được những mười lăm cốc vại một lúc, cao hơn đệ ít nhất bốn cái đầu. Đúng là một núi mỡ. Thế mà Duy-Lân tử gọi nàng bằng: “Tiểu phụ!”. Hôm ấy là một trong những ngày ấm áp cuối mùa thu. Nơi chiếc bàn xa xa có một ông đang ngồi, ông ấy khiến đệ chú ý ngay. Duy-Lân tử nói khẽ: một trong những thi sĩ nổi tiếng nhất Min-chen đấy! Ông tên Si-gi và – nếu đệ hiểu đúng lời Duy-Lân tử – chỉ làm thơ vào mùa hè. Thế là rất khôn ngoan. Đệ muốn “Nhị thập cửu đài tiển nham bích” của Thi nhân hội hoàng gia cũng chỉ làm thơ vào mùa hè thôi. Nhưng họ cứ làm thơ ngày này qua ngày khác, khiến xà nhà cũng phải oằn, dù nắng cháy hay mưa đá.
Thi sĩ Si-gi đã có tuổi, da ông trông như da thuộc. Thoạt nhìn, đệ tưởng ông là một mục tử. Duy-Lân tử nói khẽ: bình thường ông Si-gi ngồi ở đó cùng đông đảo bạn bè và tiếp những kẻ chầu chực xin diện kiến. Được ông mời ngồi cùng bàn là một vinh dự to lớn, còn khó hơn được Thượng khanh của Ba Yan mời ăn tối. Hiếm khi ông Si-gi ngồi đó một mình.
Tuy Duy-Lân tử nói khẽ, nhưng cũng khiến thi sĩ Si-gi chú ý và nhìn qua bàn của bọn đệ. Trán ông nhăn tít rồi ông nói kiểu gọn lỏn thô kệch của người Min-chen: “Mấy người nói về tôi chăng?”. Đệ đứng dậy, khom hai phần ba người và nói: “Quả thật tại hạ đã có hành động không thể tha thứ, đó là nói bằng giọng quang quác chói tai về con người cao quý đáng kính và không dễ được gần gũi như ngài. Nhưng tại hạ mới biết mình có may mắn không đáng được hưởng như thể vừa được trông thấy cầu vồng mọc ở hướng Đông, đó là được hít thở trong sự hiện diện của nhà thơ danh tiếng nhất thành phố Min-chen vĩ đại. Dù kẻ tiểu nhân vô dụng này có phạm tội gì trong tương lai thì cuộc sống vô giá trị của tại hạ vẫn chói ngời nhờ được cùng một tia nắng rọi chiếu ít phút giây bên cạnh ông hoàng của mọi thi sĩ ở Min-chen, của Ba Yan và của toàn thế giới”.
“A, cứ tự nhiên” nhà thơ nói, “ngồi đây để mình trò chuyện một chút”.
Đệ định lễ phép từ chối, chờ được mời ba bốn lần đã. Nhưng Duy-Lân tử đã lẹ làng xốc quần áo, chuyển qua bàn của nhà thơ Si-gi; hẳn ông không muốn lỡ cơ hội hưởng niềm vinh dự vốn còn khó hơn được Thượng khanh mời gặp này. Cho nên đệ cũng chuyển qua bàn của ông Si-gi và không quên lễ phép tái tới tái lui xin lỗi rằng sự có mặt của đệ đã làm hoen ố diện mạo toàn hảo của nhà thơ vĩ đại.
“A, cứ tự nhiên”, nhà thơ khiêm tốn và lịch sự nói, “tôi có khác một người viết bình thường nào đâu, tôi chỉ đơn giản nguệch ngoạc những gì chợt nghĩ ra thôi mà”. Đệ mong một vài vị trong Thi nhân hội hoàng gia “Nhị thập cửu đài tiển nham bích” cũng khiêm tốn được như thế.
Đệ liền đáp rằng sắp tới sẽ nhờ bạn bè mua giúp tác phẩm trác việt vô song của thi sĩ Si-gi để nghiền ngẫm đến cuối đời, dù ánh mắt của đệ sẽ chỉ làm hoen ố những áng thơ cao quý như hoa huệ của ông.
“A, tự nhiên đi mà”, ông Si-gi cao quý lại nói.
“Ông từ Trung Quốc tới à?” ông hỏi. Vừa nói ông vừa xắt một loại củ màu trắng tên là la-đi[3] thành lát mỏng tanh, theo kiểu người vùng này thích dùng với bia. Xắt xong, cứ giữa hai lát ông lại rắc chút muối rồi sắp lại như cũ. “Ở xứ tôi người ta bảo phải để la-đi khóc”, ông Si-gi hạ cố chỉ bảo. Ý ông là phải để muối hút nước từ củ cải.
“Ra thế, ra thế”, ông nói, “ông đến từ Trung Quốc. Ông biết Khổng phu tử chứ?” Đệ bối rối, mới đầu tưởng vớ vẩn rằng ông ám chỉ lai lịch xa vòi vọi của đệ. Đệ mới đáp vu vơ: “Không trực tiếp”.
Ông Si-gi cười ồ, nói đi nói lại rằng ông thích đệ. Duy-Lân tử tuy không được Si-gi tử bắt chuyện nhưng cũng hưởng nhờ ơn mưa móc. Hóa ra ông Si-gi đã nghe nói điều này điều nọ về Đức Khổng phu tử. Đệ kể ông nghe về học thuyết tuyệt trần của bậc hiền giả nơi đồi hạnh. Ông Si-gi tỏ ra rất quan tâm và hỏi luôn mồm. Đệ kể về Mạnh Tử cùng lòng khinh ghét chiến tranh và quân sự của thầy khiến ông Si-gi rất thích thú và về thuyết “chính danh”[4] mà ông nhiệt liệt tán thành. “Việc đính chính khái niệm”, ông nói, “ở nước tôi chưa thật ổn. Ông cũng nhận thấy rồi chứ?” Đệ xác nhận. “Nhà thương điên”, ông nói, “nay người ta gọi là Viện tâm thần, thay vì què người ta gọi là đi đứng khó khăn, người được đào tạo thay vì thợ học nghề... toàn những khái niệm giả trá. Ông biết từ đâu mà ra không? Vì chúng ta đang ở trong một kỷ nguyên giả trá nên mới thế. Việc đính chính khái niệm...” Ông gật gù. “Tiếng nước ông gọi là gì nhỉ?” – “Chính danh”, đệ đáp. “Chính danh... tôi phải ghi nhớ mới được. Khổng Tử của ông quả là thứ dữ”.
Huynh chớ giật mình, không phải ông mạ lỵ đâu, mà “thứ dữ” ở đây biểu thị sự coi trọng và khâm phục hết mức.
Ông với đệ trò chuyện rất lâu. Ông rất tán thành khi nghe đệ nói về thuyết của Tuân Huống[5], rằng con người dễ bảo, nhưng thật ra là xấu. Ông gật đầu: “Đúng, đúng, xấu và ngu”. Ông ngước nhìn những chiếc lá cây dẻ cùng những tia nắng rọi qua rồi đọc một bài của nhà thơ ông yêu thích nhất, cũng là thầy ông, đã tạ thế. (Tên vị thầy này đệ đã yêu cầu ông Si-gi viết ra giấy. Dịch sang tiếng của chúng ta đại khái nghĩa là Khúc.) Bài thơ như sau:
“Phải, hỡi con người, hãy thảo ra kế hoạch đi Và tự cho mình là ngôi sao sáng. Cứ thảo thêm nhiều kế hoạch, Tất cả đều sẽ không thực hiện được”.
Rồi nhiều bạn bè của ông Si-gi lần lượt kéo đến. Không phải với ai đệ cũng thấy có cảm tình. Đệ liền bảo Duy-Lân tử đứng lên, còn đệ khom mình tỏ lòng kính trọng ông cùng các tác phẩm của ông rồi cáo từ. Nhà thơ lớn tiếng gọi theo: “Tôi là người theo Khổng học! Thật đấy!” Xin nói thêm là sau khi củ cải “khóc” rồi, ông lấy dao xiên nhiều lát mời đệ. Về đến khách sạn lâu rồi mà đệ vẫn bị nó làm ợ hơi. Ngoài ra đệ hết sức ấn tượng về buổi gặp gỡ Si-gi tử, người chỉ làm thơ vào mùa hè.
Nhưng sao đệ lại kể về Si-gi tử nhỉ? A, phải rồi, nhân đệ kể về “tiểu phụ” to lớn đẫy đà trong vườn dẻ nọ, về chuyện nước Ba Yan có tên gọi lạ lùng này và về “tiểu phụ” Chung mà đệ đột ngột ngồi đối diện trong tiền sảnh khách sạn.
Di Ngô thân mến, đệ đã nhiều lần kể với huynh rằng một trong những sự kiện khác thường nhất trong thế giới này là vai trò và thái độ của phụ nữ, rằng họ đi đứng như đàn ông và hầu như không lệ thuộc vào đàn ông. Có lẽ điều đệ không ngờ nhất là sau một nghìn năm sự việc lại đến nông nỗi thế. Đệ đã trao đổi rất nghiêm túc với nàng Pao-leng về vấn đề này và đã cùng nàng lật đi lật lại nhiều ý tưởng. Bảo đó là sự suy đồi của tập tục và gắn bó gia đình thì không đúng. Pao-leng bảo đệ hãy thử áp dụng lòng khoan dung, cũng là một điểm cốt lõi trong thuyết của Đức Khổng phu tử, chẳng hạn đối với bọn man di và thương gia với phụ nữ xem. Chẳng nơi đâu trên bầu trời, nàng nói, bảo phụ nữ không thể là quân tử được. Một luận cứ khó phản bác.
Giống nàng Pao-leng – nay đệ đã khám phá ra nàng là cô giáo – tiểu phụ Chung cũng có nghề nghiệp: tiểu nhị bay.
Huynh sẽ hỏi: tiểu nhị bay là gì? Để giải thích đệ lại phải dông dài lần nữa. Thế giới của bọn mũi lõ xa lạ khôn xiết đối với thế giới chúng ta, thành ra hầu như không thể làm cho huynh rõ, dù chỉ về mức độ của sự xa lạ này, vì huynh chỉ biết qua thư của đệ thôi. Không chỉ những sự vật ở đây khác thường, mà cả những khái niệm và quá trình suy nghĩ cũng khác thường. Sự tương đồng giữa thế giới quen thuộc của chúng ta với thế giới này ít ỏi đến nỗi khi đệ muốn diễn tả điều gì đấy thì đệ thường thiếu điểm liên kết. Chẳng khác nào đệ muốn tả con lạc đà cho một con rùa mù. Cả hai con, rùa và lạc đà, đều có bốn chân, một đầu và một cái đuôi ngắn ngủn, đấy là tất cả những gì tương đồng, mà ngay cả chân, đầu, đuôi chúng cũng chẳng có gì giống nhau.
Cho đến nay đệ đã tả cho huynh trong các thư của đệ những hiện tượng khiến đệ chú ý, đã thử giải thích, phân tích tường tận như chính đệ hiểu. Nhưng về tổng thể nó vẫn khác xa hình ảnh thế giới này. Có những hiện tượng, những cách ứng xử, những kỳ lạ – mà đến nay đệ chưa hề nói đến – ảnh hưởng lên toàn bộ cuộc sống và chúng tất nhiên đã khiến đệ chú ý từ lâu và đệ hoặc giải thích được hoặc không. Tại sao thế? Vì đệ không thể cùng lúc mô tả tất cả. Huynh phải hình dung rằng đệ như đứng trước một tấm thảm treo tường khổng lồ với hàng nghìn hình ảnh cùng chủ đề. Mắt tuy nắm bắt – hời hợt thôi – thật nhanh và nhiều thứ cùng lúc, nhưng diễn tả thì khập khiễng.
Vậy nên đệ chưa từng kể chút gì về con rồng bay nhân tạo. Lần đầu tiên đệ thấy nó là khi ngồi ô-tô cùng nàng Paoleng làm một chuyến dã ngoại vùng xung quanh (một cái hồ yên ả ở một nơi có tên Tu-ching[6] đầm ấm). Lúc đó còn là mùa hè, bọn đệ đi vòng một chuyến, thăm nhiều hồ ở phía Nam Min-chen rồi quay về trên một con đường lớn dành riêng cho ô-tô. Khi xe sắp vào ngoại vi thành phố (nay không còn cửa ô nữa; ở những chỗ ấy các đường ô-tô như nan quạt đổ vào vành đai khiến xe cộ thường xuyên dồn ứ lại – đệ được cho biết như thế), đệ thấy không cao lắm trên trời một con rồng sắt màu xám bay qua đầu bọn đệ. Nó bay bình thản và đường bệ, đầu vươn tới trước, cánh xòe ra; nó bay là là thì đúng hơn, cho nên không có vẻ gì đe dọa, vì nó chẳng hề quan tâm đến chiếc ô-tô nhỏ bé của bọn đệ chạy bên dưới, nó bay là là, hiển nhiên sắp đáp xuống rồi biến mất sau những ngôi nhà cao tầng gần đấy.
Giả thử đệ chứng kiến cảnh này ngay khi mới tới đây, hẳn đệ đã sợ đến chết. Nhưng vì đệ thấy con rồng xám hoặc xám bạc này bay sau khi đã có nhiều kinh nghiệm về những hiện tượng ở thế giới này nên đệ không thấy sợ nữa. Nàng Pao-leng cũng giải thích ngay cho đệ: nàng bảo gần đấy có một bãi đất rất rộng được dựng nên để những con rồng sắt này có thể đáp xuống và bay lên. Ít ngày sau bọn đệ tới xem bãi đất ấy, đệ thấy những con rồng sắt này đứng ở đó, nhiều vô kể. Chúng bay ngang dọc trong bầu trời tới nhiều nơi và dễ dàng vượt những chặng đường dài. Thậm chí có cả những con bay tới Trung Quốc rồi bay về. Cho chặng đường này chúng bay không đến hai mươi giờ.
Những con rồng sắt này dĩ nhiên không phải rồng thật, chúng là những chiếc máy. Giống như ở đây có những ngôi nhà sắt chở hành khách qua những con đường đá, thì cũng có những ngôi nhà sắt gắn cánh bay trong không khí. Tại bãi đất lớn cho rồng đệ thấy những chiếc máy này hạ xuống và bay lên. Lúc đó tiếng ồn nó gây ra thật khôn tả, át hẳn tiếng ồn mà bọn mũi lõ cả ngày gây ra. Nó là tiếng sấm dội xuống, khiến ta có cảm tưởng mặt đất sẽ nứt ra. Nhưng nó không nứt. Quả đất (vẫn còn) chịu đựng nổi mọi thứ quả là chuyện lạ!
Một con rồng xám bạc như thế này có thể chở nổi cả trăm hành khách hoặc hơn. Nàng Pao-leng đề nghị mua cho đệ giấy phép đi một chuyến với rồng bay. Nàng bảo nàng thường bay với loại rồng này rồi, hoàn toàn không nguy hiểm. Nàng sẵn sàng bay cùng với đệ. Thú thật đệ cũng hơi muốn, nhưng mặt khác bậc hiền giả vĩ đại nơi đồi hạnh dạy rằng kẻ có hiếu không nên khinh suất đem tấm thân được mẹ cha ban vào nơi nguy hiểm. Nên đệ bảo để đệ suy nghĩ đã, có thể sau này. Rồi nàng không nhắc chuyện ấy nữa.
Tất nhiên những hành khách của con rồng này phải được chăm sóc, vì họ thường bay nhiều tiếng đồng hồ. Đang bay trên trời thì họ đâu thể nào xuống đất nghỉ ngơi dễ dàng được. Vậy nên hành khách có đủ thứ để ăn và uống gần như trong một phạn điếm dưới mặt đất và do các nữ tiểu nhị phục vụ. Đó là một ngành riêng và tiểu phụ Chung là một nữ tiểu nhị bay như thế. Đó là nghề của nàng.
Để khỏi bị nàng hỏi, đệ đã hỏi nàng rất nhiều. Nàng kể nàng gần như thường xuyên bay trên con rồng sắt này, thành ra nàng không còn thấy có gì đặc biệt nữa. Chỉ cảm thấy nôn nao khi thỉnh thoảng con rồng trồi lên hụp xuống trong không khí thôi. Lúc ấy hành khách phải bám cho chặt, nhiều người bị ói mửa. Việc dọn dẹp lau chùi sau đó tiếc thay cũng thuộc vào công việc của các nữ tiểu nhị bay. Nàng bay với rồng từ thành phố này sang thành phố khác. Thỉnh thoảng rồng nghỉ hai hoặc ba ngày, lúc ấy nàng đi tham quan thành phố. Khoảng mỗi tháng một lần nàng lại ghé Min-chen vài ngày.
Duy-Lân tử, tiểu phụ Chung và đệ ngồi với nhau suốt buổi chiều. Nàng không hỏi gì nữa. Người ta – không chỉ bọn mũi lõ đâu – thường thích nói về mình hơn là nghe người khác nói, nhờ thế mà đệ thoát nạn. Bọn đệ ăn trong một phạn điếm rất sang trọng, ốp toàn gỗ và khá yên tĩnh tên là “Hắc Lâm”. Duy-Lân tử là khách hàng quen thuộc ở đó. Ông cho mời bếp trưởng tới – đó là một người mặc đồ trắng – yêu cầu nấu cho đệ món nào không có sữa bò. Đệ đánh bạo hỏi y có món thịt chó hấp không, nhưng y bảo rất tiếc không. Nói chung món ăn rất ngon – họ dọn cho đệ món thịt nai – và thức uống làm tỉnh người. Bọn đệ không uống Mo-te Shang-dong mà là một loại cũng sủi bọt tên là Do-pe-nong[7] và như Duy-Lân tử cho đệ biết thì nó được người sành điệu chuộng hơn và đắt gấp ba Mo-te Shang-dong. Sau đó bọn đệ vào một tửu quán nhỏ nằm dưới mặt đất có tiếng nhạc ồn ào, đèn đỏ và khói thuốc. Quán này tương tự dạ điếm “Thiên Đường”, chỉ khác không có các nàng múa thoát y mà khách tự nhảy với nhau – dĩ nhiên đệ không tham gia. Duy-Lân tử cùng khiêu vũ với tiểu phụ Chung. Đệ không hiểu được cách thức nhảy. Theo đệ nghĩ thì các điệu nhảy của bọn mũi lõ khá thô thiển. Đúng ra chúng không làm gì khác hơn là từng cặp sờ mó nhau và nhún nhảy đôi chút. Khi Duy-Lân tử hỏi đệ có muốn nhảy cùng tiểu phụ Chung một lần không, đệ cúi đầu cáo lỗi, vì không rành nghệ thuật này.
Sau đó bọn đệ về lại khách sạn. Duy-Lân tử khá mệt nên rút về phòng. Tiểu phụ Chung cùng lên phòng đệ. Bọn đệ lại uống một chai Do-pe-nong nữa (hóa ra ở khách sạn cũng sẵn loại này), rồi tiểu phụ Chung cho đệ chung chăn gối. Nàng cũng cởi hết y như bọn mũi lõ. Tuy nàng không bó chân, nghĩa là chân nàng to, nhưng ngực nàng nhỏ như phụ nữ ở ta. Gò âm mao của nàng gợi đệ nhớ đến người thiếp Phương Mai của đệ và đệ lại nhớ nhà. Sau đó tiểu phụ Chung ngủ thiếp ngay. Đệ còn thức lâu, nằm ứa nước mắt nhớ đến ngôi nhà ở phủ Khai Phong, đến huynh, đến Phương Mai và con Tiểu Siêu nhỏ bé dễ thương. Có thể đó chỉ là một chút mềm lòng do uống quá nhiều Do-pe-nong. Sau đó đệ cũng thiếp đi và ngủ yên.
Đệ chào huynh, người bạn xa xôi thân quý.
Bạn già Cao Đài của huynh
❀ ❀ ❀
[1] Ý nói Đài Loan.
[2] Cao Đài “chiết tự” từ “Fräulein” (cô) thành “Frau: đàn bà” và “lein: nhỏ”, rồi dịch là “Tiểu phụ”
[3] Radi (ra-đi): củ cải trắng.
[4] Chính danh: một khái niệm cốt lõi của học thuyết Khổng Tử (chú thích của tác giả).
[5] Tuân Tử.
[6] Hồ Starnberg ở Tutzing (phía Nam Bayern)
[7] Dom Perignon (một loại sâm banh ngon!)