Thư gửi về Trung Quốc xa xưa

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thư thứ hai mươi sáu

❊ ❊ ❊

(Thứ Tư, 4 tháng Mười Hai)

Di Ngô quý mến,

Trước khi Duy-Lân tử đi khỏi – với đệ là vĩnh viễn, vì sang năm ông mới quay lại Min-chen, mà lúc ấy đệ không còn ở đây nữa – bọn đệ còn có một buổi trò chuyện lâu tại tiền sảnh khách sạn. Tuy ông đã kéo đệ vào những dạ điếm thiếu đứng đắn, tuy tính ông đồng bóng, tuy khi quá chén ông thường nói ra những lời ngớ ngẩn, nhưng ông là một người hiểu biết sâu sắc. Đệ phải nói vậy và bây giờ được phép nói ra điều này, vì đệ đã vĩnh viễn từ biệt ông – còn ông cứ tin và mong chờ ngày bọn đệ gặp lại nhau; đệ rất đau lòng khiến ông thất vọng. Tuy chỉ là một nhà thông thái về trồng rừng, nhưng ông suy nghĩ nhiều và đúng đắn về tình trạng thế giới ông đang sống, thế giới của bọn mũi lõ.

Thế giới của bọn mũi lõ đang từng bước suy tàn – đó không chỉ là kết luận rút ra từ buổi trò chuyện với ông, dĩ nhiên nó tiếp nối những ấn tượng đệ có trong lần tham quan xưởng rèn lớn nọ, mà còn rút ra từ những gì đệ quan sát được cho đến nay. Thể chế chính trị thì rối ren, kích thích tính ích kỷ của đám chính trị gia. Hệ thống xã hội thì lộn xộn vì thiếu mọi quyền uy tự nhiên. Gia đình dường như không còn là nền móng nữa. Tôn giáo chỉ là mê tín. Cuối cùng hoạt động kinh doanh quyết định sự vận hành mọi chuyện ở đây.

Duy-Lân tử đã kể cho đệ câu chuyện mang ý nghĩa ngụ ngôn thế này: ông xuất thân từ một gia đình nông dân. Cha ông có một nông trại ở vùng đồng bằng trải dài đến tận biển Bắc. Một năm nọ, bán được vụ mùa bội thu, người cha quá cố của ông quyết định sắm giường tủ mới. Nói là làm. Có điều những giường tủ cũ được đóng bằng gỗ tốt với nhiều chạm trổ từ thời ông bà nội của cha ông. (Người như chúng ta hẳn sẽ tiếp tục dùng những đồ đạc này, bọn mũi lõ thì không, chúng luôn luôn phải có gì mới. Nhưng điều mà đệ thường nhắc tới trong các bức thư không liên quan đến câu chuyện này của Duy-Lân tử). Do lòng hiếu kính, dẫu sao đó cũng là một cử chỉ đẹp, những giường tủ này không bị chẻ làm củi đốt lò sưởi, mà được cất giữ trong một căn phòng không dùng đến trên gác và từ đó không ai đặt chân vào đấy nữa. Những giường tủ này đã bị mối đục. Duy-Lân tử bảo không ngờ nhiệt độ và độ ẩm trong căn phòng quá thích hợp cho mối. Chúng sinh sôi và tìm thấy nơi giường tủ cả một kho dự trữ thức ăn khổng lồ. Chúng to béo và sinh sản nhanh hơn bình thường. Càng lớn, càng béo chúng càng tham ăn và đã gặm sạch giường tủ, cho tới khi mọi thứ rã thành bụi, chẳng còn gì nữa thì lũ mối to béo này lăn đùng ra chết. Bọn mũi lõ đang ở trong hoàn cảnh như thế đấy, không lâu trước khi hệ thống của chúng sụp đổ.

Hoạt động kinh doanh, như đệ vừa nói, cuối cùng quyết định sự vận hành mọi chuyện trong thế giới của bọn mũi lõ. Hoạt động kinh doanh của chúng – cùng với nó là hệ thống tiền tệ, thuế má, thể chế, cuộc sống chung của bọn mũi lõ – chỉ phát đạt khi thường xuyên có thứ mới được tung ra, dù người dân thật sự cần hay không. Duy-Lân tử nói chính xác thế này: hệ thống kinh tế chỉ hoạt động bao lâu mỗi công nhân có một chiếc ô-tô to, dù anh ta không có đủ khả năng sắm. Bọn mũi lõ sống dựa trên sự vay mượn tương lai và chúng sẽ tiêu hết sạch tương lai trước khi nó đến.

Đệ đã nói rằng tôn giáo của bọn mũi lõ là một thứ mê tín chưa nhỉ? Nếu đệ nói thế, thì đệ đã không hoàn toàn công bằng. Tôn giáo của chúng sẽ là cao quý nếu chúng tuân thủ.

Nó tương tự như đạo Lão vậy. Thuyết của Lão tử sẽ là hay đẹp nếu con người ta được sinh ra sao để có thể tuân theo nó. Đạo Khổng không cao quý bằng nhưng trong thực tiễn cao quý hơn, vì người ta theo nó được. Tôn giáo của bọn mũi lõ cao quý, nhưng chúng chỉ tuân theo những điều răn bề ngoài, mà cũng chỉ hời hợt thôi. Tôn giáo không phải là mê tín, nhưng bọn mũi lõ thực hành nó như một thứ mê tín. Những giáo lý chúng thật sự theo là học thuyết Tây và học thuyết Đông mà đệ từng kể với huynh. Tây và Đông ở đây không theo nghĩa như chúng ta hiểu, vì tiêu biểu là ở giữa hai đối cực này không có điểm trung tâm.

Thuyết Tây quan niệm hạnh phúc sinh ra từ sự giàu có; nó còn bảo rằng người nào cũng có bổn phận càng hạnh phúc càng tốt. Thuyết Tây cho lợi nhuận giữ vị trí cao nhất trong các thành quả và bắt nó chỉ phục tùng – về lý thuyết – những tương quan đạo đức nào đấy mà thôi. Những tương quan đạo đức này có thể mang tính tôn giáo mê tín hay luân lý nói chung, nhưng sự phục tùng chỉ thuần lý thuyết thôi. Ngay khi lợi nhuận bị đe dọa, những tương quan đạo đức hoặc sẽ được uốn nắn sao cho không cản trở nó hoặc – đơn giản hơn – không cần đếm xỉa tới. Chẳng hạn người ta biết rằng những làn khói mù mịt, những hơi nước độc hại do các xưởng rèn (cái mà bọn đệ tham quan thuộc loại nhỏ đấy) thải ra từ nhiều năm, từ hàng chục năm, thậm chí nhiều trăm năm, rằng những nước cốt độc hình thành trong các cơ xưởng đã được đổ ra sông rạch, những thứ này đã tạo ra mưa giấm, phá hoại rừng – Duy-Lân tử nói, ông là chuyên gia trong lĩnh vực này. Người ta biết và có thể nêu tên các thủ phạm. Nhưng khi không được phép phun khói độc, các xưởng rèn không thể tiếp tục hoạt động; khi chúng không thể tiếp tục hoạt động, lợi nhuận chung (không chỉ riêng của ngài quản lý tôn kính và những người sở hữu bí ẩn, mà trước hết của các công nhân) sẽ giảm; khi lợi nhuận giảm, họ sẽ mất hạnh phúc – họ nghĩ thế. Thế là tương quan đạo đức trong trường hợp này sẽ được uốn nắn sao cho hầu như không ai đả động tới nữa. Ngài thượng thư Chi (tay Nam man quỷ quái nọ) đứng ra bảo: chẳng có gì nghiêm trọng; ai dám phản bác sẽ bị trừng trị hoặc ít nhất cũng bị tẩy chay.

Điều đặc biệt là mọi thượng thư đều ở trong số những người sở hữu bí ẩn của các xưởng rèn, Duy-Lân tử nói. Kết quả thật dễ hình dung.

Vậy ta có thể nghĩ rằng dân chúng sẽ nổi dậy nếu không khí càng ngày càng nhiễm độc. Nhầm to. Công nhân các xưởng rèn này hợp nhất trong những phường hội khổng lồ. Những phường hội này (tên viết tắt của chúng có nghĩa là “Cho một lần”[1]; đúng là nhạo báng, lẽ ra phải có nghĩa “Lấy vạn lần”) không quan tâm đến gì khác hơn là làm tăng lợi nhuận cho các hội viên, nghĩa là về cơ bản có cùng mục đích như những người sở hữu bí mật nọ và viên thượng thư khai man trước tòa kia, dù họ không thừa nhận. Ngoài ra, Duy-Lân tử nói, những quan lại thế lực nhất và sung túc nhất của các phường hội lại ở trong số những người sở hữu bí mật của những xưởng rèn lớn, phải, chính những phường hội này – với tư cách chủ nhân – đã điều hành một số xưởng rèn... Đó là sơ lược về thuyết Tây chủ trương đề cao lợi nhuận.

Thuyết Đông khác, nhưng không hay ho gì hơn. Nó bảo lịch sử tuân theo một quy luật bất di bất dịch – có lẽ đây là một trong những điều ngớ ngẩn nhất đệ từng gặp phải. Trong khi đó ai sáng suốt quan sát lịch sử đều biết rằng tuy lịch sử tuân theo những quy luật nào đấy, nhưng nó chủ yếu là sản phẩm của sự ngẫu nhiên. Nó như một dòng sông phải chảy về thung lũng theo quy luật. Nhưng chảy như thế nào, nó vòng bên phải tảng đá nọ và bên trái tảng đá kia hay ngược lại, điều này thường tùy vào một viên sỏi ngẫu nhiên chắn trên đường của giọt nước đầu tiên tạo ra dòng sông ấy.

Nhưng thuyết Đông đi từ nhận định rằng lịch sử tuân theo quy luật và người lập nên thuyết này thậm chí đã dám tính toán ra quy luật ấy. Điều này khiến đệ nhớ đến tính ngông cuồng của khoa chiêm tinh.

Thành ra hai thuyết Tây và Đông đối nghịch nhau là chuyện đương nhiên – hai phe không tranh luận trong tư tưởng như hai trường phái triết học (được thế đã tốt), mà ngược lại hẳn: lính tráng hai phe trang bị đến tận răng gầm gừ nhau. Sở dĩ cho đến nay chúng chưa đánh nhau công khai, Duy-Lân tử nói, chỉ vì không bên nào nắm chắc phần thắng. Thỉnh thoảng cũng có đụng độ đâu đó bên lề và bên này đá vào chân cẳng bên kia vài cái. Hơn nữa thì chúng không dám. Duy-Lân tử gọi đó là sự cân bằng của nỗi sợ. Rõ ràng đó không phải là cơ sở cho một thế giới trật tự, trong đó cuộc sống đâm chồi nảy lộc. Nhưng điều này đệ cũng đã nói nhân một chuyện khác rồi.

Thuyết Tây có một ưu điểm nhất định: coi lợi nhuận riêng chính là hạnh phúc dễ khiến từng cá nhân sáng tỏ hơn là bị cưỡng bách tìm hạnh phúc xa vời. Thuyết Đông có ưu điểm là dễ vận dụng hơn. Nhưng sẽ chẳng ai sống sót, điều này không phải Duy-Lân tử nói mà là đệ. Tất cả đều đang như những con mối trong những giường tủ đã bị đục gần hết.

Đệ cũng đã trao đổi với phán quan Me-lon về điểm này. Ông bảo đệ nên công bố một quyển sách ghi lại tất cả những điều này rồi cho bọn mũi lõ xem. Trong hoàn cảnh hiện nay chỉ người ngoài cuộc mới có thể khiến bọn mũi lõ mù quáng, dù theo thuyết Tây hay Đông, mở mắt ra. (Phán quan Me-lon nào biết đệ “ngoài cuộc” đến đâu). Ông đưa đệ một quyển sách của một tác giả mũi lõ viết gần ba trăm năm trước. Đệ đọc và thấy xúc động lạ thường. Ông ta tên là Mo-te-kwjö[2], dòng dõi quý tộc ở một đất nước phía Tây xứ này. Trong quyển ấy, ông ta đóng vai một hoàng tử từ một đất nước xa xôi viết với cái nhìn thận trọng, sâu sắc và phê phán về tình trạng trong vương quốc của bọn mũi lõ thời bấy giờ. Đất nước xa lạ giả tưởng của ông hoàng nọ cũng ở phương Đông... Huynh có thể hình dung được đệ đã xúc động mãnh liệt nhường nào lúc đọc nó. Thật dễ hiểu là khi đưa trả quyển sách, đệ không thể nói hết với ông Me-lon nỗi xúc động của mình, mà chỉ hỏi: quyển sách của ông Mo-te-kwjö đáng kính này có tác dụng gì chăng? Ông Me-lon bảo có, nhưng phải thú nhận không nhiều.

Cho nên đệ sẽ chẳng phí thì giờ viết một quyển sách cho bọn mũi lõ, mà tuân theo lời dạy của bậc hiền giả đồi hạnh: “Tử nói: phê bình những học thuyết lạ là nguy hại”.

Chào huynh.

Cao Đài

❀ ❀ ❀

[1] Ý nói các công đoàn (Industriegewerkschaft) viết tắt: IG. [Tác giả chú thích: trong tiếng Hoa I-gei nghĩa là “Cho một lần“].

[2] Nam tước Montesquieu (1689 – 1755): nhà văn, triết gia, nhà tư tưởng chính trị Pháp, người đã đề xướng thuyết “Tam quyền phân lập“: ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước nhất thiết phải phân quyền và độc lập. (Gần một nghìn năm sau, cháu chắt của Cao Đài đã “Hán hóa” Montesquieu qua cái tên Mạnh-Đức-Tư-Cưu.)

Người dịch: Lê Chu Cầu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.