(Thứ Ba, 4 tháng Hai)
Di Ngô quý mến,
Huynh có lý khi trách đệ – dẫu sao cũng là Hội trưởng Thi nhân hội hoàng gia “Nhị thập cửu đài tiển nham bích” – đã không có được một lời nào về tình hình văn học trong thế giới của bọn mũi lõ. Lý do không phải vì đệ đột nhiên không còn quan tâm đến văn học nữa, mà chính vì bọn mũi lõ ngày nay không còn văn học nữa. Chúng chỉ còn sách thôi.
Từ khi đệ nắm khá vững ngôn ngữ của bọn mũi lõ và từ khi đọc được chữ viết của chúng, đệ cũng đã cố làm quen với văn học của chúng đấy chứ. Đệ đã đọc, thấy thích một số, một số không thích, nhiều tác phẩm đệ không hiểu. Không có một thứ văn học chung của bọn mũi lõ, giống như đệ tình cờ biết rằng chúng không có ngôn ngữ chung. Nghĩa là khi đệ bảo rằng đệ nói và hiểu tàm tạm ngôn ngữ của bọn mũi lõ thì nghiêm khắc mà nói là sai. Đệ nói tiếng của người vùng Ba Yan, thứ tiếng ở đây và vài vùng núi cho tới vùng biển phía Bắc. Nàng Pao-leng, ngoài thứ tiếng của người vùng Ba Yan, còn nói thứ tiếng của cư dân trên hòn đảo lớn phía Tây[1]. Nàng dạy học sinh cách dùng thứ ngôn ngữ này. Ngoài ra nàng còn nghiên cứu văn học của cả hai ngôn ngữ. Nhờ trò chuyện với nàng mà đệ có thể trình bày sơ lược với huynh về văn học của ngôn ngữ Ba Yan (cũng được gọi là “ngôn ngữ Đức”[2]).
Những cứ liệu cổ nhất về nền văn học này không quá xưa so với thời đại chúng ta đang sống – nghĩa là thời đại huynh đang sống, còn đệ sắp trở về. Nhiều ba-lát khá tàn bạo của thời đại này được truyền lại, nhưng chẳng ai hiểu nổi vì ngôn ngữ quá thay đổi – khác với ở chúng ta. Có lần nàng Pao-leng bảo nếu một tay mũi lõ của thời những bài hát tàn bạo kia sống lại, hẳn mới đầu nàng cũng không thể hiểu hắn hơn đệ.
Vài thế kỷ sau người ta coi việc làm thơ bằng thứ ngôn ngữ La-tinh – hồi đó đã chết dần mòn – mới là giỏi và có học thức. Dĩ nhiên ngày nay chẳng ai hiểu được loại thơ ấy nữa. Ít lâu sau, vào khoảng thời xảy ra cuộc chiến tranh kéo dài ba mươi năm[3], người ta nhớ lại “ngôn ngữ Đức”, nhưng nàng Pao-leng nói các thi phẩm thời bấy giờ quá cầu kỳ hoa mỹ, khiến không thưởng thức nổi. Mãi khoảng hai trăm năm trước đây mới có một vị thầy tên là Le-sing quen thuộc với chúng ta (với biệt danh là: “được Chúa ưu ái”[4]) mà nàng Pao-leng đánh giá cao và bây giờ vẫn có những tác phẩm đọc được. Theo một nghĩa nào đấy tiếp nối ông Le-sing được Chúa ưu ái này là hai nhà thơ mà bọn mũi lõ (bọn mũi lõ ở Ba Yan, đệ phải giới hạn) ca tụng là hai vì sao và đỉnh cao văn học của chúng. Một người được gọi là “Từ trên xuống”, người kia là “Tiến lên trên”[5]. Đệ đã đọc thơ của họ và rất có ấn tượng. Sau đó, nàng Pao-leng nói, văn học không còn đi vào chiều sâu nữa. Nhiều nhà văn, nhà thơ chỉ làm công việc bình luận ngài “Từ trên xuống”. Song đột nhiên xuất hiện một khuynh hướng mới trong văn học, coi tất cả từ trước đến nay là vô giá trị và chủ trương diễn tả thế giới đúng với bản chất của nó. Chuyện này không thể được (đây không phải ý kiến của nàng Pao-leng, mà của đệ), vì bọn mũi lõ hoàn toàn không có khả năng nhận xét thế giới như nó vốn tồn tại (như đệ đã viết trong bức thư cuối). Một trong những nhà văn nổi bật – nàng Pao-leng nói – là “thuyền trưởng vĩ đại” mà người ta hay nhầm với ngài “Từ trên xuống”, khiến “thuyền trưởng vĩ đại” rất lấy làm thú vị.
Văn học của một trăm năm gần đây hoàn toàn không rõ ràng. Có thể nói theo lời nàng Pao-leng là ai muốn viết gì cứ viết. Càng không tuân theo quy luật, càng nổi tiếng. Vì không phải theo quy luật nên ai cũng có thể sáng tác được – rõ ràng là thế. Vì làm thơ và viết văn thoải mái hơn, ít vất vả hơn, sạch sẽ hơn nhiều công việc khác, nhất là lại danh giá hơn, nên hầu như cứ hai người là có một người cầm bút. Âu đây cũng là hậu quả gián tiếp của sự kiện hầu như thuở bé ai cũng bắt buộc phải tập đọc và viết. Thành ra phải nói rằng việc giáo dục phổ thông đúng ra là tốt, nhưng lại nảy sinh mặt tiêu cực: vì ai cũng viết, nên vinh quang cũng ngắn ngủi. Rõ ràng thế.
Nàng Pao-leng thỉnh thoảng lại đưa đệ vài quyển để đệ đọc. Nàng bảo đó là những quyển nàng thích; nàng không dám cho rằng qua đó đệ sẽ có ấn tượng toàn diện về văn học của bọn mũi lõ; ngược lại, nó phiến diện thì đúng hơn. Nhưng dù có ở đây một trăm năm, đệ cũng không thể nào đọc tất cả.
Đệ đọc một quyển rất dày của một tác giả sống cách đây một trăm năm. Tên quyển sách là: “Mùa hè muộn”, rất chân thật và bình dị. Đệ không nhớ tên tác giả. Ông ưa chuộng hoa hồng – ít nhất là trong tác phẩm này. Nói chung quyển sách hoàn hảo và nhẹ nhàng. Sau đó đệ đọc một tác giả hiện đại hơn. Quyển sách có tên “Vụ án”[6], u ám và tàn nhẫn, tả một người bị những thế lực vô danh truy bức mà không chống cự nổi – như thể đi lại nhọc nhằn trong giấc mơ. Quyển thứ ba có tên “Lầm lẫn và lúng túng” đệ hầu như không hiểu, viết về những vấn đề mà đệ hoàn toàn không rõ. Đệ nói với nàng Pao-leng và nàng thất vọng, vì nàng đánh giá cao tác giả là một người viết tiếng Đức vừa hết sức tao nhã vừa vô cùng mộc mạc. Nàng bảo có lẽ vì đệ không biết bối cảnh và thời điểm của câu chuyện. Có thể. Lẽ ra nàng không nên đưa nó cho đệ đọc.
Sau đó đệ đọc một quyển thật dày mà tác giả lạ lùng sao lại chỉ được gọi là “Người đàn ông”[7]. Đây là một câu chuyện tỉ mỉ và phần nào hài hước về một gia đình càng ngày càng gặp khó khăn. Đệ thích quá, nên muốn đọc thêm một quyển khác của “Người đàn ông”, nhưng rồi thất vọng. Quyển này còn dày hơn quyển trước, gọi là “Ngọn núi phù thủy” chỉ nói về những người bị bệnh phổi. Quyển thứ ba “Học giả nắm chặt bàn tay” cũng của tác giả này, nhưng chỉ sau vài trang đệ không đọc nữa.
Nhìn chung thì tình hình văn học của bọn mũi lõ khác hẳn ở ta và hết sức kỳ lạ. Như huynh có thể thấy qua phần tóm lược của nàng Pao-leng mà đệ thuật lại ở trên thì văn học cổ điển hầu như không được đọc. Vấn đề này liên quan đến chuyện ngôn ngữ của chúng thay đổi nhiều. Người ta hầu như không còn biết tên các tác giả cổ điển. Điều này, theo đệ nghĩ, do bọn mũi lõ thiếu lòng tôn kính. Chúng coi thường cái cũ và nhắm mắt coi cái mới là tốt hơn. Đệ nhớ đã có lần dùng ví dụ này: một cái trục xe ngựa cũ mòn, chắp vá dĩ nhiên không tốt bằng một cái mới. Điều này cũng đúng với nhiều chuyện trong cuộc sống hằng ngày. Một tấm thảm mới dùng thích hơn một tấm cũ đã sờn, một chiếc đèn dầu mới đắc dụng hơn một cái cũ đã nứt, một chiếc áo mùa đông mới bằng lông mặc ấm hơn một cái cũ đã sờn và sứt chỉ. Bọn mũi lõ mở rộng quan điểm này tới mọi cái cũ, kể cả triết học và văn học. Thiếu lòng tôn kính là như thế: chúng cho rằng triết học mới và văn học mới đương nhiên hay hơn những thứ cũ. Chúng áp dụng chuẩn mực dành cho cái trục xe ngựa, tất nhiên là hoàn toàn vớ vẩn, vì chuẩn mực này chỉ đúng ở những vật bị hao mòn qua sử dụng. Có bao giờ một bài thơ bị hao mòn vì được đọc thường? Bọn mũi lõ quan niệm thế đấy. Có lẽ chúng không thể khác được, vì về cơ bản chúng nhìn mọi vật dưới quan điểm hữu dụng cho nên chúng chuộng loại văn học đem lại hữu dụng – một quan niệm lệch lạc. Chúng gọi đó là văn học kết hợp, tức là loại văn học bàn về chính trị và xã hội, trong đó tác giả đấu tranh quyết liệt cho sự hữu dụng. Quan điểm chính trị của tác giả quan trọng hơn văn phong. Hợp lý thôi, vì quan điểm chính trị quả thật cũng hư hao như trục xe ngựa. Thành thử bọn mũi lõ phải luôn luôn trưng ra cái mới.
Như huynh biết, mới đầu đệ hoàn toàn không chắc rằng chuyến du hành này, mà thú thật đệ thực hiện chỉ vì tò mò, có hữu ích cho đệ và tâm hồn đệ đã rất mệt mỏi nơi thế giới xa xôi và lạ lẫm này. Nay đệ hiểu rằng mình đã tiến một bước quan trọng. Mãi bây giờ, luống tuổi rồi, đệ mới nghĩ rằng chuyện phát triển của mình đã kết thúc – không phải vì đệ đã được làm quen với những tiện nghi ở đây, không phải vì đệ đã biết thế giới xa lạ này như thế nào, mà vì đệ rõ được sự khác biệt giữa ý định quan sát con người như họ vốn có và sự cố gắng suy nghĩ họ nên như thế nào. Đệ đã trò chuyện với nhiều người về vấn đề này. Bọn mũi lõ chỉ suy nghĩ xem con người nên như thế nào. Sao lại thế? đệ luôn hỏi họ. Vì chúng tôi muốn thúc đẩy con người trở thành những người mà họ nên trở thành, họ trả lời. Quá ư phi lý, đệ nghĩ chứ không nói ra. Chưa kể có hàng trăm quan niệm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau rằng con người nên như thế nào, cho nên con người thế nào thì sẽ vẫn thế ấy. Tựa như mèo săn chuột, con người tìm lợi thế cho mình và xưa nay con người mạo hiểm để được lợi hơn người khác, vậy nên lao tâm khổ tứ mà làm gì. Nhưng bọn mũi lõ không mệt mỏi suy nghĩ, mong có được một thế giới công bằng và hạnh phúc. Người cho rằng điều này có thể thực hiện được khi các bậc hiền giả được trao quyền lãnh đạo quốc gia, kẻ khác cho rằng có thể được khi ai cũng có được nhiều hơn cần thiết, người thứ ba quan niệm rằng chỉ cần phân chia của cải công bằng... vớ vẩn hết. Đó chính là bước tiến của đệ: nhận thức ra được rằng nơi bọn mũi lõ không có bước tiến nào cả.
Từ ba nghìn năm nay – theo cách tính của bọn mũi lõ – các bậc hiền giả đã xác định không thể có thiên đường thật sự. Họ chưa từng thống nhất ý kiến với nhau ở một điểm nào khác. Nhưng bọn mũi lõ không muốn chấp nhận. Chúng tự lừa mị rằng qua tiến bộ sẽ đạt được thiên đường, cho nên thế giới này băng hoại. Tuy nó không liên quan trực tiếp đến một trong những hiện tượng đầu tiên mà đệ nhận thấy ở đây, đó là mùi hôi thối, song ngẫm lại đệ thấy nó không khác gì một dấu hiệu rõ rệt.
Do đó không thể chờ đợi khác hơn rằng bọn mũi lõ chuộng văn học mới hơn văn học cũ, cho rằng chúng hay hơn văn học cũ. Hầu như tất cả những gì được trước tác bằng ngôn ngữ Đức ở Min-chen và Ba Yan đều bàn về tình huống kỳ lạ mà vương quốc của cựu hoàng đế Đức đã gặp phải. Để huynh hiểu, đệ lại phải dông dài. Đệ nhớ đã kể huynh nghe về hoàng đế cuối cùng của Đức quốc rồi: ông Shi-shmi bảo ông này ngu đần và là người thứ hai mang đế hiệu Wi-li[8]. Khoảng bảy mươi năm trước tính từ bây giờ, Wi-li ngu đần này đã gây ra chiến tranh và thua trận. Ông bị truất phế và rút về ở một lâu đài, từ đó chỉ lo cưa gỗ. Một tay vốn là thợ sơn nhà[9] đã lợi dụng tình hình rối ren sau vụ phế truất để trở thành nhà độc tài. Nhà độc tài này dĩ nhiên cũng mường tượng con người nên như thế nào. Điều mường tượng của hắn cũng đơn giản: hắn tuyên bố thiên đường trên trái đất sẽ đạt được khi nào thế giới chỉ còn toàn người tóc vàng. (Đệ đã xem hình tay sơn nhà này rồi: chính hắn tóc lại không vàng. Thật khó hiểu). Tay soán quyền này cũng đã gây ra một cuộc chiến tranh và bị đánh tơi tả. Nghĩa là không phải chính hắn bị đánh, mà quân đội của hắn thôi.
Sau khi kẻ soán quyền bị lật đổ, đất nước này bị chia đôi. Một nửa theo thuyết Tây, nửa kia theo thuyết Đông (Đệ đã kể về hai thuyết này rồi). Dù thuyết nào đúng đi nữa, cũng có thể cả hai, thì việc một đất nước bị chia cắt vẫn là một diễn biến đầy kích động. Nước Trung Hoa tôn kính của chúng ta đã bao lần bị chia cắt thành nhiều tiểu quốc, rồi lại hợp nhất. Lý trí và đạo đức có phương hại gì đến sự hợp nhất ấy không? Tất nhiên sẽ là tốt nếu trong một vương quốc rộng lớn người cai trị có phương tiện đồng nhất hóa một số điều thực tiễn: chiều dài trục xe ngựa, tiền tệ, đơn vị đo lường[10], điều này không ảnh hưởng gì đến đầu óc con người. Một minh quân làm được nhiều điều tốt trong một đất nước rộng lớn hơn là ở một nước nhỏ – một hôn quân cũng gây nhiều chuyện càn quấy hơn. Vì minh quân ít hơn hôn quân nên đệ luôn luôn hoài nghi đối với những vương quốc lớn. Há chẳng phải nhị vị hiền giả tôn kính nhất của chúng ta, Khổng phu tử và Lão tử, đã từng sống và dạy học ở những tiểu quốc ư?
Bọn mũi lõ lại không nghĩ như thế. Chúng cho là đại họa không tưởng tượng nổi khi lãnh thổ của chúng bị xâm phạm. Hẳn đám chính trị gia mũi lõ chỉ suy nghĩ trên cơ sở bản đồ. Tiền mất giá, dân chúng di cư ra nước ngoài, thương mại giảm sút, văn học trì trệ và lụi tàn, sao cũng được, miễn lãnh thổ không suy suyển. Chúng coi đất nước như một vật hữu cơ cố định, thành thử khi bị mất đi một tỉnh hay một làng, chúng kêu gào như bị chặt mất một bàn chân. Từ khi lãnh thổ của chúng bị chia thành hai Nhà nước, bọn mũi lõ của nước Đức có cảm tưởng thân thể chúng bị phân đôi.
Khoan – ở đây đệ phải sòng phẳng nói tới quan niệm của phán quan Me-lon, trùng hợp với suy nghĩ của ông Shi-shmi ở điểm này: không phải người dân cảm thấy bị phân đôi, mà đám chính trị gia xoen xoét bảo người dân cần phải cảm thấy như vậy. Sự thật là đám mũi lõ – ít nhất ở phía Tây nước Đức – hoàn toàn chẳng quan tâm đến việc này. Bên phía Đông có khác, phán quan Me-lon nói, nhưng cũng chỉ vì người dân ở đấy khổ hơn bên này, bằng không thì họ cũng thờ ơ thôi.
Tuy nhiên ở bên này, việc chia cắt đã trở thành một luận thuyết tầm vóc Nhà nước mà ai cũng phải hùa theo nếu muốn thăng tiến trong cuộc đời công chức. Điều này cũng đúng với văn học – và đệ trở lại khởi điểm. Chỉ những thơ văn than khóc về chuyện chia cắt này và mong muốn thống nhất là được coi trọng. Nàng Pao-leng bảo chỉ những tác giả từ vùng theo thuyết Đông chạy sang bên này và ở lại là gặp may thôi. Họ được coi là thật sự chân thành và đầy uy tín. Đệ đã đọc vài tác phẩm của họ. Hẳn huynh hiểu đệ đã chẳng hơi đâu nhớ tên của họ làm gì.
Di Ngô trung hậu ơi, chỉ vài ngày nữa ta sẽ gặp lại nhau. Ngay từ bây giờ đệ cám ơn huynh đã lo mọi chuyện trong thời gian đệ vắng nhà.
Chào huynh và mãi là bạn của huynh.
Cao Đài
❀ ❀ ❀
[1] Tiếng Anh.
[2] Tác giả chú thích (dịch theo ý): sở dĩ có tên nước “Đức” chính vì Trung Quốc trọng thị người dân nước này có nhiều “đức tính”.
[3] Cuộc chiến tranh 30 năm: từ 1618 đến 1648 giữa một số nước Tây, Trung và Bắc Âu giành quyền bá chủ - dựa trên chiêu bài tranh chấp tôn giáo.
[4] Gotthold Lessing (Lét-xing), 1729 –1781, nhà thơ Đức.
[5] Tác giả chú thích: có lẽ Cao Đài muốn nói đến Goethe (1749 – 1832) và Schiller (1759 – 1805), hai nhà thơ cổ điển lớn nhất của Đức.
[6] Tiểu thuyết “Der Prozess” của Franz Kafka (1883 – 1924), nhà văn Tiệp gốc Do Thái, viết tiếng Đức.
[7] Tác giả ám chỉ Thomas Mann ( Mann: người đàn ông), 1875 – 1955, giải Nobel văn học năm 1929. Ba tác phẩm được Cao Đài nói tới là “Die Buddenbrocks – Gia đình Buddenbrock”, “Der Zauberberg - Núi thần” và “Dr. Faustus - Tiến sĩ Faustus”.
[8] Wilhem II (gọi tắt là Vi-li), 1859 – 1941, hoàng đế cuối cùng của Đức. Năm 1918, sau khi thua Thế chiến I, ông buộc phải thoái vị và sống lưu vong ở Hà Lan cho đến cuối đời.
[9] Đúng ra Hitler không phải thợ sơn nhà, mà là họa sĩ không chuyên và thi trượt vào trường mỹ thuật Vienna (Áo), có thời phải bán ký họa tự vẽ để kiếm sống.
[10] Tác giả ám chỉ Tần Thủy Hoàng đã thực hiện những thống nhất này, cả trong chữ viết.