(Chủ nhật, 20 tháng Mười)
Di Ngô bằng hữu thân mến,
Rốt cuộc mùa thu đã đến rồi. Cây lá đã thay màu. Hôm nay là ngày thu đầu tiên có trăng, song chẳng tên mũi lõ nào quan tâm đến chuyện này. Nghe đệ nói, nàng Paoleng chỉ đáp vắn tắt: “Thế à?” Bọn mũi lõ không những đã đánh mất mối quan hệ với sự vật, mà thậm chí chúng mất luôn cả ý nghĩa về sự cần thiết của mối quan hệ, cho nên chúng không cảm thấy sự mất trật tự của chúng là mất trật tự.
Thế thì ta có thể tự hỏi (nếu ta suy nghĩ theo kiểu của bọn mũi lõ chuyên lật tới lật lui vấn đề, hệt như chúng luôn chạy tới chạy lui) chẳng phải là tốt ư, nếu ít nhất chúng không cảm thấy sự mất trật tự là mất trật tự, khi đằng nào chúng cũng sống trong sự mất trật tự rồi? Phải chăng mất trật tự, một khi ta không cảm thấy, chính là trật tự?
Một tay mũi lõ nếu nghĩ được tới đó, sẽ không chần chừ xác nhận câu hỏi này ngay. Sở dĩ thế là vì chúng đã mất đi mối quan hệ với sự vật và đã thay ý thức về mối quan hệ này bằng sự quan trọng hóa cá nhân chúng mà chúng cho là lớn lao. Chúng ta, bạn thân mến ạ, nhờ giáo huấn của Khổng phu tử và các môn sinh của ngài, có được một kiến thức vững vàng về trời tròn và đất vuông, tối và sáng, năm phương trời, bốn mùa và ngũ cốc. Sự hình thành thế giới của chúng ta là hoàn hảo (như bộ xà nhà chính cống được lắp ghép), đâu vào đấy một khi chúng ta tuân thủ những điều kiện sẵn có. Và khi muốn biết thế nào là chân lý, chúng ta chỉ cần tìm hiểu kỹ trong các kinh thư “Luận Ngữ” hoặc “Lễ Kí” bất tử.
Tất nhiên thế giới của chúng ta không phải lúc nào cũng tốt cả. Chúng ta biết rất rõ, vì thế hệ chúng ta đủ lớn để từng trải những tội ác khủng khiếp, kinh tởm của chiến tranh thời Ngũ Đại, và phải chờ đến khi được đức Thái tổ tôn kính (chẳng may sớm băng hà), người đã sáng lập nên triều Tống của chúng ta giải thoát. Nhưng những tội ác khủng khiếp này, những nội chiến này từ đâu mà ra? Từ sự mất trật tự. Từ việc phong tục tập quán xưa không được tuân thủ khiến người ta không còn xem lời giáo huấn của nhân dân là quan trọng nữa, khiến em không tuân phục anh, con cái không kính cha sợ mẹ, các vương hầu không chọn người xứng đáng làm tể tướng, thượng khanh mà lại cất nhắc bọn khua môi múa mỏ.
Rõ ràng trong những hoàn cảnh như thế, khi sự vận hành giữa trời và đất bị lơi lỏng thì không thể không có hậu quả: lũ lụt, mất mùa, bọ cạp cắn trẻ thơ, cuối cùng là các cuộc nội chiến thời Ngũ Đại. Và cũng rõ ràng chỉ cần tái lập sự vận hành giữa trời và đất là có lại trật tự ngay.
Bọn mũi lõ không nhận ra được sự vận hành này nữa. Chúng vô cảm trước sự vô trật tự, chúng bị thương tổn do hiếu động – đệ thấy rất rõ điều này qua nàng Pao-leng – nhưng không chịu nhìn nhận những khuôn vàng thước ngọc. Chúng luôn nghĩ sự vật phải hướng theo chúng mà quên rằng chúng phải hướng theo sự vật.
Bọn chúng có cả một ngành khoa học khẳng định đã nghiên cứu tâm hồn con người. Ngành tự thị khoa học này là điển hình cho bọn mũi lõ. Thay vì phải tuân thủ rồi hướng theo những quan hệ giữa đất và trời, chúng lại lắng nghe tâm hồn khốn khổ của chúng, cố tìm hiểu xem con sâu nào đang co giật trong đó. Và chúng không quy mọi bất hạnh vào sự mất trật tự hình thành do mất kiến thức về mối tương quan của sự vật, mà vào những thứ khôi hài nào đấy đã tác động vào tâm hồn chúng thời thơ ấu hoặc thậm chí lúc còn trong bụng mẹ, hoặc do chúng được nuôi bằng cháo kê không đúng loại hoặc phải tắm quá nóng hay quá lạnh.
Khi bọn mũi lõ nghiên cứu tâm hồn chúng, chúng liền cảm thấy chúng bệnh hoạn – tất nhiên rồi, làm sao khác được, thật là khôi hài. Một khi khám bệnh quá nhiều, ta sẽ cảm thấy mình đau ốm. Khi bọn mũi lõ cảm thấy tâm hồn chúng bệnh hoạn, chúng sẽ bất mãn và bồn chồn không yên. Khi bất mãn và bồn chồn không yên, chúng sẽ uống những viên thuốc nhỏ màu trắng hoặc hồng hoặc vàng (những màu này không phải theo mùa như mới đầu đệ tưởng, mà tùy tiện) rồi vì thế mà co thắt bao tử. Ở nàng Pao-leng đệ cũng thấy thế – rất tiếc. Nàng thà bị co thắt bao tử hơn là cố gắng nhận ra mối liên quan của sự vật. Đệ khuyên nàng đọc quyển “Lễ Kí” đáng kính đã được dịch sang ngôn ngữ của bọn mũi lõ. Đệ đã vào một trong những thư quán khổng lồ ở đây và hỏi về nó – dò hỏi thôi và chuẩn bị sẵn tinh thần rằng sẽ bị chế giễu. Trong thư quán có một bà phân phát sách cho khách. Đệ hỏi và quả thật bà không những chỉ mang ra quyển “Lễ Kí”, mà còn “Luận Ngữ” và “Kinh Dịch”, cả “Đạo Đức Kinh” nữa, tất cả đã dịch sang ngôn ngữ của bọn mũi lõ. Đệ mua quyển “Lễ Kí”. Bây giờ đệ đọc tiếng của bọn mũi lõ đã khá thông thạo để biết bản dịch có chuyển đúng ý tác phẩm đáng kính này không. Nó chuyển đúng. Cho nên đệ đã khom lưng tặng cho nàng Pao-leng, yêu cầu nàng đọc. Cho tới nay nàng chưa đọc, nàng bảo hiện không có thì giờ. Song đệ đoán thật ra nàng sợ trước sự nhận thức và thà uống những viên thuốc nhỏ kia hơn.
Qua nàng Pao-leng mà đệ biết những chuyện của môn gọi là khoa học về tinh thần. Một ngày nọ, lâu rồi, nàng bảo rằng một bà bạn muốn làm quen đệ. Đệ không phản đối, ngược lại đệ còn muốn thu thập thêm nhiều kinh nghiệm nên đồng ý, đâu ngờ sẽ gặp phải chuyện gì. Mấy ngày trước, không lâu sau khi đệ viết xong bức thư cuối, nàng Pao-leng bảo rằng bọn đệ, nàng và đệ, được bà bạn kia mời đến ăn tối.
Huynh chớ suy diễn từ những điều đệ vừa viết, dường như có vẻ trách móc về nàng Pao-leng, rằng tình cảm của đệ với nàng đã thay đổi hoặc sau khi đã biết rõ nàng, đệ coi nàng là thứ gà mái điên rồ. Không! Trước sau đệ vẫn rất mến nàng và đối với đệ thì những hoan lạc ái ân được nàng dành cho đúng là suối nguồn sảng khoái. Điều đệ trách móc không phải là sự suy nhược của nàng mà của bọn mũi lõ nói chung, của môi trường nàng đang sống và dĩ nhiên không thoát ra nổi, trừ khi nàng dứt khoát đọc “Lễ Kí”. Đệ rất xúc động trước việc nàng Pao-leng luôn chăm sóc đệ, gọi đệ là “chàng người Hoa bé nhỏ” của nàng và làm nhiều điều để đệ được thoải mái trong những ngày ở đây. Chẳng hạn nàng đã mua một chiếc áo lưới màu gỉ nâu... nhưng đệ không muốn viết về chuyện này. Nàng rất chu đáo nên đã bảo ngay bà bạn đừng nấu món gì có sữa bò, cũng như mua sẵn và để lạnh rượu Mo-te Shang-dong. Tối đến, bọn đệ leo lên chiếc ô-tô con của nàng Pao-leng, chạy qua nhiều đường phố ra tới một vùng ngoại ô có cây cối. Giữa những cây này cũng có những ngôi nhà, có cái lớn như trong trung tâm thành phố. Bà bạn ở một trong những ngôi nhà này. Bà tên Đạt-ma[1] và không cao lớn hơn đệ mấy.
Đệ được biết bà Đạt-ma tuy có chồng nhưng ông này hiện sống ở xa và ra lệnh cho bà qua te-lei-fong. Bà Đạt-ma không có con cái. Đây cũng là một vấn đề phức tạp mà đệ đã dò hỏi. Huynh biết tính đệ không thích loan truyền những chuyện riêng tư của người khác, nhưng vì chuyện này thuộc về thế giới của bọn mũi lõ, nên đệ sẽ viết. Sau một thời gian ân ái với nàng Pao-leng, người bạn gái xinh đẹp của đệ, và vì đệ chưa hề tiết chế trong việc trao hết tinh lực đàn ông của đệ vào trong lòng nàng, đệ đã ngẫm nghĩ nếu nàng Pao-leng cho ra đời một đứa nhỏ – theo đệ tính toán hẳn không lâu sau khi đệ rời khỏi đây – thì sẽ thế nào. Nếu là con trai, đệ nghĩ, nên đặt tên nó là Cao Lương.
Một ngày nọ đệ cũng đã nói chuyện này với nàng Pao-leng, vì đệ muốn để lại cho nàng số dự trữ mà đệ kiên quyết không động tới: những chiếc ly vàng, để nuôi dạy đứa con trai. Nàng cười bảo đệ không cần phải lo. Sao lại lo? đệ hỏi. Con cái chỉ gây lo lắng khi chúng không tiếp thu nghiêm chỉnh việc giáo dục và không thừa nhận lề thói xã hội. Tại sao một đứa con trai lại là mối lo được? Dù đệ có – trong quá khứ xa xăm – bốn con trai với chính thất, tám con trai với các hầu thiếp, ngoài ra còn khoảng ba mươi con gái, tuy vậy mỗi lần có con đệ đều vui mừng, nhất là con trai. Tất nhiên lần này có hơi kỳ lạ, vì đứa bé được sinh ra bởi hạt giống tạm gọi là đã nghìn năm tuổi, một sự kiện làm đảo lộn ghê gớm cái trật tự vốn đậm nét về các thế hệ. Nhưng nếu trời cao không sập vì sự vô trật tự mà đệ thấy trong thế giới của bọn mũi lõ, nó cũng sẽ không vì đứa nhỏ kỳ lạ này mà sập, đệ nghĩ thế.
Không, không phải thế, nàng Pao-leng nói, mà nàng không thể có con. Sao, nàng vô sinh ư? đệ hỏi. Không, nàng nói, mà vì lúc ấy nàng cũng uống thuốc.
Thế đấy. Bọn mũi lõ không chỉ uống thuốc để chống lại sự co thắt trong tâm hồn, mà còn để không có con. Tất nhiên đệ đã yêu cầu nàng cho xem thứ thuốc ngừa có con ấy. Nó nhỏ xíu, màu trắng và người phụ nữ không thu nhận nó ở chỗ mà huynh có thể phỏng đoán qua mối liên hệ này, mà ở miệng.
Việc sinh nở con cái khiến người phụ nữ phải hứng chịu một số phiền toái nào đấy là hiển nhiên, như đệ được biết. Với viên thuốc tí tẹo này bọn phụ nữ mũi lõ có thể dễ dàng tránh sinh nở và có thể ta cho rằng sẽ chẳng mụ nào sinh con nữa. Dường như không phải thế vì đệ vẫn thấy trẻ con chạy loăng quăng. Đệ cũng đã hỏi nàng Paoleng chuyện này. Nàng trả lời rằng vấn đề này đã thay đổi trên hai phương diện. Những người phụ nữ thượng lưu, có hiểu biết và những người khôn ngoan muốn giữ độc lập (một ý tưởng mà chúng ta khó hiểu nổi) hoặc những nàng hầu, những nữ nghệ sĩ thoát y cũng như những vũ nữ và những kẻ tương tự không có con hoặc chỉ có rất ít và thường bởi họ quên không uống viên thuốc nhỏ xíu màu trắng đó. Phụ nữ tầng lớp dưới nhiều con hơn. Dĩ nhiên cũng có ngoại lệ; nàng bảo có biết một ông rất trí thức với bà vợ rất thông minh và họ có nhiều con, bảy hay chín đứa gì đấy. Nàng chưa từng hỏi nhưng cho rằng đơn giản chỉ vì ông ta, một học giả cao cấp đã có nhiều công lao bất tử trong âm nhạc, rất thích được làm cha. Có ngoại lệ đấy, nhưng không thường. Ngoài ra vấn đề này còn có lý do tôn giáo nữa, nàng giải thích, nhưng nếu kể ra ở đây sẽ thành đi quá xa.
Nói chung, nàng Pao-leng nói tiếp, ở Ba Yan này và những xứ xung quanh càng ngày càng ít trẻ con ra đời, vì dân chúng ở đây giàu có, có ánh sáng từ dây[2] và nhiều trò tiêu khiển. Nơi đâu không có những thứ này – nàng Pao-leng gọi những vùng ấy bằng cái tên thoạt tiên khó hiểu: “thế giới thứ ba” – trẻ con ra đời rất nhiều, quá nhiều, khiến gần như không còn chỗ ở nữa, nhất là vì ở những vùng đó không có gì để ăn.
“Trung Quốc, mà nàng gọi là Chi-na ấy, có thuộc vào những vùng gọi là thế giới thứ ba này không?” đệ hỏi. “Có và không”, nàng đáp. Vấn đề này thật khó trả lời.
“Thôi được”, đệ nói. “Nhưng nếu ở những vùng ấy người ta sinh sôi nhiều đến mức giẫm đạp lên chân nhau” (chân bọn mũi lõ to lắm, đệ chỉ nghĩ chứ không nói ra, vì phải công nhận rằng theo quan niệm của chúng ta – mình biết riêng với nhau thôi nhé – chân nàng Pao-leng quá lớn) “và nếu ở đó bọn chúng bắt đầu ăn thịt lẫn nhau – điều này sẽ tạo nên một sự quân bình nào đấy đối với sự sinh sôi ngoài ý muốn, song cuối cùng cũng không phải là giải pháp – tại sao người dân ở đó không đến đây, nơi có đủ chỗ ở và thừa thức ăn?”
“Vì lý do đơn giản”, nàng Pao-leng nói, “người dân ở đó không biết điều này”.
“Còn dân xứ nàng không kể cho họ biết?” đệ hỏi.
“Đúng thế”, nàng nói.
Nhưng có lẽ không hẳn như thế. Đệ sẽ tìm hiểu cặn kẽ chuyện này. Có thể đệ sẽ hỏi Duy-Lân tử.
Dẫu sao bà Đạt-ma cũng không có con cái. Bà thuộc loại phụ nữ có học, muốn giữ sự độc lập, dù không rõ họ hiểu thế nào là độc lập. Bà tiếp bọn đệ rất niềm nở. Bữa ăn tạm được, Mo-te Shang-dong lạnh đúng mức. Bọn đệ chuyện trò đủ thứ và đệ thấy thoải mái, tuy rằng vài pho tượng nho nhỏ, một tấm thảm và vài vật khác bày quanh đấy khiến đệ khó chịu nhớ tới những biểu tượng Phật giáo.
Ăn xong được một lúc, bà Đạt-ma đề nghị mọi người xuống phòng làm toát mồ hôi dưới hầm. Đệ chẳng hiểu ất giáp gì, còn nàng Pao-leng đồng ý ngay, bảo đệ cứ việc đi cùng rồi sẽ biết, để nàng khỏi phải giải thích dài dòng. Nàng bảo nó sẽ làm cho ta tỉnh táo và phấn chấn.
Đệ không muốn kể chi tiết mọi chuyện ở đây. Nói tóm tắt thì phòng làm toát mồ hôi này gọi là “Sao-na” – tắm xông hơi, mới phổ biến gần đây thôi. Ai phát minh ra nó và đầu óc người đó nghĩ gì khi nảy ra ý tưởng này thì với đệ vẫn là điều nan giải. Nói chung hẳn nó liên quan đến bệnh đam mê không bao giờ thỏa mãn là làm ướt thân thể. Về chuyện này thỉnh thoảng đệ sẽ kể để huynh rõ. Từ lâu đệ ngờ rằng bọn mũi lõ có ham thích lạ lùng là làm ướt thân thể. Từ khi có hiện tượng này, nhiều nhà đã xây phòng làm toát mồ hôi. (Trong khách sạn cũng có một cái, đệ mới biết đây, nhưng tất nhiên đệ không xuống đó). Căn phòng này rất chật, ốp gỗ và nóng đến ngộp thở. Người ta cũng xịt nước lên người, tuy không xịt thì cũng vẫn nhễ nhại mồ hôi như con heo sữa, kinh hoàng, người ta dùng những bó cành cây khô nhỏ đập nhẹ lên lưng nhau. Thỉnh thoảng phải trầm người trong nước lạnh – cái này khó chịu nhất, có thể nói chẳng gì so sánh được kể từ khi cột sắt nung đỏ không được dùng làm dụng cụ tra tấn nữa.
Điều thú vị là – nhờ chịu sự đọa đày khác lạ nói trên mà đệ có thêm nhận thức mới – hai nàng không chút ngại ngùng cởi bỏ hết áo quần trước mặt đệ. Đệ muốn nói cả bà Đạt-ma cũng không ngần ngại. Tuy phản đối kịch liệt, đệ cũng phải làm theo. Nàng Pao-leng rít lên rằng đệ chớ nên điệu bộ như thế. Trong một phòng làm toát mồ hôi Sao-na, chuyện này bình thường và nếu đệ – đệ hết lòng năn nỉ – muốn giữ lại quần, nữ chủ nhân sẽ coi đó là vô cùng bất lịch sự.
Thành ra bọn đệ ngồi đó và toát mồ hôi: nàng Pao-leng, bà Đạt-ma và đệ. Sau một lúc, đệ bạo dạn liếc nhìn bà chủ nhà. Bà thon thả, gần như một thiếu niên, toàn thân nâu sạm như một nô lệ sau khi xong việc đồng áng và bộ ngực đồ sộ như quả núi. Điều này đệ đã nhận thấy ở những vũ nữ thoát y trong quán mà đệ với Duy-Lân tử đã vào, và do đó đệ phải xét lại hình ảnh về nàng Pao-leng mà đệ đã tả lúc đầu.
Đệ lại phải dài dòng để huynh hiểu: mới đầu, điều này đệ đã viết cho huynh, đệ không phân biệt nổi đàn ông với đàn bà trong thế giới ở đây, chẳng khác chúng ta không thể phân biệt được từng con một trong đám lưỡng cư ướt át nằm trong hang đá. (Không phải ngẫu nhiên mà đệ chọn lối so sánh kinh tởm này, như huynh có thể hiểu được nếu huynh chăm chú đọc các thư của đệ – mà điều này thì đệ không hoài nghi). Với thời gian, đệ học phân biệt được khuôn mặt của bọn mũi lõ, nhưng mãi đệ vẫn không nhận ra nổi đó là đàn ông hay đàn bà, trừ khi có bộ râu, mà điều này không thường lắm. Bọn mũi lõ nữ đều có bàn chân rất to (theo quan niệm của chúng ta) và không khác bàn chân đàn ông. Trong thời gian rất lâu đệ nghĩ tất cả bọn mũi lõ đệ thấy trên đường phố đều là nam giới. Vì theo phong tục của chúng ta thì người phụ nữ chẳng có việc gì để phải ra khỏi ngôi nhà của mình; nên khi quan sát, đệ nghĩ phong tục ở đây cũng thế. Song như huynh đã biết, điều này không đúng. Rồi trong một thời gian dài đệ nghĩ có thể phân biệt đàn ông với phụ nữ mũi lõ qua màu sắc chiếc dù của họ. Như đệ tìm hiểu thì điều này chỉ đúng rất giới hạn và dấu hiệu để phân biệt này dĩ nhiên chỉ dùng được khi trời mưa, vì bọn mũi lõ chỉ biết dù đi mưa chứ không biết ô che nắng. Tuy mưa thường, nhưng không phải luôn luôn.
Rồi về sau đệ nhận ra bộ ngực vĩ đại của bọn mũi lõ nữ. Ở ta, ngực các bà già và vú nuôi cũng to, nhưng chúng ta coi đó là hiện tượng kỳ quái. Hiếm khi một mũi lõ nữ có bộ ngực bình thường theo quan niệm của chúng ta. Áo quần của họ cũng phải thế nào để ngực họ gồ lên rõ rệt. Bộ ngực đầu tiên đệ thấy không che đậy là của nàng Pao-leng – nhìn nghiêng qua nách chiếc áo dợn sóng. Do đó huynh dĩ nhiên phải thấy rằng theo đệ thì bộ ngực này quá vĩ đại, dù phải công nhận nó đẹp và tươi màu đào non. Đến nay đệ đã có dịp quan sát bọn mũi lõ nằm lõa lồ trên bãi cỏ vào mùa hè, rồi lại được cùng Duy-Lân tử khảo sát các vũ nữ thoát y tại cái quán đệ đã nói, bây giờ lại được ngắm nhìn thật gần ngực bà Đạt-ma. Có thể tóm lại thế này: tuy cố tránh có con và nếu có thì không cho bú (đệ biết điều này qua trò chuyện với Duy-Lân tử về bộ ngực đặc biệt gây chú ý của một trong những nữ nghệ sĩ thoát y), bọn đàn bà mũi lõ có bộ ngực phát triển ghê gớm, nhưng không bó chân. Theo quan niệm của chúng ta thì nàng Pao-leng có bộ ngực vĩ đại và hai bàn chân to. Theo quan niệm ở đây thì ngực nàng khá nhỏ, bàn chân cũng thế.
Bậc hiền giả tôn kính nơi đồi hạnh dạy rằng: người quân tử đến nước lạ không tìm cách đưa phong tục của mình vào, mà sống theo tập quán ở đấy, miễn nó không trái lương tâm. Vậy nên đệ chiều theo phong tục của bọn mũi lõ ở điểm này và coi ngực phụ nữ to là đẹp. Có thể nói nó cũng có những mặt thú vị. Tính đệ không ưa nói nhiều về những chuyện liên quan tới vấn đề này, thành ra đến đây đủ rồi.
Sau khi hai nàng thấy đã toát mồ hôi đủ rồi, bọn đệ mặc quần áo rồi trở lên căn hộ của bà Đạt-ma. Cơ thể đệ mất quá nhiều nước khiến đệ cảm giác nó như trái cây sấy khô và đệ đã uống một hơi, đệ tin thế, hết chai Mo-te Shang-dong.
Trò chuyện tiếp đệ mới biết bà Đạt-ma làm trong ngành khoa học nghiên cứu tâm hồn nọ. Nàng Pao-leng, bạn gái của đệ, chỉ nói với bà Đạt-ma rằng đệ là người Trung Quốc và vừa mới tới Min-chen để nghiên cứu. Dường như bà Đạt-ma thích thú lắm. Bà liền nói về sự khác biệt giữa tâm hồn “Viễn Đông” và “phương Tây” (nghĩa là của bà và bọn mũi lõ khác), hóa ra bà chẳng biết gì về thuyết của Khổng phu tử và bà đã đánh đồng “tâm hồn Viễn Đông” với mê tín của đạo Phật. Đệ thấy không tiện giảng giải cho bà, hơn nữa đệ phải thú nhận Mo-te Shang-dong đã có phần nào tác dụng khiến đệ lâng lâng trong trạng thái vô vi. Đệ không ngớt gật gù nói: hảo, hảo.
Khi chia tay, bà Đạt-ma cám ơn đệ về buổi trò chuyện thú vị (tuy đệ không nói gì khác hơn “hảo, hảo”) và bảo rằng qua tâm hồn hết sức thú vị của đệ mà môn khoa học về tâm hồn của bà đã tăng tiến vượt bậc. Đệ khom lưng đáp: xin cám ơn về bữa ăn tuyệt vời mà bà đã phung phí cho một kẻ tiểu nhân không xứng đáng như đệ, về buổi toát mồ hôi tuyệt vời không kém cũng như được ngắm nhìn bộ ngực lớn vượt mức của bà khiến đệ nhớ đến hình dáng ngọn Thái Sơn linh thiêng và sẽ luôn ghi nhớ như báu vật trân quý nhất.
Lẽ ra đệ không nên nói thế, vì bà Đạt-ma hơi sửng sốt lùi lại một bước. Sau đó trên đường về nàng Pao-leng bảo rằng nói huỵch toẹt về ngực một người phụ nữ là hết sức khiếm nhã. Đệ chịu không hiểu nổi, một khi bà đã hào phóng cho xem. Nhưng tùy, ai muốn hiểu sao cũng được, đệ chỉ quan sát và ghi lại thôi. Trong quyển thứ tư của bộ “Luận Ngữ”, Đức Khổng phu tử vĩ đại dạy rằng: “Biết đạo lý không bằng thích nó; thích nó không bằng vui làm theo nó”.
Phải chăng giữa ngực to của bọn phụ nữ mũi lõ và việc họ thích sữa bò có liên quan? Ai biết được.
Ít hôm sau nàng Pao-leng chuyển đến đệ lời chào của bà Đạt-ma. Đệ hỏi bà có tha thứ cho sự khiếm nhã vô tình của đệ chăng? Có, nàng Pao-leng đáp, bà Đạt-ma đã suy nghĩ lại và tìm đọc trong những sách về khoa học tâm hồn. Bà bảo việc đệ khen ngực bà có thể là do hồi còn thơ đệ bị bà vú nuôi bắt cai sữa rất sớm. Có chuyện gì mà bà ta không biết nhỉ, đệ nghĩ. Ngoài ra bà Đạt-ma nhờ nàng Pao-leng nhắn với đệ rằng bà thấy tâm hồn đệ thật đáng quan tâm, nên sẵn sàng khám đệ miễn phí, đệ nên gặp bà sớm. Chuyện này, đệ nghĩ, mình chớ nên đụng tới.
Thân ái chào huynh.
Lão bằng hữu Cao Đài
❀ ❀ ❀
[1] Dagmar (Đắc-ma).
[2] Ám chỉ đèn điện.