Thư gửi về Trung Quốc xa xưa

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thư thứ mười

❊ ❊ ❊

(Thứ Hai, 19 tháng Tám)

Di Ngô quý mến,

Nhìn chung đệ không buồn phiền gì nhiều nữa khi được biết thêm rằng nay đệ không chỉ xa cách quê hương một nghìn năm, mà còn nhiều nghìn lý (ông Shi-shmi đã tính ra bao nhiêu nghìn lý, nhưng rất tiếc đệ quên rồi – con số nào có ý nghĩa gì), duy có một điều khiến đệ không vui: phải xa con Tiểu Siêu mắt xanh. Phải chăng huynh muốn an ủi đệ, khi kể rằng huynh thấy nó chỉ ngồi buồn thiu trên trường kỷ trong căn phòng có tấm màn hoa hương mộc, chẳng làm gì hết ngoài việc đăm đăm nhìn ra ngoài cửa sổ, thỉnh thoảng – như huynh viết – thân thể đẹp vô song của nó mới động đậy, ấy là khi ngoài trời một con chim đậu xuống cành cây? Đệ có nên thấy được an ủi vì nó buồn rầu? Có chứ – đệ rất ích kỷ, nên điều ấy đã an ủi đệ. Huynh hãy kể nhiều nữa về nó và bảo nó rằng đệ thương nó như một người đàn ông ở tuổi đệ có thể yêu thương: không phải nông nổi mù quáng, mà với sự am hiểu về vẻ đẹp. Tình yêu với sự am hiểu, điều này ta chỉ có thể cảm nhận ở một sinh vật như Tiểu Siêu – còn với hầu hết các thê thiếp của đệ thì đó chỉ là ham muốn và hứng tình (ấy là may lắm); không, tình yêu thật sự xứng đáng chỉ có thể có được đối với một sinh vật như Tiểu Siêu. Hãy viết cho đệ rằng nó buồn rầu, đúng, nó cần phải buồn thiu, phải khóc vì nhớ đệ, bởi đó cũng thuộc về tình yêu. Ngoài điều này ra, đệ rất rõ rằng khi nó buồn rầu nằm cuộn trên trường kỷ, co duỗi những cái chân óng ánh trong vẻ duyên dáng vô song, thì tuy buồn rầu nó vẫn biết rằng nó đẹp biết bao.

Mọi chuyện khác huynh cứ để tiến triển bình thường. Việc nhạc phụ thứ nhất của đệ, ông Quang Mã đáng kính khét tiếng bủn xỉn, cuối cùng bị đột quỵ chỉ khiến đệ buồn rầu vừa phải. Hãy nhắn giúp như thế với Quang Thanh chính thất của đệ và đệ rất tiếc không thể có mặt tại tang lễ: đệ không thể bỏ dở chuyến du hành vô cùng quan trọng này. Nếu đến nay chữa mụn nhọt bằng dầu hạt dẻ vẫn không công hiệu, chính thất của đệ nên thoa với mỡ heo sữa vừa mới mổ – càng nóng càng tốt.

Không, đệ không bất hạnh khi biết mình đang không ở Trung Quốc mà tại một đất nước xa tít tắp tên là Ba Yan mà hai ta đều sẽ chẳng hề biết về sự hiện hữu của nó, nếu chúng ta không vì hiếu kỳ nảy ra ý định cho chuyến đi này của đệ. Ngược lại: từ khi mọi chuyện được sáng tỏ giữa đệ và ông Shi-shmi hết sức quý mến (đệ đã chuyển lời chào của huynh đến ông – dù hai bên không quen biết) cũng như đệ biết mình đang ở đâu thì việc thu thập tri thức dễ dàng hơn nhiều. Ông Shi-shmi cũng có thể giải thích khiến đệ dễ hiểu hơn một số điều, vì ông hình dung được những gì đệ không rõ. Trước hết về những vấn đề cơ bản. (Bây giờ chiều tối nào bọn đệ cũng ngồi với nhau. Đệ cũng đốt “tế vật”, song chỉ những cái lớn màu nâu thôi. Theo ý đệ thì những cái kia, nhỏ hơn màu trắng, hôi rình). Chiều tối nào đệ cũng cật vấn ông Shi-shmi cho đến khi ông cười bảo: đệ đã vặn hỏi ông quá nhiều. Đệ tiến bộ thật nhanh trong việc hiểu ngôn ngữ ở đây nhờ được sự tò mò chắp cánh. Trước tiên đệ muốn biết những điều cơ bản. Ông Shi-shmi cho rằng trái đất có hình quả cầu – ông bảo điều này là phổ biến – và những đất đai, biển cả được sắp xếp cạnh nhau trên mặt quả cầu ấy. Trung Quốc của chúng ta, mà ông gọi là Chi-na, ở trên một nửa quả cầu, nước Ba Yan và nhiều nước khác (ông kể ra một tràng tên rối rắm) ở trên nửa kia. Ông không tán thành điều đệ phản bác rằng thế thì người ta sẽ tuột khỏi quả cầu. Ông bảo ở giữa quả cầu này là một khối có hấp lực tự nhiên, lực này như những sợi chỉ vô hình giữ chặt người và vật, cây cỏ và sỏi đá cùng hết thảy mọi vật khác. Ông lý luận: mọi vật chúng ta không giữ chặt đều rơi xuống đất. Còn chẳng có gì rơi lên không khí – có, khói đệ phà ra từ món tế vật màu nâu hảo hạng của đệ (đệ có tế vật đặc biệt tên là Da-ving-do[1] ông Shi-shmi mua giúp trong phố; nó rất đắt, nhưng đệ dám mua nhờ sẵn có những thoi bạc), khói của nó “rơi” lên, đúng vậy, nhưng đệ cũng rõ đó chỉ có vẻ “rơi lên” thôi. Vì chốc lát sau những hạt cơ bản tạo ra khói sẽ lại rơi cả xuống đất. Với mọi vật bay lên cũng đều như thế: chim, mây, rồng. Nghĩa là không thể gạt phăng lập luận của ông Shi-shmi được.

Điều phản bác khác của đệ rằng nếu trái đất hình quả cầu thì người ta phải cảm nhận được chứ, trong khi nhìn bằng mắt thì rõ ràng quả đất phẳng cũng bị ông Shi-shmi bác bỏ. Ông bảo sở dĩ ta tưởng thế, vì quả địa cầu quá to mà con người quá nhỏ. Đệ cần hình dung một con rận cảm thấy gì khi nó bò trên một quả bầu thật to (hóa ra vẫn còn bầu bí, cả rận nữa!). Nó ngỡ nó bò thẳng, nhưng trong thực tế nó bò tròn quanh quả bầu. Biết đâu con rận cũng cho rằng quả bầu phẳng, ông Shi-shmi bảo thế. Không thể phủ nhận điều này, nhất là khi nghĩ thêm rằng con rận so với quả bầu vẫn lớn gấp nhiều nghìn lần con người so với trái đất. Ngoài ra, ông Shi-shmi lý luận, ở biển ta có thể cảm nhận được quả đất hình cầu. Ông giải thích rằng khi một con rận gặp một con rận thứ hai bò tới từ mặt kia quả bầu, nó hẳn phải có cảm tưởng con thứ hai trồi khỏi đường chân trời. Với những con tàu trên biển cũng như thế và Di Ngô thân mến ơi, đúng vậy, như chính đệ đã thường thấy khi tháp tùng ông anh rể kính mến, đô đốc Từ Phát Chung, thị sát các hạm đội hoàng gia tại các thành phố cảng.

Chỉ để giải thích cho đệ mà ông Shi-shmi đã mua về một quả địa cầu mẫu ở dạng thu nhỏ, rất màu mè. Ta có thể đặt nó xuống và xoay được. Đây là một quả cầu dán địa đồ các nước. Kích động lắm. Ông Shi-shmi chỉ cho đệ quê hương của hai ta, Trung Quốc (tất nhiên nó không ở giữa, vì mặt cầu làm gì có điểm giữa) và quê hương Ba Yan của ông. Một điểm bé tí tẹo đánh dấu đế đô Khai Phong tôn quý. Một điểm cũng tí tẹo cho thấy vị trí thành phố Min-chen.

Nhưng đệ đã đến Min-chen như thế nào? Về điểm này ông Shi-shmi cũng có giải đáp. Ông bảo không chỉ quả địa cầu mẫu này mới xoay được, mà quả địa cầu thật cũng không ngừng quay quanh trục của chính nó. Chuyển động này cũng quá lớn[2] khiến ta không nhận thấy. Khi một cái cây phát triển, ta cũng không nhận thấy sự phát triển này – dù đó vốn là một chuyển động. Ông bảo thật ra còn phức tạp hơn cơ, nhưng đệ hãy tạm hình dung thế này: quả đất quay quanh trục của chính nó đồng thời nó xoay quanh mặt trời, mặt trời lớn hơn ta tưởng nhiều, song chỉ vì nó ở quá xa nên ta thấy nhỏ thôi. Mỗi ngày quả đất quay quanh nó một vòng và quay quanh mặt trời trong một năm. Rắc rối quá. Đệ hỏi đó có phải triết lý riêng của ông sau nhiều năm chiêm nghiệm không? Không, ông bảo đấy là quan điểm phổ biến về hình dạng thế giới và đã được đảm bảo qua nhiều sự kiện.

Đệ không chờ đợi huynh tin hoặc hiểu những điều này chỉ qua vài dòng ngắn ngủi. Đệ cũng chẳng khác gì hơn. Đệ xa lạ với hình ảnh thế giới mênh mông và lạnh nhạt này. Đệ muốn thấy quê hương chúng ta là đất nước Trung Quốc vững vàng, không quay lòng vòng và định sẽ giữ nguyên ý kiến này sau khi trở về; nhưng tất nhiên đệ không nói với ông Shi-shmi, e làm ông mất lòng.

Và đây là sự giải thích đệ đã từ Khai Phong đến Min-chen như thế nào: ông Shi-shmi cho rằng khi tính toán chúng ta không lưu ý tới việc quả đất tự quay quanh trục của nó và quanh mặt trời, vì chúng ta không biết những điều đó và trong một nghìn năm ấy (mà đệ vượt qua trong một nháy mắt nhờ chiếc la bàn-thời gian tuyệt vời của chúng ta) – với đệ chỉ là một nháy mắt, với quả địa cầu là một nghìn năm – quả đất đã quay quanh mặt trời một nghìn lần và 365000 lần quanh trục của nó. Vì thế nên điểm đến của đệ bị xê dịch. Không thể phủ nhận rằng đệ đã bị thuyết phục thế nào đấy. Nhưng rồi đệ lập tức hốt hoảng: chuyến trở về của đệ rồi sẽ ra sao? Ông Shi-shmi trấn an: chuyến trở về của đệ, ông nói, sẽ diễn ra ngược hẳn với chuyến đến – rõ ràng quá – và sự nhầm lẫn của chúng ta sẽ tự điều chỉnh bằng cách quay ngược lại. “Thì ông thấy đấy”, ông Shi-shmi nói, “thư ông gửi cho người bạn xa cách cả nghìn năm vẫn đến nơi”. Đúng vậy, như chúng ta thấy. Tuy nhiên những chuyện này khiến đệ càng cảm thấy mình giống một diễn viên xiếc đi dây-thời gian. Đôi khi đệ trải qua những cơn ác mộng. Chúng rắc rối và ám ảnh đệ. Nhiều lần đệ mơ thấy thay vì quay về cố hương của nghìn năm trước, đệ lại nhầm lẫn đi tiếp vào tương lai. Trong mơ không có giấy mực để ghi chép những chuyện mộng mơ vớ vẩn, nhưng đệ ngẫm nghĩ tiếp: nếu cái tương lai đệ đang trải nghiệm ở đây là một vực thẳm của sự suy đồi thì nghìn năm tiếp theo sẽ đưa đến hỗn loạn khủng khiếp nào?

Vì có một điều, Di Ngô yêu quý ạ, mà đệ đã rõ và cả huynh lẫn đệ đều không biết và không hình dung được: thế giới thay đổi. Bọn người ở đây gọi đó là tiến bộ. Cái từ “tiến bộ” này đã tự phơi bày bản chất – đệ dịch đúng từng chữ đấy. Tiến bộ, bước tiến, nghĩa là cái bước dẫn ta rời ra xa[3]. Ta có thể cho rằng từ này hàm ý tiếc nuối vì ta phải rời xa khỏi môi trường quen thuộc, có thể là thân thích của ta. Nhưng không: chúng – bọn mũi lõ ở đây – cho rằng sự tiến bộ của chúng là đáng ao ước, thậm chí đức hạnh.

Huynh không hiểu nổi những điều này, đệ biết. Huynh không thể hiểu nổi. Thế này nhé: kiến mãi là kiến, voi mãi là voi. Chúng ta biết những mô tả về con kiến từ thời đại nhà Thương xưa xửa, chúng ta biết lũ kiến – lỗi tại trời – bò lổm ngổm trong nhà và đệ biết lũ kiến sống trong thế giới này của bọn mũi lõ. (Vẫn còn kiến đấy, ít thôi, chúng làm tổ ở đâu được trong cái nơi toàn đá này. Nhưng vẫn còn. Đệ thấy chúng trong ngự uyển của cựu vương xứ Ba Yan). Kiến mãi là kiến. Điều này cũng đúng với voi và ngựa. Cái cây là cái cây. À, loài chó ở đây trông khác hẳn lũ chó Bắc Kinh của chúng ta, nhưng trong mắt đệ thì chó chỉ nướng chả là nhất. (Ngoài ra: ở đây thiên hạ không ăn thịt chó, còn thì xơi tất, chẳng hạn chúng chén cả bò đực. Nhưng chuyện này để một lần khác. Đệ nói thêm bấy nhiêu thôi: sau khi trở về thì điều đệ yêu cầu đầu tiên là nướng cho đệ một bộ gan chó Bắc Kinh. Ở đây đệ thiếu món này).

Điều này nghĩa là thiên nhiên không thay đổi hoặc rất chậm chạp. Con người cũng không thay đổi và chúng ta – đệ muốn nói huynh với đệ – sống trong triều đại Tống quang vinh, xin trời phù hộ cho nó, chúng ta được đọc sách của đức thánh Khổng, tuy ngài sống trước chúng ta một nghìn rưỡi năm và nếu đệ có thể du hành ngược thời gian, đệ sẽ đến thăm bậc thánh nhân ấy trên ngọn đồi triết học của ngài và nếu được ngài ra ơn dạy bảo thì một kẻ hèn mọn hơn con sâu cái kiến như đệ vẫn sẽ hiểu điều ngài nói.

Ở đây không thế. Ở Min-chen hoặc gần đấy cũng có những bậc hiền giả sống và dạy học. Họ đã trước tác và để lại nhiều điều dạy bảo thông tuệ. Một người, một bậc thầy được đặc biệt coi trọng ở Min-chen tên là She-ling[4], nghe khá quen thuộc với chúng ta. Sự quen thuộc này chỉ ngẫu nhiên thôi. Thầy She-ling không phải người Trung Quốc ta. She-ling tử – theo cách tính ở đây – sống cách nay mới một trăm năm mươi năm, mà theo lời ông Shi-shmi thì người ta đã phải khó khăn lắm mới hiểu được điều ông ấy viết! Sở dĩ thế, ông Shi-shmi nói, vì She-ling tử này viết ra những tư tưởng cực kỳ rối rắm, khiến có kẻ ngờ rằng đôi khi Sheling tử không hiểu ngay chính triết lý của mình. Chà, đệ tất nhiên không thể phán đoán. Một bậc thầy khác, Kan tử[5], ông Shi-shmi kể rằng sống trước đây hai trăm năm. Thế mà nay chỉ những chuyên gia mới hiểu nổi ông. Ba trăm năm trước có một bậc thầy hết sức được trọng thị tên Lei-mi tử[6]. Nay hầu như những chuyên gia mới đọc nổi ông, mà cũng chỉ thông qua bản dịch. Vân vân. Một nghìn năm trăm năm trước có bậc thầy nào tư duy và dạy học không? đệ hỏi ông Shi-shmi. Có chứ, ông đáp, chẳng hạn thầy Ao-gao-tin[7], được một bộ phận dân chúng kính như thần thánh – tương tự đức Khổng phu tử của ta. “Về trạng thái thần thánh” hoặc “Về thiên đình” (đệ dịch nôm na) là tác phẩm chính của ông. Nhưng ngôn ngữ ấy đã tuyệt rồi và chẳng còn ai đọc loại văn này nữa.

Huynh thấy đấy: họ tiến bộ. Họ tiến đi đâu? Đệ ngờ rằng họ không biết. Dẫu sao, đệ thấy dường như họ đang rời xa khỏi chính họ.

Tất nhiên chúng ta cũng biết thời gian không dừng lại. Trẻ con sinh ra, lớn lên, già đi rồi chết, thế hệ này nhường chỗ cho thế hệ kia. Hoàng đế nối ngôi hoàng đế, triều đại tiếp nối triều đại. Một ngôi nhà sụp đổ, ngôi nhà mới được dựng lên. Cây trong vườn phát triển. Con chim hót trong vườn có thể không phải là con chim năm ngoái, nhưng vẫn hót cùng điệu, giống như sóng Hoàng Hà vĩnh cửu (vĩnh cửu ư? giờ đây đệ hoài nghi điều này!) vẫn luôn lăn tăn như thế. Đó là những con sóng khác, đó là tiếng hót của những con chim khác, nhưng về cơ bản chúng vẫn như nhau. Nếu ta nghĩ dòng chảy của Hoàng Hà như một vòng khép kín thì mọi khác biệt đều đổ vào tính liên tục: những con sóng lăn tăn ra biển, bốc hơi ở đấy, bay lên thành mây, mưa từ mây rơi xuống thấm đẫm những tảng đá rong rêu ở Cam Túc, những nguồn nước lại nảy sinh từ đó, đổ vào Hoàng Hà. Một chu trình liên tục, bất di bất dịch, kể cả khi Hoàng Hà thỉnh thoảng lại đổi dòng.

Một chu trình miên viễn. Chúng ta cho rằng điều này cũng đúng cho con người và chính thể của họ. Con người thế hệ sau tuy không giống hoàn toàn thế hệ trước, nhưng tương tự, không mấy khác những con sóng của Hoàng Hà vĩnh cửu. Một ngôi nhà sụp, ngôi nhà mới dựng lên. Dù chủ nhà cho lắp thêm hay bớt đi một khung cửa sổ thì về cơ bản nó vẫn là một ngôi nhà. Hoàng đế trị vì, bậc trí giả suy nghĩ (đôi khi hoàng đế cũng suy nghĩ). Có gì cần thay đổi? Chúng ta nghĩ thế. Thỉnh thoảng có một cuộc cách mạng, tốt thôi. Lúa gạo hoặc đồng thau đắt hoặc rẻ hơn, đã có lúc một viên thượng thư tài chính ngu si thử đưa tiền giấy vào sử dụng... rồi tiền giấy lại biến mất. Luôn mấy năm liền các mệnh phụ phu nhân chỉ mang bím tóc màu trái đào và mọi người khác bắt chước, đột nhiên bím tóc màu trái đào bị xem là ghê tởm và mọi người đeo màu trái mận. Nhưng rồi nó cũng biến đi. Tất cả chỉ là tiểu tiết. Đã bao giờ chúng ta có nhu cầu, thậm chí hình dung được rằng điều gì đấy có thể thay đổi về cơ bản?

Bọn mũi lõ ở đây có đấy. Tuy thế giới quan của chúng hình quả cầu và chúng thấy quả đất chuyển động theo hình tròn, nhưng chúng không thấy một chu trình mà chỉ thấy con đường thẳng ngu ngốc. Đệ có cảm tưởng đối với chúng đường đời của loài người chạy theo đường thẳng tắp và chúng không ngớt lo lắng rằng nó sẽ dẫn tới đâu. Những nhà tư tưởng của bọn mũi lõ chia làm hai phe: một phe bảo rằng con đường này dẫn đến tương lai vàng son, xán lạn (ông Shi-shmi bảo rằng những người này dựa vào lời dạy của một bậc thầy tên Ma-’ch – việc trùng hay giống tên thằng bé ngỗ nghịch Ma’ch trong bài thơ nọ tuy chỉ là ngẫu nhiên, nhưng đệ nghĩ tự nó đã bộc lộ rồi – cũng như các đồ đệ của ông là Jing-il và Le-ning[8]); phe khác thấy con đường đưa thẳng tới vực thẳm (lý thuyết của họ, ông Shi-shmi nói, dựa vào hai bậc thầy tên Sho-Peng-kao và Ni-tử[9]). Huynh đoán xem theo đệ thì ai có lý. Nhưng đó chỉ là chuyện phụ.

Bọn mũi lõ không biết sự tuần hoàn. Bọn mũi lõ ngoan cố tin rằng hết thảy liên tục thay đổi và ngay cả những người có lý trí nhất cũng khăng khăng rằng thay đổi nghĩa là tốt hơn. Đã bao giờ thế giới chứng kiến một sự mê tín như vậy chưa? Nếu thế thì chỉ cần ứng dụng định luật toán học thần thánh bất di bất dịch này: tung một đồng tiền kẽm lên trời, khi rơi xuống thì mặt sấp, mặt ngửa đều chiếm khả năng 1:1. Khi đệ thay đổi gì đấy – hoặc trong cuộc sống riêng hoặc trong thể chế – thì khả năng điều mới tốt hơn hay dở hơn điều cũ là 1:1. Ta cứ nghĩ kẻ ngu nhất cũng hiểu điều này. Bọn mũi lõ không thế. Chúng khăng khăng điều mới tất yếu tốt hơn điều cũ.

Tiến-bộ... chúng tiến ra xa, tiến xa khỏi hết thảy. Chúng tiến xa khỏi chính chúng. Tại sao? đệ tự hỏi. Hẳn vì chúng không thích hiện trạng của mình. Tại sao chúng không thích? Hẳn vì chúng cảm thấy khó chịu – đúng thế thật. Nhưng tiến xa khỏi mình thì đúng là vớ vẩn. Chúng chỉ thay đổi môi trường xung quanh chứ không phải chính mình. Và đây là điều đệ cho là cốt lõi: bọn mũi lõ vừa không đủ sức vừa không muốn tự hoàn thiện (tuy như đệ thấy, chúng được làm quen với quyển “Kinh Dịch” tôn quý!), chúng thích thử nghiệm với thế giới của chúng hơn. Ông Shi-shmi – tuy chưa hết thứ mê tín nọ – đã phải thừa nhận khi đệ trình bày suy nghĩ này.

Nghĩa là bọn mũi lõ tiếp tục tiến bộ và ta chỉ có thể kinh hoàng khi nghĩ đến một nghìn năm sau chúng sẽ tiến tới đâu. Có lẽ cơn ác mộng của đệ về chuyện này còn quá nhẹ nhàng. Đệ không loại trừ rằng chưa đầy một nghìn năm nữa chúng đã biến quả cầu này nát thành tro bụi. Chúng ngu xuẩn hơn cả khỉ mà một số loài mũi cũng to. Đệ chấm dứt thư này ở đây. Đệ phải ra điểm liên lạc. Sắp tới giờ phải gửi bức thư vượt thời gian này cho huynh rồi.

Chào huynh, người bạn xa xăm, huynh hôn con Tiểu Siêu giùm đệ nhé. Chiều nay bọn đệ – ông Shi-shmi và đệ – được mời dùng bữa tối tại nhà một nàng gần gũi ông Shi-shmi. Ôm huynh trong tình huynh đệ.

Cao Đài

❀ ❀ ❀

[1] Davidoff (đa-vi-đốp) tên một loại xì gà nổi tiếng.

[2] Quá chậm mới đúng: mỗi ngày trái đất chỉ quay được một vòng quanh trục của chính nó.

[3] Cao Đài “chiết tự” từ Fortschritt (tiến bộ) thành hai từ “Fort: rời xa, đi khỏi” và “Schritt: bước chân”. Từ đây về sau, từ “tiến bộ” được hiểu theo nghĩa quên thực trạng, xa rời thực tại.

[4] Friedrich von Schelling (1775 – 1854): triết gia Đức.

[5] Immanuel Kant (1724 – 1804): triết gia Đức.

[6] Gottfried Wilhelm Leibnitz (1646-1716): Triết gia, nhà toán học Đức.

[7] Augustin (354 – 430): một vị thánh của Giáo hội Thiên Chúa.

[8] Marx, Engels và Lenin.

[9] Schopenhauer (Sốp-pân-hao-ơ), 1788 – 1860, và Nietzsche (Nít-sơ), 1844 – 1900, hai triết gia Đức.

Người dịch: Lê Chu Cầu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.