Thư gửi về Trung Quốc xa xưa

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thư thứ sáu

❊ ❊ ❊

(Chủ nhật, 28 tháng Bảy)

Hảo bằng hữu,

Đệ hoàn toàn không ân hận đã thực hiện chuyến đi này, mặc dù đệ luôn mong nhớ những buổi mạn đàm với huynh vào lúc hoàng hôn, khi thì trong vườn của huynh, lúc trong vườn của đệ và những cử chỉ âu yếm khôn tả của con Tiểu Siêu yêu quý duy nhất của đệ. Đệ thành tâm cám ơn về bức thư rất cô đọng, có thể nói vô cùng văn hoa, của huynh. Tuy nhiên đệ tha thiết muốn biết người thiếp Phàn Pha, nàng mang thai khi đệ ra đi, đã khai hoa nở nhụy chưa trong những ngày qua, con ngựa non đen đã khỏe lại chưa và nhạc mẫu thứ tư của đệ, bà Tả Chương ngày đệ đi đang hấp hối, còn sống không. Chính thất của đệ đã hết mụn nhọt chưa? Huynh cũng chỉ viết rất sơ sài về con Tiểu Siêu... dẫu sao qua thư của huynh đệ cũng biết nó vẫn khỏe.

Đệ không ân hận nữa về chuyến đi vượt thời gian này. Thậm chí đệ còn gần như nghĩ rằng nó thật tuyệt vời, khác với những ý nghĩ u buồn trong những ngày đầu. Đệ đang tận hưởng một tuổi xuân mới. Những gì một thanh niên trải nghiệm qua quãng đời hai mươi năm, đó là biểu hiện của thế giới đối với y, thì nó đã mở ra ở đây với đệ trong một khoảng thời gian ngắn hơn bội phần, mà lại trong sự tỉnh táo cao độ và đệ coi đó là điều hoàn toàn tự nhiên. Đệ nhìn mọi chuyện như một đứa trẻ kinh ngạc, nhưng đệ biết mình đang kinh ngạc. Thật tuyệt vời... đệ cảm thấy thế, tuy trời mưa rỉ rả suốt từ hôm kia. Hôm nay ông Shi-shmi và đệ dậy sớm, đứng bên cửa sổ nhìn ra ngoài. Ông buồn thiu, bảo “shai-ve-ta”[1], hẳn có nghĩa là “mưa dai khiếp”.

Lũ cháu chắt vô cảm của chúng ta – trừ những người có học thức và nhạy cảm như ông Shi-shmi – chẳng thấy phiền lòng vì “shai-ve-ta”. Chúng cứ việc giương dù lên và lang thang trong mưa. Những chiếc ô-tô, dĩ nhiên mưa không lọt vào được vì xung quanh toàn bằng sắt, vẫn phóng ào ào như thường và khi chạy qua vũng nước, chúng làm nước bắn tung tóe như vòi rồng. Chẳng ai phản đối, vì ngồi trong những chiếc xe ấy hẳn phải là những kẻ quyền cao chức trọng. Cái dù dường như là thành quả duy nhất của thời chúng ta đã truyền được đến đời lũ cháu chắt. Qua chiếc dù ta phân biệt được dễ dàng đàn ông với phụ nữ; vì phụ nữ mang dù đủ thứ màu sắc khác nhau, còn dù của đàn ông chỉ một màu đen. Tại sao lại thế, cũng như màu sắc dù của phụ nữ có phải là biểu tượng cho đẳng cấp chăng thì dĩ nhiên đệ không rõ. Phải chăng người vợ hoặc người thiếp mang dù có cùng màu với dải vải (nay đệ đã biết dải vải này tên là “kwei-te”[2]) của người chồng? Dù của ông Shi-shmi dĩ nhiên màu đen, ông không có vợ.

Sáng nay, lần đầu tiên đệ ra khỏi nhà một mình. Ông Shi-shmi cho rằng (bây giờ bọn đệ hiểu nhau kha khá rồi) đã đến lúc đệ nên như thế. Ông bảo đệ đi tới một ngôi nhà khác, ở đấy có một cửa tiệm. (Đệ tin rằng chủ tiệm là phụ nữ, nhưng không dám chắc vì đệ không thấy người này cầm dù). Như mọi khi, ông Shi-shmi phải giúp đệ đóng bộ an-tsu vì đệ vẫn còn lẫn lộn thứ tự từng thứ một. Có lần đệ thử tự mặc lấy và đã mặc chiếc “hem-hem” ra ngoài áo khoác và xỏ hai chiếc ruột heo co giãn màu đen vào hai hộp da nhỏ có dây buộc thay vì xỏ vào hai bàn chân. Thấy thế, ông Shi-shmi ôm bụng cười ngặt nghẽo. Đấy, đệ phải học mọi thứ như đứa trẻ con.

Nghĩa là sáng nay đệ mặc bộ an-tsu dưới sự giám sát của ông Shi-shmi, cầm dù – vì đệ đã có một cái, tất nhiên màu đen – và rời khỏi nhà. Cửa hàng và ngôi nhà nọ thì đệ biết rồi, vì bọn đệ luôn đi qua đó mỗi khi tới điểm liên lạc. Chỉ phải băng qua một con đường đá thôi. Đệ chờ ở lề đường, chăm chú nhìn và nghe ngóng, cho đến khi thấy không chiếc ô-tô khốn kiếp nào chạy tới đệ mới chạy vụt qua. May mắn tới được bên kia, đệ vào cửa hàng và nói câu mà ông Shi-shmi đã rót vào tai đệ. Trong tiếng Hoa, câu này có nghĩa: “Nửa sheng dầu, vui lòng” (“Li-ti”[3] nghĩa là nửa sheng). Nói như thế là quá ngắn gọn (như các bức thư của huynh vậy) và bất lịch sự. Huynh và đệ tất nhiên sẽ nói thế này: “Thưa nữ chủ nhân vô song, vầng dương của khu phố, xin bà rủ lòng hạ cố ban cho kẻ tiểu nhân hèn hạ này nửa sheng dầu thơm tựa mật ong của bà, nếu bà không dùng nó vào việc nào khác tốt hơn và chứng tỏ lòng tốt của bà bằng cách nhận đồng tiền nhỏ nhoi, bẩn thỉu này; dĩ nhiên nó vô cùng không tương xứng với món hàng vô giá của bà, nhất là khi một kẻ rất mực tầm thường như tại hạ dám thốt ra lời yêu cầu ngông cuồng này.” Nhưng một câu như thế trong thứ ngôn ngữ ở đây tất nhiên đệ không thuộc nổi.

Đệ bật ra tàm tạm câu nói ngắn gọn đã được ông Shi-shmi rót vào tai đệ, người bán hàng quả thật đã đưa cho đệ nửa sheng dầu và đệ đặt những đồng tiền ông Shi-shmi đưa lên quầy. Đệ rất tự hào. Tuy người chủ tiệm chòng chọc nhìn đệ như nhìn một con bọ hung lạ hoắc, nhưng bây giờ đệ đã quen rồi. Chủ tiệm gầm gào gì đấy vói theo mà đệ không hiểu: có lẽ một lời chào. Đệ khom lưng một phần bảy chào lại. Khi đệ đi ra, chủ tiệm theo đến cửa và lại gầm gào. Đệ giương dù, nhìn lên trời làm hiệu và nói: “shai-ve-ta!” Thành công mỹ mãn. Chủ tiệm gật đầu cười, hẳn đã hiểu đệ hoàn toàn.

Đệ quay về nhà. Đệ rất tự hào về thành quả của mình và đi hoàn toàn thơ thới, tự tin trên con đường phụ giữa mọi bộ hành, như thể đệ là một người trong bọn chúng. Chợt đệ rú lên, tí nữa đánh rơi chai dầu, vì đệ thấy một hiện tượng hẳn là khác thường nhất mà đệ từng chứng kiến ở đây cho đến nay. Đệ không diễn tả nổi về nó cho ông Shi-shmi – đệ chưa diễn đạt được những điều phức tạp – thành ra đệ không biết nó tên gì. Có vẻ đó là một hiện tượng hiếm hoi, tuy không gây sợ hãi cho những người ở đây. Đó là cảnh một người ngồi trên một chiếc xe hai bánh. Nhưng bánh xe không kề cạnh nhau như ở xe kéo mà cái trước, cái sau. Người lái ngồi trên bánh sau, thế mà nó quay được.

Chính xác như thế nào thì đệ không thể nhận ra. Theo sự suy xét của con người thì chiếc xe kéo này phải lật nhào tức khắc, thế nhưng nó không lật nhào, thậm chí nó chạy nữa cơ, tuy người trên bánh xe – đệ ngờ rằng y là một nhà làm xiếc – hoàn toàn không ngồi yên mà guồng thật nguy hiểm. Chiếc xe hai bánh tuy chậm hơn ô-tô nhiều, nhưng nhanh hơn người chạy. Đệ nhìn theo chiếc xe làm xiếc nọ thật lâu rồi mới quay về nhà ông Shi-shmi. Ông đứng đợi ở cửa, nghĩa là ông quả thật hơi lo không rõ đệ có may mắn trở về chăng.

Giờ đệ sẽ tiếp tục kể về những phiêu lưu khác trong ngày thứ hai của đệ nơi thế giới xa lạ này.

Viên phán quan thân thiện và nhân đạo không chỉ trả tự do cho đệ, mà trước hết còn dẫn đệ tới ô-tô của ông sau khi đã lo để đệ nhận lại túi du hành. (Đệ nhìn ngay vào túi: cả chiếc la bàn-thời gian lẫn các thoi bạc và tập giấy vượt thời gian vẫn còn nguyên. Dẫu sao bọn sai nha này dường như chân thật). Bọn đệ đi – thỉnh thoảng đệ lại bất tỉnh trong lúc xe chạy – tới nhà viên phán quan. Đệ không loại trừ rằng ông ta, dẫu sao cũng là một kẻ có học thức trong khuôn khổ của sự mọi rợ thống trị ở đây, đoán được gì đấy về phẩm trật của đệ. Đệ không còn là tù nhân nữa, rõ ràng thế, mà là khách của ông ta. Nếu huynh nghĩ rằng nhà viên phán quan hẳn rất giống nhà các quan lớn của chúng ta thì huynh nhầm to. Cứ cho rằng phẩm trật của viên phán quan thân thiện này ngang cỡ Trang Vương, cháu họ của đệ. Nó mới chập chững trên hoạn lộ và mang hàm cửu phẩm thôi, thế mà đã có, nếu đệ không nhầm, một chính thất, ba thứ thất, sáu hầu thiếp và có lẽ hai mươi hoặc ba mươi nô tì và một dinh thự tuy khiêm tốn, nhưng xinh xắn. Còn viên quan này chỉ có duy nhất một vợ, không nàng thiếp nào, nô bộc tuyệt nhiên không có. (Ông Shi-shmi, như đã nói, không có cả chính thất lẫn hầu thiếp. Lạ lùng thật. Mà ông nào phải tên ăn mày hoặc thầy tu hay bợm nhậu cho cam). Ngôi nhà của viên phán quan tuy bằng đá nhưng rất thô kệch. Vâng, quan niệm thế nào là một ngôi nhà đẹp cũng biến đổi với nền văn hóa. Nhưng quan niệm thế nào là nhỏ cũng đổi thay thì đệ hoàn toàn không tin. Hẳn ta nghĩ rằng nhà của bọn khổng lồ ở đây to lớn hơn của ta, tương ứng với thân thể của chúng. Sai bét. Đó chỉ là những hang hốc. Nhà viên phán quan nói chung chỉ bằng nửa cái nhà thủy tạ mà đệ luôn muốn nới rộng, vì những con hồng tước của đệ đã cảm thấy quá chật chội. Nhưng chê bai cũng chẳng ích gì: đệ phải mừng đã tìm được chỗ che thân. Đệ ở nhà viên phán quan hai ngày.

Bức thư ngắn ngủi đầu tiên (đệ viết đôi ba dòng trên chiếc cầu nọ ngay khi vừa “tới nơi”, trước khi trông thấy gã khổng lồ đầu tiên và những cuộc phiêu lưu của đệ bắt đầu) đệ bỏ ngay vào điểm liên lạc. Bây giờ đệ muốn kể chi tiết. Câu hỏi đặt ra là bằng cách nào đệ có thể tìm lại được cây cầu trên “Kênh Chuông Xanh”. Đệ biết rõ rằng chỉ viên phán quan mới có thể đưa đệ tới đó, thành thử muốn hay không đệ cũng sẽ phải chịu để được chở đi bằng ô-tô. Nhưng giải thích cho viên phán quan bằng cách nào? Đệ chưa nói nổi một từ của thứ tiếng ở đây. Thành thử đệ đã cố gắng hết sức diễn màn kịch câm “Hai sai nha bắt giữ quan Cao Đài tôn kính.” Đệ làm điệu bộ diễn tả “Ô-tô nhảy lên một thân cây tại một chiếc cầu.” Đệ lắc lư như chiếc chuông treo ở khung cửa, chỉ vào cây dù màu xanh da trời của bà vợ viên phán quan, rồi nằm xoài trên sàn nhà vung vẩy chân tay... Hoặc đệ không có tài diễn kịch câm, hoặc con kênh này giờ đây không gọi là “Kênh Chuông Xanh” nữa mà đã mang tên khác, nên viên phán quan chẳng hiểu gì hết. Chỉ sau khi đệ diễn lại thật chậm và rõ ràng hai màn kịch câm kia, ông ta mới loáng thoáng vỡ lẽ. Bọn đệ lên ô-tô của ông ta, rồi khi thấy đệ lộ vẻ mừng rỡ lúc thấy lại con kênh cùng cây cầu, viên phán quan mới rõ đệ muốn gì.

Lúc đệ ngồi trên tảng đá nọ, lấy tờ giấy vượt thời gian từ túi du hành và bắt đầu lúi húi viết cho huynh, viên phán quan dĩ nhiên hết sức tò mò muốn biết đệ làm gì ở đấy. Ông ta không ngớt đi quanh đệ và nhìn đệ một cách rất bất lịch sự. Phong tục ở đây rất lỗ mãng, đệ đã nói rồi. Nhưng vì ông ta không đọc được đệ viết gì, nên đệ bất chấp. Song trước khi đệ đặt bức thư vào điểm liên lạc và nó sẽ biến mất như có bàn tay phù thủy lấy đi – viên phán quan không hiểu nổi sự kiện này và có thể sẽ đâm ra hãi sợ nếu chứng kiến – đệ làm hiệu yêu cầu ông ta tránh ra xa. Lần này ông ta hiểu nhanh hơn và đủ lịch thiệp để đáp ứng yêu cầu của đệ. Chứ bình thường thì dân chúng ở Min-chen[4] này (thủ phủ của họ) tương đối thiếu lịch thiệp và ý tứ. Ông Shi-shmi, mà đệ ngày một thêm trọng thị, là trường hợp ngoại lệ.

Ông Shi-shmi là một người bạn của viên phán quan. Chiều ngày thứ ba ông đến nhà viên phán quan rồi đưa đệ về nhà ông. Hẳn hai người này đã thỏa thuận rằng từ đó đệ ở nhà ông Shi-shmi. Nhìn chung, đó quả là may mắn lớn cho đệ.

Ông Shi-shmi, như đệ đã viết, không có vợ lẫn thiếp, không có cả đầy tớ và nhà riêng. Ông ở cùng vô số người khác trong một ngôi nhà cao đến chóng mặt, gồm nhiều căn nhà nhỏ chồng lên nhau và nằm cạnh nhau. Ngôi nhà này thường ồn ào như cái chợ. Để đến những căn hộ riêng lẻ ấy người ta dùng một cầu thang chính lúc nào cũng bẩn thỉu hoặc một cái xe nhỏ độc đáo chạy thẳng đứng, theo mệnh lệnh của một cái nút. (Đệ chưa biết sử dụng cái xe này – nó gọi là li-lit[5]. Ông Shi-shmi làm được). Nhà ông Shi-shmi chỉ có sáu phòng, ba cái rất hẹp. Trong một phòng... chuyện này đệ sẽ kể sau, giữa đệ và ông Shi-shmi có một sự kiện khó ăn khó nói về căn phòng ấy. Ông Shi-shmi cho đệ dùng một trong những căn phòng lớn hơn. Từ đây có thể nhìn xuống con đường đá qua một cửa sổ lắp toàn bằng kính, nhưng chỉ trông thấy những ngôi nhà tương tự khác, cao hoặc thấp hơn và vài cái cây. Đệ ít khi nhìn ra ngoài, vì hễ nhìn là chóng mặt. Một may mắn nữa, lớn khôn xiết kể là nhà ông Shi-shmi cách điểm liên lạc trên cây cầu chỉ khoảng hai lý rưỡi. Chẳng bao lâu nữa đệ sẽ có thể tự đi đến đó và trở về mà không cần có ông Shi-shmi giúp. Có thể đệ sẽ thử ngay lần tới.

Vẫn luôn còn mưa. “Sai-vê-ta”. Người bạn xa xôi trung thành và nhẫn nhục của huynh chào huynh.

Cao Đài Đệ nghĩ đến con Tiểu Siêu với lòng nhớ nhung tha thiết.

❀ ❀ ❀

[1] Scheisswetter (sai-vet-tơ): thời tiết như c...

[2] Kravatte: ca-vat.

[3] Liter (li-tơ): lít.

[4] München (Muyn-sần hay Muyn-chần) hay Munich là thủ phủ bang Bayern (hay Bavaria) ở Đông Nam nước Đức.

[5] Lift: thang máy.

Người dịch: Lê Chu Cầu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.