Thư gửi về Trung Quốc xa xưa

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thư thứ ba mươi mốt

❊ ❊ ❊

(Thứ Tư, 15 tháng Giêng)

Lão bằng hữu Di Ngô quý mến,

Trong thời gian ở nơi Ki-tsi-bü kinh tởm dĩ nhiên đệ không thể dự những tối hòa nhạc của ông Shi-shmi. Lúc ấy, như ông cho biết, mọi người cũng tạm nghỉ một số buổi. Vì theo tục lệ của bọn mũi lõ, ông chơi wa-tsche và cậu con trai chơi cheng-lo cũng đi tới vùng núi non để trượt tuyết. Tuy đệ không hiểu nổi sao một người có học như ông Techo gảy đàn wa-tsche và cậu con đầy năng khiếu lại chạy theo một tập tục khôi hài như trượt tuyết, nhưng thật thế, ngay người có học cũng không thoát ra khỏi chiếc lưới tập quán. Khi tập quán đã bám rễ rồi thì nó có thể ảnh hưởng đến đầu óc ta, khiến ta chấp nhận nó là tất yếu và không thể vượt ra được. Ở Trung Quốc cũng thế thôi. Chúng ta cũng tin rằng không cúng vào mùa xuân và mùa thu sẽ khiến thế giới đảo lộn, dù muộn nhất kể từ thời Trang Tử chúng ta biết rằng những chuyện này chẳng có ý nghĩa gì. Nhưng vấn đề là thế: con người ta chỉ sống được trong mạng lưới của những tập tục, tập quán, nếu không muốn cảm thấy cuộc sống lạnh lẽo và cô đơn; cho dù anh không hoặc không luôn luôn tuân theo những tập tục này. Kỳ lạ thật. Nó khiến đệ nghĩ tới mùi lũ cừu toát ra, rằng thiếu nó thì chúng không quây quần thành đàn được.

Nhiều tay mũi lõ – tí nữa thì đệ viết thành bọn mũi tuyết – theo tập tục trượt tuyết này... Cả ông Shi-shmi cũng say mê, chỉ bà mẹ của ông ở nhà thôi, nghĩa là ở trong căn hộ của ông. Bà cũng sắp về rồi. Lúc ấy ông Shi-shmi sẽ mượn chiếc la bàn-thời gian của đệ. Đệ thở dài. Không có cách nào thoái thác được.

Đặc biệt lần này buổi hợp tấu của họ (buổi đầu tiên sau khi mọi người trượt tuyết về) không diễn ra vào ngày thứ tư, mà ngày thứ ba theo cách chia lịch của bọn mũi lõ. Lần này nhóm tứ tấu được bổ sung một bà tên Lo-ho-ven. Bà không chơi đàn, mà thổi một cái ống tương tự ống tiêu với âm thanh nghe ngọt ngào và êm tai. Khúc nhạc ngũ tấu này là của thầy Mo-tsa chết trẻ mà đệ đã có lần kể với huynh. Đệ không muốn tán tụng, vì không thể nào diễn tả được sự tuyệt vời của khúc nhạc. Trong khúc nhạc này, bốn nhạc cụ kia giữ vai trò đệm theo tiếng tiêu lướt từ những nốt trầm ảm đạm đến nốt cao xanh ngát của vòng đời. Ấn tượng đầu tiên là mãnh liệt nhất khi được làm quen với thế giới âm nhạc của bọn mũi lõ, giống như đệ ở buổi tối nọ mấy tháng trước. Nếu tiếp tục đào sâu, như đệ đã làm, thì tuy nó hấp dẫn ta hơn, ta hiểu biết nhiều hơn và nhìn vấn đề từ nhiều mặt khác nhau, nhưng cái gọi là ấn tượng hồn nhiên về sự dữ dội ban đầu không còn nữa. Đệ ao ước được một lần trong đời nghe lại khúc tứ tấu tuyệt vời của thầy Ve-to-feng như đã nghe lần đầu tiên, nhưng không bao giờ còn được nữa. Khúc ngũ tấu của thầy Mo-tsa đến với đệ khi đệ đã có kiến thức về âm nhạc của bọn mũi lõ, thế lại hay, bằng ngược lại, có lẽ đệ sẽ không hiểu nó ngay như đã hiểu nhạc khúc của thầy Ve-to-feng, hoặc giả đệ sẽ chết vì xúc động. Như đã nói: đệ không muốn tán dương. Chỉ thế này thôi: thầy Mo-tsa hẳn phải là thần thánh nhất trong các bậc thầy từng đặt chân lên trái đất này. Đệ không ngại dùng từ “thần thánh” mà bình thường đệ vẫn tránh. Và đệ sẽ mãi nhớ những lớp âm thanh trong khúc ngũ tấu của ông khi trở về với thế giới của chúng ta và đệ không giấu giếm rằng điều này sẽ mãi khiến đệ được hạnh phúc.

Như mọi khi, bọn đệ lại ngồi cùng nhau hàn huyên sau buổi hòa nhạc. Hôm kia tình cờ đệ ngồi cạnh ông Te-cho và chuyện vãn với ông. Tuy thân thể ông to lớn đẫy đà nhưng đầu óc ông linh hoạt. Trò chuyện qua lại, bọn đệ bàn tới hội họa. Ông Te-cho nhận thấy đệ chẳng biết gì về hội họa của thế giới ông, nên ân cần muốn hôm sau – nghĩa là hôm qua – chỉ cho đệ xem đôi chút, vì hôm ấy ông rảnh.

Mới đầu đệ ngỡ ông sẽ dẫn đệ vào cung điện của ông và có lẽ ông có một bộ sưu tập về tác phẩm nghệ thuật. Nhưng không phải, ông Te-cho không có dinh thự lẫn bộ sưu tập nào. Bọn đệ vào một tòa nhà lớn, phải nói là khổng lồ, ở đó Nhà nước trưng bày nhiều tranh, tượng và nhiều đồ mỹ nghệ khác cho công chúng vào xem. Đệ thấy điều này không dở và ta phải cân nhắc nghiêm túc có nên đưa vào đất nước chúng ta – dưới một hình thức thay đổi cho thích hợp – vì giá trị của việc nâng cao dân trí có thể có ý nghĩa.

Tuy nhiên ở bọn mũi lõ luôn có một nhược điểm, đó là chúng hầu như không đến xem. Ông Te-cho bảo thế và chính đệ cũng thấy, vì dường như trong tòa nhà chỉ có hai người bọn đệ thôi. Ông Te-cho bảo ở Min-chen có nhiều tòa nhà trưng bày nghệ thuật lớn hơn và nhỏ hơn. Người dân Min-chen không vào đó vì họ không bị ép phải xem và không phải tuân theo luật lệ hay tập tục nào. Người dân Min-chen chỉ vào xem những công trình nghệ thuật ở thành phố khác, còn người dân nơi khác khi tới Min-chen lại vào xem những công trình nghệ thuật này. Thật là kỳ quái.

Đệ không muốn mất thì giờ (của huynh và của đệ) kể chi tiết về tòa nhà và thế giới nghệ thuật mở ra với đệ. Đệ chỉ tóm tắt những ấn tượng có được.

Không thể chối cãi rằng bọn mũi lõ có một truyền thống nhất định, thậm chí đáng kể về nghệ thuật tạo hình. Tuy nhiên không thể so sánh với ấn tượng âm nhạc của chúng đã gây cho đệ. Tranh của chúng thô, sặc sỡ và luôn chi tiết đến tận chóp lá. Đệ tin đã nhận rõ điều này: không phải chúng bủn xỉn tiếc không gian bỏ trống, mà vì chúng nghiện nắm bắt hết mọi thứ. Chúng nhất định phải nắm bắt hết mọi thứ. Về mặt này thì hội họa chính là hình ảnh phản ánh cuộc sống của chúng. Ngay cả chúng ta, ít nhất là những kẻ có học cũng muốn nắm bắt, có thể là tất cả, tuy ở ta ai cũng biết là không thể. Nhưng bọn mũi lõ không tin như vậy, chúng mù quáng cho rằng ngày nào đấy người ta có thể nắm bắt tất cả. “Tất cả?” đệ hỏi Duy-Lân tử. “Tất cả là gì?” ông lúng túng. Đệ lý sự rằng không bao giờ có tất cả được, ông liền dùng vài phép tính rất ấn tượng chỉ để khiến đệ thấy rằng bộ môn khoa học mà bọn mũi lõ cho là chính xác này gần thế nào với ước đoán. Theo đệ thì thế giới quan của chúng giống của một người đứng trên đầu tấm ván. Bao lâu cuối tấm ván nặng hơn thì nó còn đứng vững. Thậm chí nếu liều lĩnh, anh ta còn có thể bước vài bước tới trước. Nhưng chỉ quá một bước nữa, tấm ván cùng anh ta sẽ rơi xuống dưới. Nhà toán học cho rằng mình táo bạo, họ dấn bước tới trước. Một ngày nào đấy họ sẽ rơi xuống đáy vực của sự ước đoán và rồi toán học của họ đột nhiên lại trở thành mê tín.

Cả chúng ta cũng muốn nắm bắt – không phải tất cả, nhưng những điều hàm súc nhất. Tuy vậy chúng ta biết rằng cái hàm súc không phải là nắm bắt được qua sơn phết tới tận rìa. Chúng ta biết rằng nhiều sự vật (trong hội họa và những bộ môn khác) chỉ có thể nhận thức được khi ta không lý tới nó, không diễn tả mà tránh né. Bọn mũi lõ không biết tránh né. Khi mọi âm cung được đồng thời chơi liên tục thì nó không thành một bài hát, tuy những âm cung của bài hát nằm trong những nốt được chơi. Nhưng bọn mũi lõ là như thế: chúng chơi mọi âm cung rồi mặc nhận đã nghe một ca khúc.

Không thể phủ nhận một số bức họa đã khiến đệ rất ấn tượng. Chúng trình bày không biết chán về tích ông Chúa của chúng bị hành hạ. Rất đáng chú ý. Có cả trăm kiểu khác nhau vẽ ông bị đóng đinh và treo trên giá gỗ. (Đặc biệt những tai họa, chạy loạn, động đất, giông bão và mọi cảnh không đẹp mắt lại là đề tài ưa chuộng của các họa sĩ mũi lõ). Phải chấp nhận chứ không bàn cãi. Có một bức (phần lớn tranh vẽ bằng sơn dầu trên gỗ hoặc trên vải được căng ra) của thầy Ti-tsi-tsa[1], bức này rất lớn, diễn tả cảnh ông Chúa tội nghiệp nọ bị bọn đao phủ chụp mũ gai lên đầu giả làm vương miện. Trừ đề tài không vui ra, đệ rất ấn tượng về bức tranh này, vì theo đệ thì dường như thầy Ti-tsi-tsa (còn một người nữa mà tên của ông đệ chịu không phát âm nổi) đã hiểu rằng cái không thể hiểu được chỉ có thể diễn tả bằng cách không đề cập tới. Đệ ngồi rất lâu trước bức tranh này và ngắm nhìn. Thầy Ti-tsi-tsa thọ chín mươi chín tuổi (Thầy sống cách đây khoảng bốn trăm năm). Thầy vẽ bức tranh ông Chúa phải đội vương miện nhạo báng này vào những năm cuối đời. Hẳn thầy đã phải cần bấy nhiêu năm mới hiểu được nguyên lý đơn giản nọ. Dẫu sao đây là điều đáng ghi nhận và qua bức tranh đệ cảm thấy thầy xuất hiện như một người lạ trong thế giới của bọn mũi lõ.

Điều này cũng đúng với một họa sĩ khác, tuy ông không phải không ưa vẽ cảnh tượng tai họa, thêm vào đấy là những hình người phần lớn rất xấu, chủ yếu vẽ chính ông, nhưng ông đã tìm ra một cách độc đáo để tránh việc phải vẽ tất cả: ông thể hiện những cảnh tượng trong bóng tối. Đêm tối kinh hoàng luôn ngự trị trên tranh của ông và con người từ đó nhìn ra như những bóng ma khiếp sợ. Ông thầy này sống cách đây ba trăm năm ở một nước phía Bắc và đệ tin chắc rằng ông đã khiếp hãi thế giới này của bọn mũi lõ.

Một đề tài khác rất được ưa chuộng của các họa sĩ mũi lõ là vẽ khỏa thân. Ông Te-cho đã hướng dẫn và giải thích cho đệ các bức tranh này, bảo rằng đó là những “vị thần cổ xưa”. Đệ không hiểu rõ lắm. Dường như xưa kia, nhiều trăm năm hoặc thậm chí nghìn năm trước, bọn mũi lõ tin vào các thần thánh lõa thể. Vào khoảng bắt đầu nhà Đông Hán ở nước ta, ông Chúa – luôn gần như lõa thể – bị đóng đinh trên giá gỗ đã tống cổ những thần thánh xưa ấy. Song các bức họa về những thần thánh lõa thể lại toàn được vẽ sau này; đệ chịu không giải thích nổi sao lại có chuyện như thế. Nhiều bức tranh vẽ các nữ thần lõa thể thậm chí được ưa thích. Những bức tranh này nói chung rất đẹp và một vài nữ thần gợi đệ nghĩ đến nàng Pao-leng, vì thỉnh thoảng đệ cũng đã được diễm phúc chiêm ngưỡng nàng như thế. Hiếm khi họ vẽ hoa, nếu có thì chúng được cố ý sắp xếp nằm vương vãi.

Tuy vậy đệ rất biết ơn ông Te-cho đã giới thiệu và giải thích cho đệ. Sau khi rời khỏi tòa nhà nghệ thuật bọn đệ dùng bữa trong một phạn điếm rồi đệ khom lưng một lần rưỡi từ biệt ông.

Bọn mũi lõ còn có một cách khác để vẽ tranh, thông qua một cơ chế phức tạp trong một hộp con màu đen. Ta nhấn vào các nút (lại nút!) rồi đem hộp đến một cửa hiệu đặc biệt, ít lâu sau ta nhận lại được hộp và những tấm hình nho nhỏ bóng láng trên giấy và ngạc nhiên sao khi thấy đó là những cảnh tượng trước đây, khi ta bấm nút. Sử dụng cái hộp nhỏ này chẳng khó khăn gì. Nàng Pao-leng có một cái và chính đệ đã bấm nút khi nàng mặc bộ áo rực rỡ dợn sóng đứng ngoài hiên. Quả thật sau đó là hình nàng Pao-leng mặc bộ áo dợn sóng, tuy nàng đã thay áo khác từ lâu. Có cả hình chụp đệ nữa và nhiều lần đệ đã chụp nàng Pao-leng lõa thể, đệ nghĩ sẽ đem theo mấy hình này về cho huynh xem. Việc sử dụng hộp con để có hình rất đơn giản nên người hậu đậu nhất cũng làm được. Song cũng lại thế: sau khi nó không còn là nghệ thuật nữa, người ta đã chụp những tấm hình hết sức vớ vẩn. Chẳng hạn nàng Pao-leng có một tấm – tình cờ đệ thấy – chụp người chồng cũ khuấy soong với chiếc muỗng gỗ. Ai thèm quan tâm đến loại hình như thế này chứ?

Trong tòa nhà nghệ thuật, đệ cũng được xem một bức tranh vẽ một người bị chặt đầu. Nhân đấy đệ liền hỏi ông Te-cho về các hình phạt thông thường ở thế giới này. Qua đó đệ biết nhiều chuyện độc đáo. Gần đây, hình phạt xử trảm và nói chung thắt cổ, treo cổ và đại loại thế đã bãi bỏ ở Ba Yan và nhiều nước khác. Cũng không còn chặt chân tay hoặc phạt trượng kẻ phạm tội. Kẻ phạm tội hoàn toàn không bị trừng phạt nữa ư? đệ hỏi. Có chứ, ông Techo đáp. Nhưng ở Ba Yan và những nước tương tự chỉ còn hai hình phạt thôi: tội nhẹ thì kẻ phạm pháp bị phạt tiền, tội nặng thì bị tống vào ngục, ở đây y được nuôi ăn chứ chẳng bị gì khác.

Đây quả là một quan điểm cao thượng và nhân đạo của bọn mũi lõ mà đệ không ngờ. Như huynh biết, từ lâu đệ đã cho rằng khổ hình không diệt được bọn tội phạm, khác với quan niệm của những người theo phái pháp gia. Qua khổ hình – cũng giống như qua sự giáo dục hào hiệp – con người ta không bao giờ tốt hơn được. Đệ hỏi ông Te-cho rằng cách cư xử nhân đạo này có đạt kết quả tốt không hay chính vì quá khoan hồng mà bọn tội phạm cảm thấy được khuyến khích tiếp tục càn quấy? Ông Te-cho bảo rằng cả hai mặt đều không. Theo ông thấy thì mọi chuyện vẫn như cũ, chẳng có gì thay đổi. Thú thật đệ hơi buồn, không phải vì đệ mất đi một luận cứ chống lại khổ hình, mà vì đệ một lần nữa phải thấy rằng không cải tạo được con người, dù đó là bọn mũi lõ ở đây hay là dân Trung Quốc ở ta. Ngoài ra phần thưởng cho hành vi tốt đã bãi bỏ hoàn toàn. Chỉ hình phạt là vẫn còn. Tại sao thế? Ông Te-cho ngạc nhiên về câu hỏi của đệ và rằng ông chưa hề nghe hoặc đọc thấy Nhà nước nào không chỉ trừng phạt kẻ phạm pháp mà còn tưởng thưởng người có hành vi tốt. Dường như ông thấy đây là điều hoàn toàn mới lạ và nhà cầm quyền hẳn sẽ coi đó là vô lý.

Vừa rồi đệ nhận được một bức thư của một trong những thầy cãi chuyên nghiệp mà đệ từng kể với huynh. Nó đi vòng vo mãi tận đâu rồi mới tới tay đệ. Cả bức thư này – mới đầu nó làm đệ lo lắm – cũng khiến đệ suy ngẫm về tưởng thưởng và trừng phạt. Huynh còn nhớ đệ đã kể vụ đụng độ không vui đầu tiên với một chiếc ô-tô ngay khi đệ vừa mới tới đây không? Nay đệ có thể giải thích vụ này đúng đắn hơn hồi đó. Lúc ấy đệ tỉnh bơ bước qua đường. Đệ sẽ bị nó cán ngay nếu như nó không cố tránh đệ. Nhưng để tránh thì nó phải tông vào cái cây và bị hư hại. Người lái chiếc ô-tô này, như nay đệ được biết, bị thương khá nặng ở đầu và phải đến bác sĩ điều trị. Còn chiếc ô-tô không dùng được nữa.

Qua nhiều dọ hỏi và vất vả tìm kiếm, người lái chiếc ô-tô này biết được tên đệ và hiện đệ đang ở trong khách sạn này. Ông ta đòi đệ bồi thường chiếc xe mới. Viên thầy cãi chuyên nghiệp đã nhân danh ông ta viết thư cho đệ. Đúng ra thì đòi hỏi này không phải là đắt, vì một là đệ quả thật có lỗi trong chuyện ô-tô của ông ta hư hại, hơn nữa ông đã không cán lên đệ mà tông vào cái cây, nghĩa là đã cứu mạng đệ. Nhưng bức thư tay thầy cãi chuyên nghiệp này viết rất bất lịch sự, ngay cả theo quan điểm mà đệ đã quen dần của bọn mũi lõ. Viên thầy cãi chuyên nghiệp đòi không dưới giá trị của mười thoi bạc. Hắn tên là Kao. Như một người đột nhiên bị kiện ra tòa, đệ vô cùng hốt hoảng. Nhưng bây giờ đệ đã bình tĩnh lại và nghĩ rằng nếu kéo dài được vụ này ít lâu nữa thì đệ tếch mất rồi và ông ta cũng như tay thầy cãi Kao sẽ tha hồ giương mắt chờ tiền.

Nhưng đệ phải thú nhận như thế là không đạo đức, vì quả thật đệ đã gây thiệt hại cho ông ta. Song đệ tự nhủ: ít đi một ô-tô là thêm một điều phước cho bọn mũi lõ, thành ra đệ không trả gì hết. Đó là lời biện hộ của đệ về mặt đạo đức; những thoi bạc còn lại và năm chiếc cốc vàng chạm trổ tuyệt đẹp (phần dự trữ vững chắc của đệ) đệ thà để lại cho ông Shi-shmi. Nhưng vụ này đệ sẽ trao đổi với phán quan Me-lon, đây là nghề của ông mà.

Đệ chào huynh, người bạn xa xôi; mỗi ngày giờ khắc chúng ta gặp nhau lại mỗi gần hơn.

Cao Đài của huynh

❀ ❀ ❀

[1] Tizian (Ti-xi-an) hoặc Tiziano (1477 – 1576), họa sĩ Ý. Bức tranh được nói đến tên là “Đăng quang với vương miện gai” vẽ năm 1570 – 1571.

Người dịch: Lê Chu Cầu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.