Thư gửi về Trung Quốc xa xưa

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thư thứ hai mươi mốt

❊ ❊ ❊

(Thứ Hai, 28 tháng Mười)

Huynh vô cùng quý mến,

Cám ơn huynh đã viết cho đệ một bức thư hay ho và vui vẻ. Huynh đã công phu chép cho đệ cả chín mươi hai bài thơ lên tờ giấy vượt thời gian khiến đệ rất xúc động, nhưng thật không cần thiết. Vả lại loại giấy vượt thời gian rất đắt và hiếm, huynh nên để dành gửi cho đệ những tin tức quan trọng hơn là chép thơ của các thành viên đáng kính của Thi nhân hội hoàng gia “Nhị thập cửu đài tiển nham bích”. Chín mươi hai bài thơ! Chỉ riêng lão Quang Ngụy Phổ đã mười chín bài! Trước khi đi đệ đã quyết định mỗi thành viên đáng kính chỉ được nộp tối đa hai bài cho kỳ thi thơ mùa Thu thôi mà. Lão Quang Ngụy Phổ này nghĩ gì mới được chứ? Mười chín bài! Bài nào cũng lê thê. Mà đệ phải đọc hết... Lão Quang Ngụy Phổ này đúng là tay thi sĩ gây phiền toái nhất đệ từng gặp. Nếu không cho lão nộp nhiều bài hơn mọi người và được gí mũi vào mọi chuyện của Thi nhân hội thì lão sẽ khiến không ai chịu nổi. Trong khi đó, như đệ thấy, lần này lão Cù Khoa Thương đại lãn cũng lại chẳng nộp bài nào. Hẳn lão làm không xong. Càng tốt, vì đệ khỏi phải đọc những lời thở than lải nhải, nhưng dẫu sao hành động của lão vẫn rất không nghiêm túc. Đệ đã làm gì nên tội mà Thiên tử tin cậy trao cho trách nhiệm[1] đầy vinh dự làm Hội trưởng Thi nhân hội đáng kính này chứ? Đệ thà giám sát việc nuôi chó Bắc Kinh của hoàng gia hoặc bón phân cho các công điền còn hơn. Khi tới dịp đệ sẽ báo huynh biết quyết định của đệ về giải thưởng cho bài thơ hay nhất. Còn sớm mà.

Đệ rất mừng khi lão phó tể tướng rốt cuộc đã nhượng bộ để quý tử của lão kết duyên cùng tệ nữ. Chuyện này cần phải tiến hành nhanh chóng. Đệ mong sang năm khi trở về mạnh khỏe và bình an (đệ hy vọng thế) sẽ có thằng cháu đầu lòng chuẩn bị chào đời. Huynh hãy tế nhị nói thế với lão. Bằng không sang năm đệ sẽ không thèm mời lão dự lễ gia tiên hoặc sẽ xếp cho lão một chỗ ngồi rất bất xứng. Huynh chọn đứa con gái nào của đệ? Đệ chẳng biết đứa nào tên Cao Pha. Phải con bé tai to không? Nó giống mẹ nó đấy. Trong dòng họ đệ chẳng ai tai to như nó.

Xin đừng gửi bài thơ nào cho đệ nữa. Nếu lão Cù Khoa Thương đại lãn vẫn nộp, huynh hãy gửi trả lại với lời ghi chú rằng đã hết hạn. Chín mươi hai bài thơ! Trời ạ, có quá nhiều người làm thơ. Huynh nên biết mới đây đệ lại có một buổi trò chuyện dài rất thú vị với ông Shi-shmi. Theo cái nhìn của bọn mũi lõ ở đây thì chúng có cảm tưởng rằng thời đại chúng ta chẳng có chuyện gì khác hơn là làm hết bài thơ này đến bài phú khác. Hậu thế nhìn chúng ta như vậy đấy!

Buổi trò chuyện giữa đệ với ông Shi-shmi diễn ra mấy ngày trước vì một nguyên do khác. Ông đến đón đệ tại khách sạn vào lúc sáng sớm, đưa đệ tới dự một phiên tòa để đệ làm quen với việc thi hành công lý ở xứ này, dẫu sao đó cũng là một bộ phận quan trọng trong đời sống công cộng.

Bọn đệ ăn sáng ở khách sạn rồi lên đường. Tòa án không xa mấy. Tòa án không phải tòa nhà mà đệ đã buộc phải ngủ đêm đầu tiên khi tới đây. Đó là tòa án của bọn sai nha, còn đây là tòa án của thành phố Min-chen.

Viên phán quan (bạn của ông Shi-shmi, người ngay lúc đầu đã giao đệ cho ông, chỉ làm việc ở tòa án của bọn sai nha thôi) đã thân ái giới thiệu bọn đệ với ông Me-lon[2], một đồng nghiệp tại tòa án thành phố và bọn đệ đã xin gặp ông này. Bọn đệ được phán quan Me-lon đáng kính thân mật đón tiếp, chứ ấn tượng đệ có được tại tòa án này thật đáng kinh ngạc. Từ đó đến nay, vì đã quá rành phong tục tập quán ở đây nên đệ chờ đợi sẽ thấy một tòa nhà với những trụ cột sơn phết thẩm mỹ khiến ta kính nể. Nhưng đệ đã kinh hoàng. Tòa nhà tuy lớn nhưng không toát ra chút uy nghi nào cũng như chẳng có gì biểu hiện trật tự và kỷ cương, những thứ tòa án phải tái lập khi chúng suy tàn.

Trước hết đệ nhận thấy bên dưới tòa nhà có hàng quán. Đúng vậy! Huynh không đọc nhầm đâu: hàng quán. Trong khi mức độ công lý do trời trao được chỉnh đốn ở những tầng trên, thì ở bên dưới bọn chủ các cửa hàng tạp phẩm thản nhiên bán áo quần, gối chăn, hoa, đồ lót chân bằng da và đĩa ăn có nhạc[3] (đệ sẽ phải kể với huynh về đĩa ăn có nhạc này, nhưng vào một lần khác).

Văn phòng của phán quan Me-lon còn tồi tàn hơn mức thảm hại, nó hôi hám, bàn ghế mòn vẹt. Căn phòng nhỏ như chuồng chó thế mà có tới hai phán quan, không thể tránh khỏi đạp lên chân nhau. Dường như phán quan ở thế giới này không được cả dân chúng lẫn chính quyền trọng thị – dù đúng ra họ là cơ quan duy trì trật tự của chính quyền. Ông Me-lon rầu rĩ xác nhận ngay với đệ điều này và bảo rằng những hàng quán dưới kia lớn và đẹp hơn văn phòng của các phán quan.

Ông Me-lon có một nhiệm vụ đặc biệt tại tòa án Min-chen. Ngay từ đầu đệ đã kể với huynh rằng những chiếc ô-tô chạy tới chạy lui hỗn loạn và những tòa nhà sắt di động cùng mọi thứ qua lại trên những con đường trải đá của thành phố này không đụng phải nhau thì quả là một phép lạ. Nay đệ biết rằng phép lạ này chẳng ghê gớm gì lắm, vì ô-tô có đụng nhau chứ và không phải ít. Xe móp méo, còn người lái bị thương tật. Có khi xe hư hại hoàn toàn còn người lái không hồi phục nổi, phải chết. Nếu những người lái sống sót, họ sẽ tranh cãi ai có lỗi trong vụ đụng xe, nghĩa là ai phải trả tiền cho việc tu sửa xe của người kia.

Ở tòa đại hình thành phố có tới sáu phán quan với nhiệm vụ duy nhất: liên tục xử những vụ kiện cáo này. Ông Melon là một trong những phán quan ấy. Sau khi giải thích cho đệ chuyện này chuyện nọ, ông Me-lon đứng lên bảo phải chuẩn bị ra xử án (viên phán quan kia vắng mặt, tuy cũng có bàn ghế trong căn phòng này). Ông thắt quanh cổ một món trang sức màu trắng, giống kiểu con bướm phụ nữ đời Đường thường cài trên mái tóc, và mặc một chiếc áo thụng đen.

Tuy đã quen với sự vô trật tự cùng tập quán suy đồi ở đây, đệ vẫn chờ đợi thế giới này của bọn mũi lõ còn giữ được chút ít kính trọng trước phong tục xưa. Vì đệ hiểu biết chưa đủ cho nên cứ luôn bị thất vọng. Có lẽ một người như đệ với nguồn cội ở tận thời trước rất xa xôi không thể không thất vọng thường xuyên. Ông Me-lon chỉ cho ông Shi-shmi cách đi tới sảnh đường sẽ diễn ra phiên tòa – và bọn đệ đi xuống trước, qua một hành lang chật hẹp, tăm tối. Gọi là sảnh đường nhưng chẳng xứng tí nào, nó chỉ là một căn phòng tương đối lớn thôi. So với nó thì căn phòng phụ bé nhất của khách sạn “Bốn Mùa” là cả một dinh thự. Không chút đường bệ và lộng lẫy, hoàn toàn thiếu những biểu tượng khiến ta phải kính sợ. Bọn đệ ngồi ở chiếc ghế dài tít phía sau, nó kẽo kẹt như thể phản ánh tâm trạng của đệ khi chứng kiến sự thiếu oai nghiêm. Một đám người – có cả phụ nữ – đứng túm tụm, tán gẫu bằng giọng ồm ồm thô lỗ hoặc sột soạt giở giấy đọc. Đệ cố ngẫm nghĩ xem cái gì đã khiến căn phòng thiếu oai nghiêm. Cái ghế dài kẽo kẹt? Những chiếc ghế mòn phía trước? (Một chiếc long ra, nằm lăn lóc ở một góc). Những bức tường hơi ám khói? Bọn mũi lõ tán gẫu tỉnh bơ như ngoài chợ? Đúng, những cái ấy đều có, nhưng trước hết là vì căn phòng quá thấp – đệ rõ được điều này lúc cùng ông Shi-shmi ngồi xuống chiếc ghế dài. Bọn mũi lõ nói chung đều cao lớn (cả phụ nữ; chẳng hạn nàng Pao-leng cao hơn đệ ít nhất cũng một cái đầu) nhưng lại sống và thích làm việc trong những căn phòng thấp tè, chỉ đủ cao để chúng đứng thẳng thôi. Sao vậy? Điều này chẳng ai giải thích nổi cho đệ. Đền đài của chúng ta cao, sảnh đường các dinh thự ở ta có trần cao vòi vọi, ngay cả nhà riêng chúng ta cũng chú ý xây mái cao để khỏi cảm thấy ngột ngạt. Còn ở đây bọn mũi lõ hầu như không đứng thẳng nổi trong phòng của chúng. Khi rõ như thế, đệ liền nêu vấn đề với ông Shi-shmi. Ông tròn mắt nhìn đệ và dường như mới đầu không hiểu đệ hỏi gì. Rồi ông đáp: Tại sao? Ta đâu cần nhiều không gian bên trên đầu, thế là phí phạm. Như vậy với cùng một chiều cao ngôi nhà người ta có thể xây được nhiều tầng hơn. Ông Shi-shmi, đáng gọi là bậc thông tuệ trong thế giới của ông, đã quan niệm thế đấy.

Đệ không nói ra song nghĩ rằng bọn mũi lõ sở dĩ xây phòng thấp vì chúng rất sợ sự oai nghiêm. Không gian phía trên đầu đồng nghĩa với oai nghiêm. Sao chúng lại sợ oai nghiêm? Vì oai nghiêm tất yếu xứng đáng với từng cá nhân – người quân tử, bậc hiền giả, phán quan – chúng thà khước từ hoàn toàn oai nghiêm chứ không muốn những cá nhân này được như thế. Thành ra ở đây lòng ganh tị của bọn hạ đẳng thống trị và bọn chúng gọi như thế là “sự làm chủ của nhân dân”. Trong khi đó một số bọn mũi lõ, chẳng hạn ông Shi-shmi và Duy-Lân tử, biết rất rõ rằng chỉ oai nghiêm mới bảo đảm được trật tự, nhưng họ không dám nói lớn điều này.

Phán quan Me-lon bước vào phòng ngay giữa đám người đang cười nói huyên thuyên. Một người phụ nữ – sau này đệ mới biết chỉ là một kiểu thừa phát lại – đã khiến bọn mũi lõ huyên thuyên kia phải kính nể phần nào khi dõng dạc nói: “Yêu cầu mọi người đứng dậy, phiên tòa nhóm họp!” Dĩ nhiên đệ đứng ngay dậy, cả mọi kẻ đang ngồi nữa, nhưng nếu huynh chờ đợi rằng đúng lẽ thì mọi người phải quỳ mọp xuống đất, chờ phán quan ngồi xuống và cho phép họ ngẩng đầu thì huynh nhầm to, chẳng ai quỳ mọp cả. Với lại sàn nhà khá bẩn thỉu vì ngoài trời mưa, chân ai cũng dính bùn. Sau khi được phán quan ra hiệu cho phép ngồi, đệ khẽ hỏi ông Shi-shmi những người này là ai? Đó là những thầy cãi chuyên nghiệp. Hóa ra ở đây không ai tự đến tòa cả, có một đẳng cấp đặc biệt đại diện các bên trước tòa. Tại sao những kẻ liên quan lại không ra hầu tòa? Nhất định không phải vì họ sợ, mà vì họ không hiểu công lý. Sau phiên xử, khi ông Me-lon tôn kính đã cởi bỏ áo thụng và món trang sức màu trắng ở cổ, đệ đã trò chuyện khá lâu với ông trong một phạn điếm gần tòa án (đệ đánh bạo mời ông dùng bữa ở đó và ông đã nhận lời) và hỏi ông nhiều chuyện.

Đúng thế, ông nói, trong vương quốc của bọn mũi lõ cũng có công lý chứ, chỉ có điều công lý này tạm gọi là đã bị chia cắt thành vô số mảnh vụn tiềm ẩn trong vô số điều luật thành văn (vô số ngay cả với chính ông và các đồng nghiệp). Việc nhận ra công lý đã trở thành một ngành khoa học chuyên biệt. Người thường không hiểu nổi nữa, cho nên mới có những thầy cãi chuyên nghiệp.

Ai quy định việc thảo ra những đạo luật này? đệ hỏi. Nhà nước, ông Me-lon đáp.

Di Ngô quý mến ơi, đệ biết nói gì nữa bây giờ? Nghĩa là ở đây không có thứ công lý cổ truyền được xác định qua quan sát trật tự của trời đất và quy định Nhà nước cùng các viên chức phải làm gì một cách công bằng, mà ngược lại, Nhà nước và đám viên chức quy định cái gì là công bằng, cái gì không (đám viên chức tự coi mình là ông chủ, như viên thượng thư khai man Chi người Nam man mà đêm nọ đệ đã gặp trong dạ điếm có các nữ nghệ sĩ khỏa thân). Chính nó khiến đời sống công cộng không có trật tự, đệ có thể hiểu rõ điều này.

Nhưng hãy quay trở lại phiên xử. Mọi người đều ngồi xuống, kể cả phán quan, cạnh ông là một bà mặt mũi cau có. Ai vậy nhỉ? đệ hỏi. Đó là một phụ tá cấp thấp của phán quan, bà có thể viết rất nhanh và ghi chép những điều quan trọng nhất khi phán quan và thầy cãi phát biểu.

Dĩ nhiên đệ hiểu rất ít về vụ xử. Phán quan nhiều lần cảnh cáo các thầy cãi hãy yên lặng. Đệ thán phục sự nhẫn nại của phán quan trong chuyện này. Dường như kiên trì là đức tính quan trọng nhất của phán quan ở đây.

Nhiều vụ kiện tụng được xử nối nhau thật nhanh. Thỉnh thoảng phán quan lại phê phán điều thầy cãi trình bày là vớ vẩn. Đó cũng là một trong những bất lợi của hệ thống tư pháp ở đây: vì trong trường hợp này viên thầy cãi giơ hai tay, ngoẹo đầu nói chính ông ta cũng biết thế là vớ vẩn, nhưng thân chủ của ông ta đã ra lệnh phải làm thế, muốn làm khác cũng không được.

Có một vụ xử tương đối lâu. Chuyện hẳn xảy ra lâu rồi, vào mùa đông vừa qua hoặc trước nữa: một chiếc ô-tô trượt trên tuyết, nhưng không phải đụng một ô-tô khác mà vào góc một ngôi nhà. Viên thầy cãi của người lái ô-tô lì lợm lý luận, theo như đệ hiểu, rằng trong vụ này ngôi nhà có lỗi chứ không phải chiếc ô-tô. Một lần nữa phán quan lại vô cùng kiên nhẫn, cố làm cho viên thầy cãi thấy ông ta phi lý. Nhưng viên thầy cãi càng ngoan cố, mặt đỏ gay, gần như quát tháo. Đệ nín thở. Viên phán quan vẫn ngồi, kiên nhẫn nghe. Cuối cùng viên thầy cãi mặt mũi đỏ gay kia đứng bật dậy lớn tiếng: ông ta không chấp nhận phán quan này, mà muốn một người khác. Thật ra đệ không mong chờ, nhưng trong một khoảnh khắc quả có nghĩ rằng hẳn viên phán quan sẽ phất tay, lệnh cho ba bốn sai nha lực lưỡng lôi tay thầy cãi láo xược này ra chém đầu lập tức.

Nhưng chẳng có gì xảy ra cả. Tất nhiên trong phòng có vài tiếng thì thào. Vài viên thầy cãi khác cố trấn tĩnh đồng nghiệp mặt đỏ, chủ yếu bảo ông ta đừng nói dai nói dài nữa, vì họ cũng muốn đến lượt. Một lúc sau mọi người bình tĩnh lại và phiên xử tiếp tục.

Chừng một giờ sau, trong phòng hôi nồng không chịu nổi khiến phán quan buộc phải cho nghỉ một lúc. Đệ với ông Shi-shmi cũng đi ra. Tới ngoài, phán quan Me-lon bảo bọn đệ hãy đi giải khát với ông. Ông cởi bỏ áo thụng đen nhưng cổ vẫn đeo món đồ trang sức trắng. Bọn đệ lại đi qua những hành lang dài, tới một căn phòng được gọi đùa là “Căn phòng nhỏ của những kẻ thề man” (hoặc dịch khác đi, nếu muốn: “Căn phòng của những kẻ thề man nhỏ con”), tiếng ồn ù cả tai. Tại một chiếc bàn có các thầy cãi; mặc dù mới lúc nãy còn cãi nhau dữ dội, giờ họ ngồi kể với nhau những mẩu giai thoại tinh quái mà họ ưa thích, còn đệ thì không hiểu. Một vài phán quan cũng ngồi đấy, ông Me-lon giới thiệu bọn đệ, sau đó đệ khiêm tốn ngồi vào một góc. Trong phòng ồn ào hết mức vì mọi người thi nhau nói – như thường thấy ở bọn mũi lõ. Thứ “giải khát nhỏ” của các phán quan và thầy cãi là một cái ly có dáng hoa uất kim hương loại hal-bal, đệ được cho biết vài vị đã uống nhiều ly rồi mà chưa gục. Đệ khẽ hỏi ông Me-lon ở đây có Mo-te Shang-dong không. Ông bảo không. Đệ đành uống trà.

Tuy đệ được giới thiệu tên của vài thầy cãi và phán quan nhưng tất nhiên đệ không thể nhớ nổi. Một người có cái đầu tròn xoe, tóc cụt ngủn như lông nhím, rất được ưa thích vì kho tàng vô tận những mẩu giai thoại tinh quái trong trí nhớ của ông. Ông kể đệ nghe vài chuyện, đệ chẳng hiểu gì nhưng bảo sẽ mãi ghi nhớ trong ký ức. Ông tỏ ra rất quan tâm đến món ăn Trung Quốc và bảo ông rất thích tự nấu, dĩ nhiên theo kiểu của chúng ta, thật đấy. Một người không phải hỏa đầu quân nhưng lại thích bếp núc. Đệ phải làm ông thất vọng vì không cho ông được thông tin hay cách nấu nào. Đệ chỉ biết món mình ăn có ngon không, chứ không biết cách nấu.

Một ông khá đẫy đà, là phán quan đồng thời làm thêm nghề bán cá và văn phòng phẩm; một thầy cãi rất cao có bộ râu dê kiêm bán sách. Đệ không dám hỏi kỹ hơn. Tất cả khiến đệ hoang mang. Một thầy cãi khác vừa to vừa béo, đội mũ trụ như chiến binh thời Hán... đệ hoảng hồn định bỏ chạy, nhưng rồi vỡ lẽ ông này hoàn toàn vô hại và không có ý định gây hấn.

Đệ tình cờ ngồi cạnh một thầy cãi khác – đệ nhớ tên là Vi-li-ve-va – chỉ cao bằng đệ khiến đệ vô cùng thoải mái. Được một lúc, ông hỏi đệ điều gì đấy nhưng đệ không hiểu tiếng nói của ông. Ông thầy cãi râu dê kiêm nghề bán sách cười to khi thấy đệ không hiểu và bảo điều này dễ hiểu thôi, vì bản quán của ông Vi-li-ve-va hơi xích về phía Tây, người dân ở đây rất tằn tiện[4] và lưỡi mọc ngược. Ông Vi-li-veva thản nhiên nhìn ông râu dê và nói – cố để mọi người hiểu: “Một lời nữa là tôi sẽ đổ cái ly này lên đầu anh đấy”. Đệ lại định bỏ chạy thì ông Vi-li-ve-va quay qua đệ, lặp lại rõ ràng hơn câu hỏi hồi nãy, rằng tòa án ở Trung Quốc có vui nhộn thế này không? “Không”, đệ đáp và khom một phần ba người, “nhưng khi trở về, tại hạ sẽ không quên kể lại về phong tục tập quán vui nhộn ở thành phố Min-chen và tại hạ chắc chắn người ta sẽ bắt chước ngay.” Ông liền nâng ly, bật ra một tiếng kêu nghe như là “Plo-sh-cht”[5] – cái này đệ biết rồi, có nghĩa ông uống chúc sức khỏe đệ.

Đệ khom lưng lần nữa, nhấp trà và rằng: “Plo-sh-cht, tại hạ cũng xin được phép uống trà này trong niềm hy vọng rằng ông Vi-li-ve-va đáng ca ngợi cũng như tổ tiên đáng kính của ông không ngừng được vinh quang và tôn kính”.

Đệ rất mừng khi đến lúc cùng mọi người rời căn phòng. Phần thứ hai buổi xử án tương đối ít ồn ào hơn. Không có nhiều thầy cãi nên cũng bớt lớn tiếng.

Những tập giấy dày cộm được đưa đến và đem đi. Chốc chốc phán quan lại lật lật một tập giấy như thế. Thỉnh thoảng một thầy cãi lại đệ trình lên phán quan một tờ giấy – nhưng không khom người. Đệ hỏi ông Shi-shmi có phải đó là sự cam chịu mà thầy cãi dâng lên phán quan không. Không, ông đáp, trong tờ giấy ấy thầy cãi trình bày quan điểm của mình về vấn đề. Đôi lúc phán quan cũng ném một tờ giấy xuống cho các thầy cãi, họ nhận nó mà chẳng hề tỏ vẻ cung kính.

Phiên xử kết thúc như thế đấy. Khi các thầy cãi đã rời khỏi phòng, phán quan cũng cho bà phụ tá ghi chép mặt mày cau có và bà phụ tá kia lui. Rồi, như đã nói, đệ mời ông và ông Shi-shmi dùng bữa.

Đệ hỏi ông nhiều chuyện. Chẳng hạn ông có phải đọc hết những gì các thầy cãi trình lên không. Không, vì nếu phải đọc hết thì chỉ sau bốn ngày ông sẽ hóa điên, ông đáp.

Ông tìm ra công lý như thế nào? đệ hỏi. Sau một lúc trầm ngâm ông bảo thời buổi này không thể tìm ra công lý được nữa. Có một ngạn ngữ về luật, bất thành văn, song dẫu sao vẫn là quan trọng nhất, nội dung như sau: đừng chờ đợi công lý khi anh đến một phiên tòa, mà hãy mừng khi anh có được một bản án. Thật khó lòng phục vụ công bằng trong một thế giới gặp phải tình trạng vô trật tự thế này, ông Me-lon thở dài nói.

Theo đệ thấy thì phán quan Me-lon là người sâu sắc và đệ hy vọng sẽ gặp lại ông để hỏi những chuyện khác nữa. Bọn đệ chia tay và buổi viếng thăm lạ lùng của đệ kết thúc, buổi viếng thăm đã cho đệ thấy sâu sắc rằng trật tự Nhà nước này thiếu oai nghiêm.

Đệ chào huynh từ tương lai xa tít tắp nhưng vẫn là người bạn gần gũi của huynh.

Cao Đài

❀ ❀ ❀

[1] Trong thư thứ mười hai Cao Đài kể rằng chức Hội trưởng Thi nhân hội hoàng gia “Nhị thập cửu đài tiển nham bích” được bầu, song ở đây lại do “Thiên tử chỉ định” – nghĩa là bầu theo sự chỉ đạo.

[2] Müller (muy –lơ).

[3] Từ “đĩa hát” nhất định xa lạ với một người thời Tống, nên Cao Đài đã dịch thành “đĩa ăn có nhạc” (Musikteller – Teller: đĩa để ăn, để đựng!).

[4] Đây là vùng Würtemberg (bang Baden- Würtemberg, giáp Pháp và Thụy Sĩ) mà người dân nổi tiếng cần kiệm ở một nước Đức tằn tiện.

[5] Prost: có nghĩa “nâng ly” hoặc “dzô”!

Người dịch: Lê Chu Cầu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.