Thư gửi về Trung Quốc xa xưa

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thư thứ mười lăm

❊ ❊ ❊

(Thứ Ba, 17 tháng Chín)

Di Ngô vô cùng quý mến,

Đệ nhận được gần sát nhau hai bức thư của huynh – thật không ngờ, mà thư dài nữa chứ. Cám ơn huynh, đệ rất vui được thấy dấu chân đáng yêu của Tiểu Siêu lanh lợi. Đệ không tán thành cho con ngựa giống “Bạch mộng gia nguyệt”[1] yêu quý của đệ phủ một con ngựa cái của phó tể tướng. Phó tể tướng là một lão ngu xuẩn thiển cận, lại còn theo đạo Phật nữa. Lão không có chút hiểu biết gì về ngựa và đệ không muốn hạt giống quý báu của con tuấn mã “Bạch mộng” phí hoài trong cái tàu ngựa luộm thuộm của lão. Huynh cố giúp ngăn cản chuyện này nhé. Nếu thấy lão có vẻ bị xúc phạm, huynh hãy thay mặt đệ đề nghị con trai lão – nếu đệ nhớ không nhầm thì hắn tên là Tuân Phổ và không đến nỗi quá ngu như lão bố – lấy một trong mấy đứa con gái của đệ. Ba hoặc bốn đứa đến tuổi cập kê rồi. Khi trở về, đệ sẽ giải quyết mọi chuyện. Huynh nói giúp với lão như thế.

Đệ rất vui thấy huynh quan tâm, thậm chí tò mò theo dõi cuộc phiêu lưu của đệ đến thế và đệ sẽ không mệt mỏi tiếp tục kể thật chi li mọi chuyện.

Tối hôm qua quả là một giờ khải thị mới đối với đệ. Những giờ phút ấy – nói chính xác: hai giờ rưỡi tất cả – cho đệ thấy nơi thế giới xa xôi này không chỉ có tiếng ồn ào mà còn có âm nhạc nữa. Loại âm nhạc này mới đầu vô cùng xa lạ với đệ, đâu thể mong chờ khác được, nhưng rồi đệ đã nhanh chóng nhập vào được cốt lõi của nó.

Ông Shi-shmi, không phải nhạc sĩ nhà nghề nhưng yêu thích âm nhạc, đã chuẩn bị tinh thần cho đệ trước buổi tối này. Vào những ngày định sẵn ba người bạn sẽ tới nhà ông, họ gặp nhau luân phiên tại nhà mỗi người để chơi nhạc. Lý do khiến mãi đến nay đệ mới biết thứ âm nhạc mà đệ đang kể là vì bốn người này có thói quen tạm ngừng vào mùa hè để đi nghỉ mát. Cả ông Shi-shmi cũng thường nghỉ hè ở đâu đó khác, thường ở biển phía bên kia ba rặng núi lớn, ông bảo thế, năm nay vì đệ nên ông mới không đi. Đệ xấu hổ khi nghe ông nói thế. Ông liền cắt ngang lời phản đối của đệ, bảo rằng việc giao tiếp với đệ đem lại cho ông nhiều kiến thức và lợi lộc hơn chuyện đi nghỉ và những buổi đàm đạo với đệ đã bù đắp gấp trăm lần cho chuyến đi ông bỏ lỡ năm nay. Tuy vậy đệ vẫn khom lưng (một lần gập người và thêm hai phần ba nữa) cám ơn ông hết lời. Bây giờ, vào tháng Chín, ông và ba người bạn lại gặp gỡ đều đặn để chơi nhạc. Tất nhiên đệ nhận lời mời của ông.

Ở đây âm nhạc rất được coi trọng, ít nhất từ phía ông Shi-shmi và các bạn của ông. Chỉ chơi nhạc thôi, chứ không nhảy múa hay ca hát (song ông Shi-shmi bảo cũng có loại nhạc để hát). Ông Shi-shmi nói tứ tấu được giới sành điệu coi là đỉnh cao của âm nhạc. Nó không nhằm phục vụ mục đích gì và nếu có thì cũng chỉ cho chính nó thôi.

Mỗi người trong bộ tứ chỉ chơi một nhạc cụ (với ba người kia đệ được giới thiệu là khách từ Trung Quốc xa xôi; họ không hỏi thêm và cũng không nói gì nhiều), hai người (có ông Shi-shmi) chơi một nhạc cụ bằng gỗ, giống nhị hồ của ta, chỉ khác là bẹt hơn, đáy kín và cần ngắn hơn. Đệ yêu cầu và được giải thích: nhạc cụ này tên là kei-geh[2] hoặc vi-lo-ling, nghe cao và trong hơn loại nhạc cụ của một ông khá mập, rậm râu (tên ông là Te-cho). Nhạc cụ này trông giống kei-geh, chỉ lớn hơn chút xíu, gọi là va-tsche[3] hay vi-lo-la. Thêm vào đó là một loại kei-geh lớn, âm trầm hơn gọi là cheng-lo[4], do con trai ông Te-cho, một chàng trai chưa có râu chơi. Người chơi kei-geh và va-tsche kẹp nhạc cụ giữa cằm và vai trái, còn cheng-lo giữa hai đầu gối, rồi dùng một cây vĩ để kéo như với đàn nhị của ta, nhưng không phải từ dưới mà từ trên. Tay phải họ cầm cây vĩ, tay trái bấm dây thành dài ngắn để chỉnh âm cao thấp – như với đàn nhị vậy.

Ông Shi-shmi cũng cho đệ xem một loại “chữ” riêng cho âm nhạc gồm một loạt những dấu chấm rối rắm mà dĩ nhiên đệ không giải mã được. Ông Shi-shmi bảo tuy thế nó đầy ý nghĩa và nếu đệ muốn thì chắc chắn sẽ học được. Đệ bảo tạm thời đệ giới hạn trong việc nghe thôi.

Rồi họ ngồi thành vòng tròn, mắt hướng vào nhau (đệ ngồi xa xa trong một ghế bành ở góc phòng, cố tránh làm phiền họ), trước mặt họ là những cái giá nhỏ bằng sắt, trên để những tờ giấy ghi “chữ” nhạc, rồi họ thản nhiên chỉnh nhạc cụ, chúng ré lên nghe thật kinh hãi. Mới đầu đệ tưởng đó là âm nhạc, nhưng ông Shi-shmi cười giải thích – hẳn ông thấy mặt đệ nhăn nhó – ý nghĩa thật sự của hành động vừa rồi.

Âm nhạc này gợi nhớ đến loại âm nhạc của chúng ta do Tô Đông Pha mang từ các nước Tây vực về: gồm bảy âm chính và năm âm phụ, sự hòa điệu và thanh tao của những âm này nghe thật trang trọng. Đệ thích nhất một tác phẩm gồm nhiều khúc, lúc khoan lúc nhặt của thầy Ve-to-feng[5] mà ông Shi-shmi bảo sống trước đây khoảng hai trăm năm. Thầy Ve-to-feng để lại nhiều tác phẩm khác nhau; riêng cho “tứ tấu tuyệt vời” (đại loại đệ dịch sang tiếng ta như thế) thầy Ve-to-feng đã viết mười bảy nhạc phẩm. Chúng được đánh số thứ tự; bài chơi tối hôm qua mang số “132”. Nó dựa trên cung “la” – như ông Shi-shmi cho đệ biết – tương tự cung “vũ”[6] của chúng ta.

Đương nhiên không thể có chuyện đệ hiểu được thứ âm nhạc lạ lẫm về mọi phương diện này ngay từ âm đầu tiên, thành ra đệ ngồi trên chiếc ghế bành trong một góc phòng. Lúc ấy trời tối, mọi ngọn đèn tập trung hết quanh chỗ họ, còn đệ ngồi trong bóng tối nhưng thấy thật hợp ý mình. Phải thú thật: đệ đã thấy trong cái thế giới lạnh lẽo và ồn ào này quá ít điều hay đẹp mà quá nhiều điều ngu xuẩn, vớ vẩn và vô nghĩa, khiến khi thành tâm lắng nghe lòng mình, đệ cũng có khuynh hướng thấy âm nhạc của thế giới này là đáng ghét. Âm nhạc của thầy Ve-to-feng đừng chờ mong tìm thấy nơi đệ mảnh đất màu mỡ để đơm hoa kết quả.

Người chơi đàn vi-lo-ling (sau đó ông Shi-shmi cho đệ biết rằng ông ta chơi nhạc cụ này xuất sắc và sống bằng âm nhạc) được coi như là trưởng nhóm, tức là người chơi “chiếc vi-lo-ling số một” nói theo cách của họ. Ông ta – có cái tên quá dài và chẳng có gì đặc biệt để đệ có thể nhớ được – gật đầu ra hiệu bắt đầu khi mọi người đã trang trọng kẹp đàn dưới cằm hoặc giữa hai đầu gối và đặt cây vĩ xong xuôi, đệ phải công nhận họ rất trang trọng. Chiếc cheng-lo bắt đầu với những âm trầm từ tốn, những nhạc cụ kia lần lượt nhập vào, đưa khúc nhạc lên cao. Đó là một nhạc điệu giản đơn và rất khẽ khàng. Tiếp theo là khúc chơi nhanh, có lúc mạnh mẽ, song luôn được xen kẽ với những đoạn từ tốn, kiềm chế.

Tuy ngay những âm êm dịu đầu tiên đã làm biến mất thành kiến của đệ đối với âm nhạc của bọn mũi lõ, hay nói hoàn toàn thành thật: tuy những âm êm dịu đầu tiên của thầy Ve-to-feng vĩ đại đã khiến đệ không thể tiếp tục giữ thành kiến của mình, song mới đầu đệ thấy âm nhạc này dường như không toàn bích, như thiếu sót, tùy tiện, không chính xác và dĩ nhiên rối rắm. Nhưng ngay trong khúc đầu – quá ngắn theo quan niệm của chúng ta – đệ đã bị sức quyến rũ của âm lướt này âm lướt nọ lôi cuốn, ngay sau đó đệ nhận ra sự lặp lại của một giai điệu và khi khúc nhạc kết thúc với một âm lướt mới đầu nhẹ nhàng thì thầm, rồi như ngọn gió xuân bằng thủy tinh lấp lánh, đệ đã bị âm nhạc của thầy Ve-to-feng vĩ đại, và có lẽ của bọn mũi lõ nói chung, chinh phục.

Tiếp theo là một khúc nhạc rất nhanh, xen giữa nhiều lần với một giai điệu rất ngọt ngào và cao vút, diễn tả không gì khác hơn tiếng hót của một con chim phù thủy trong một cánh rừng pha lê. Khúc nhạc thứ hai chấm dứt với tiếng hót đầy mê hoặc. Rồi tới một khúc nhạc dài hơn một chút (sau đó ông Shi-shmi bảo rằng không ai chờ đợi đệ hiểu được ngay). Khúc nhạc này có tên “Lời cảm tạ thiêng liêng của một người khỏi bệnh dâng lên thần thánh”, có lẽ là tác phẩm quý báu nhất mà một bậc thầy âm nhạc của bọn mũi lõ từng sáng tác. Nó tương tự một chương mã hóa nào đấy của một quyển Kinh Thánh mà để hiểu nó người ta phải dành cả đời thành kính chiêm nghiệm. Chính ông Shi-shmi đã cùng các bạn tấu khúc này vài chục bận cũng như đã nhiều lần nghe người khác chơi và ông tin rằng nhờ thế đã thấu được đôi chút cốt lõi ý nghĩa của thứ âm nhạc khó hiểu này, chứ không dám khẳng định đã hiểu hết. Thành ra mới nghe lần đầu tiên trong đời khúc nhạc đặc biệt này mà đệ đã cảm nhận đôi chút về bí mật của “tứ tấu tuyệt vời” là cả một vinh dự.

Khúc nhạc này giống một cuộc leo núi trong sương mù, vất vả leo, lên tới đỉnh khi sương tan, một tiếng chim hót êm dịu, cao quý – không trần tục hóa bởi ca từ – cho ta cảm nhận bầu trời trong sáng và êm ái gần kề, và khúc nhạc kết thúc trong phút suy niệm xuất thần, như một chiếc lá nhẹ chao.

Tiếp theo lại tới một khúc nhạc mạnh mẽ dưới trần thế. Ông Shi-shmi dùng một sơ đồ tự vẽ để giải thích cho đệ (vì đệ chưa hiểu chữ-nhạc của họ!) rằng đúng ra đây là hai khúc nhạc đan vào nhau, khiến đệ cảm thấy như nó diễn tả một đời người chệnh choạng qua mọi bước thăng trầm của số mệnh và sự chuyển dịch của bốn mùa. Khúc nhạc này – và cùng với nó là cả bản nhạc – kết thúc bằng những âm thanh mạnh và to, như tiếng cánh cửa sập lại khi người chiến sĩ từ trong nhà xông ra, đi chiến đấu.

Đệ như bị chết điếng. Đó là một sự mặc khải mà đệ chưa từng được biết đến trong đời và lại càng không chờ đợi nơi thế giới này. Đệ rút vào phòng mình; sau khi ba người bạn của ông Shi-shmi ra về rồi đệ mới ra lại. Chắc chắn ông Shi-shmi đã nhận thấy sự xúc động của đệ và tỏ ra rất vui. Bọn đệ trò chuyện khá lâu về âm nhạc và đệ đã hỏi rất nhiều. Ông Shi-shmi kể rằng thầy Ve-to-feng vĩ đại – như nhiều người khác – đã sáng tác khúc nhạc này vào cuối đời, có thể xem đó là di chúc về nghệ thuật của ông cho hậu thế, khi ông phải chịu số phận hẩm hiu nhất đối với một nhạc sĩ: ông bị điếc. Phải, ông Shi-shmi nói, biết bao kẻ ngu xuẩn dốt đặc âm nhạc lại có được thính giác tuyệt vời, còn Ve-to-feng vĩ đại lại bị điếc. Cho nên ông không hề được nghe âm nhạc của chính ông cho tứ tấu và mọi tác phẩm khác ông sáng tác những năm cuối đời. Nhưng ông nghe bằng “tai bên trong”, như cách ông Shi-shmi diễn đạt, có lẽ vì thế nhạc của ông mới mang nét tách rời bềnh bồng khỏi gánh nặng trần thế. Do đó khúc tứ tấu tuyệt diệu này không chỉ là âm nhạc, mà thật sự là cái hồn bay lượn tự do của âm nhạc trong sự tinh khiết hoàn toàn của nó. Đệ đồng ý với nhận xét này.

Ông Shi-shmi bảo còn có những bậc thầy vĩ đại khác, hoàn toàn có thể đứng ngang hàng với thầy Ve-to-feng. Tuy đây là quan niệm và ý kiến riêng của ông thôi, nhưng nó cũng trùng hợp với ý kiến của nhiều người bạn âm nhạc khác. Chẳng hạn khoảng một trăm năm trước Ve-to-feng có một bậc thầy đáng kính tên Yo-yang’ Se-va-tang’ Wa’ch[7] (tên dài ngoằng), âm nhạc của ông rất được coi trọng. Lúc già, thầy Yo-yang’ này bị mù (bình thường các nhạc sĩ không mù[8]) và vào cuối đời đã đọc cho người con rể chép một thứ âm nhạc mà có lẽ đến nay là cốt lõi nội tại không dò nổi của mọi âm nhạc, và người ta không thật rõ nên chơi nó với những nhạc cụ nào. Đúng ra thứ nhạc này đã gồm những giai điệu của không gian thoát tục và là một loại toán học ngân vang trong tâm hồn. Rồi cùng thời với thầy Ve-to-feng, sớm hơn một chút, có một bậc thầy vĩ đại tên là Mo-tsa[9]. Ông chết rất trẻ song vẫn để lại rất nhiều tác phẩm; chúng thường bị hiểu lầm vì trong đó là một thế giới ma quỷ ẩn sau lớp mặt nạ quyến rũ. Sau đó có một bậc thầy, cũng chết trẻ, tự coi là học trò của thầy Ve-to-feng, tên là Fa-shu-ve[10]. Thầy Fa-shu-ve này có một nhạc phẩm cho ngũ tấu tên là “Cá hương” mà ông Shi-shmi đặc biệt thích. Rồi có một bậc thầy vĩ đại khác mà người ta có thể nói rằng ông này bằng cách nào đấy đã hoàn thiện những gì Ve-to-feng bắt đầu. Ông này có bộ râu dài (ông Shi-shmi cho đệ xem hình), vẻ mặt khó đăm đăm, âm nhạc của ông là nhạc thời sau này. Ông Shi-shmi và các bạn trong tứ tấu định lần tới sẽ chơi một nhạc khúc của nhạc sĩ này. Loại nhạc này cay đắng, nghiệt ngã, như hồi tưởng về một thế giới tươi đẹp hơn. Tên ông là Yo-yan’ Wa-mas[11], ở một thành phố miền Bắc và theo ông Shi-shmi, là bậc thầy vĩ đại đáng kính cuối cùng.

“Thế nay không còn nhạc sĩ nữa ư?” đệ hỏi. “Còn chứ”, ông Shi-shmi đáp, “nhưng đây là vấn đề quan niệm”. Đối với một số tác phẩm của những bậc thầy mới, có tác phẩm ông thấy hay, có tác phẩm khác ông bày tỏ sự kính phục trước những nỗ lực của nhạc sĩ, nhưng sau thầy Yo-yan’ Wa-mas không ai đạt tới đỉnh cao thật sự nữa.

Buổi trò chuyện chấm dứt như thế. Đệ vào giường nằm và nghĩ tới thầy Ve-to-feng gặp phải định mệnh tàn nhẫn, đã từ đôi tai nội tại thuần khiết sáng tác khúc nhạc thiêng liêng cho tứ tấu tuyệt diệu. Đệ đã khóc.

Đệ yêu cầu ông Shi-shmi rằng lần tới đệ nhất định muốn được nghe. Ông hứa. Ông bảo ông rất vui. Thế giới này cũng có mặt hay của nó. Một hòn đảo của tâm hồn giữa những ồn ào và hôi hám.

Đệ thiếp đi trong hạnh phúc. Ngay giờ đây những thanh âm của thầy Ve-to-feng vẫn còn bềnh bồng quanh đệ, những thanh âm mà đệ sẽ không bao giờ quên.

Và đệ chào huynh, Di Ngô quý mến. Ước gì huynh cũng được nghe những âm thanh ấy.

Cao Đài

❀ ❀ ❀

[1] Giấc mơ trắng về vầng trăng khuyết dần tròn đầy.

[2] Geiger (gai-gờ): vĩ cầm (violin).

[3] Bratsche (brát-sơ): đại vĩ cầm hay viola.

[4] Cello.

[5] Beethoven (Bét-hô-phân), 1770 – 1827, nhạc sĩ Đức.

[6] Một trong “ngũ âm” của âm nhạc phương Đông: cung, thương, dốc (giốc), chủy, vũ.

[7] Johann Sebastian Bach (Yô-han Xê-bat-xtian Bắc), 1685 – 1750, nhạc sĩ Đức.

[8] Tác giả chú thích: ở Trung Quốc ngày xưa các nhạc sĩ đều mù.

[9] Mozart (Mô-xạc), 1756 – 1791, nhạc sĩ Áo.

[10] Franz Schubert (Phran Su-bợt), 1797 – 1827, nhạc sĩ Đức.

[11] Johannes Brahms (Yo-ha-net Bram), 1833 – 1897, nhạc sĩ Đức.

Người dịch: Lê Chu Cầu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.