Thư gửi về Trung Quốc xa xưa

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thư thứ hai mươi hai

❊ ❊ ❊

(Thứ Hai, 4 tháng Mười Một)

Huynh vô cùng quý mến,

Những bức thư của huynh đã khiến lòng đệ hân hoan trong cái thế giới mưa gió rả rích này. Từ khi được nàng Pao-leng đặt làm cho chiếc gọng mắt, bây giờ mắt đệ quả thật đã tốt hơn rồi và để đọc cho rõ đệ không cần phải duỗi tay giữ thư xa nữa. Huynh hỏi về mấy bài thơ à? Đệ chưa có dịp xem. Dẫu sao kết quả cuộc thi thơ không được công bố trước dịp Rằm đầu tiên của mùa đông mà. “Nhị thập cửu đài tiển nham bích” tôn kính nên nhẫn nại. Ngoài ra, có lẽ các bài thơ này đại khái giống của năm ngoái và những bài năm ngoái lại giống năm kia. Quá nhiều người làm thơ, ông Me-lon cũng nói thế. Đệ đã gặp ông hai lần và tuy nghề của ông là phán quan, song ông cũng rành văn học. Dĩ nhiên ông muốn nói: ở đây, ở thế giới này, ở Min-chen có quá nhiều người làm thơ. Dường như lúc nào và ở đâu cũng có quá nhiều người làm thơ, đó là một điểm bất di bất dịch trong lịch sử thế giới.

Duy-Lân tử mà huynh hỏi trong thư đã đi lâu rồi. Ông phải về nhà. Vì công việc. Nhưng muộn nhất tháng sau ông sẽ quay lại, lúc ấy bọn đệ muốn ăn mừng tái ngộ bằng chuyến đi xem các vũ nữ thoát y tại dạ điếm “Thiên Đường”. Sẽ có những nữ nghệ sĩ mới, luyện thuần thục những vũ điệu mới. Huynh muốn nói gì về chuyện những quả bóng nhỏ màu trắng? Đệ không hiểu ý huynh viết trong đoạn này.

Quả thật đây là một thế giới có phép thần thông, tuy thường hay mưa. Ở khách sạn “Bốn Mùa” tại Min-chen, đệ quay một cái te-lei-fong, tức thì ở Bắc Kinh xa xôi một chiếc máy tương tự trên bàn một đứa cháu chắt xa xôi nào đấy của chúng ta bật lên tiếng chuông reo. Duy-Lân tử cứ nhất định muốn đệ thử chuyện này. Đệ không ngại dùng te-lei-fong, mà sợ không hiểu thứ ngôn ngữ thông dụng hiện nay lũ con cháu xa xôi của chúng ta đang dùng, rồi vì thế mà đâm ra buồn tủi. May thay, đệ phải nói thế, đứa cháu xa xôi ở Bắc Kinh không có nhà, chuông reo hoài công. Duy-Lân tử rất thất vọng, nhưng đành chịu. Chuyện này xảy ra trước khi ông đi một ngày, buổi tối hôm ấy bọn đệ còn cạn hết một chai Mo-te Shang-dong ở nhà nàng Pao-leng. Chiếc áo đầm dợn sóng lung linh mờ ảo không thích hợp vào mùa lạnh. Nàng Pao-leng mặc một chiếc áo đầm màu đỏ hơi gấp nếp quanh tấm thân có một không hai của nàng khiến Duy-Lân tử mê mệt. Khi trò chuyện cà kê bọn đệ cũng nhắc tới chuyến phiêu lưu của đệ trong phòng làm toát mồ hôi dưới hầm. Duy-Lân tử rất ham toát mồ hôi – ông nói thế – và ngỏ lời ngay rằng nhất định muốn được một lần cùng nàng Pao-leng thăm căn phòng làm toát mồ hôi.

Đệ sẽ tìm cách ngăn cản chuyện này. Còn ngoài ra đệ rất vui khi ông lại tới thăm.

Hôm nay ngày Rằm. Đệ biết nhờ tính lại[1] thôi chứ không nhìn thấy trăng, bầu trời đầy những đám mây nặng nề. Mưa và lạnh. Đệ nghĩ tới trăng, dù không thực hiện việc cúng trăng – đệ phải thú nhận vậy. Bốn tuần trăng đã qua từ ngày đệ tới đây mà không cúng Rằm. Đệ biết làm sao hơn? Có biết bao khó khăn không vượt nổi. Làm thế nào đệ đứng ở cầu thang hướng Đông ở nhà ông Shi-shmi được, khi ngôi nhà chỉ có một cầu thang duy nhất mà lại quay về hướng Tây? Ông Shi-shmi tuy có thể thông cảm với chuyện đệ cử hành lễ nghi, thậm chí có thể phụ giúp đệ nếu đệ yêu cầu, nhưng đệ không thể nào chịu đựng nổi tiếng cười ngu xuẩn của những người khác. Ngoài ra: ai là tổ tiên đệ khi đệ sống ở một thế giới xa tít về thời gian như thế này? Chẳng lẽ đệ lại là tổ tiên của chính mình, vì đúng ra đệ chết đã nghìn năm rồi? Có thể chấp nhận được không chuyện đệ tự cúng mình? Dễ hiểu là người ta không thể tìm thấy trong “Luận Ngữ” hoặc “Gia Ngữ”, trong “Kinh Dịch” tôn quý và sách “Xuân Thu” của Lã Bất Vi câu trả lời cho chuyện ấy. Bậc hiền giả ở đồi hạnh im lặng trước câu hỏi này, ấy là chưa nói đến Lão tử cưỡi trâu đen mà đệ dẫu sao cũng không đánh giá cao lắm.

Khi bắt đầu chuyến du hành đệ định sẽ tuân giữ những nghi thức và tập tục của thế giới mình, bất kể xảy ra chuyện gì, nhưng đệ quên rằng những thứ này sẽ thay đổi thế nào trong một nghìn năm (và cách vạn dặm mà ngày đó đệ đâu ngờ). Cho nên chỉ sau vài ngày lưu trú trên đất nước của bọn mũi lõ, đệ đã tạm hoãn những nghi thức này. Đệ dựa vào Khổng phu tử tôn kính, thầy luôn bảo rằng đến xứ lạ ta phải sống theo tập quán ở đấy và thật ngớ ngẩn khi muốn áp đặt cho người lạ phong tục tập quán của mình. Sách

“Lễ Kí”, chương “Lễ vận” có viết: khi đến một nhà lạ, hãy dò hỏi về những điều cần tránh trong lời ăn tiếng nói ở đấy. Tuy bậc hiền giả cũng dạy rằng người quân tử cần tác dụng âm thầm qua sự làm gương... nhưng theo huynh, Di Ngô quý mến, thì một mình đệ có thể làm được gì trong cái thế giới vô trật tự này, ngay cả nếu đệ đức hạnh gấp mười lần? Ông Shi-shmi có một bản dịch quyển “Kinh Dịch”, đệ không rõ ông đã đọc chưa. Đệ đã tặng nàng Pao-leng, như huynh biết, một bản dịch quyển “Lễ Kí”. Nàng bảo sau này sẽ đọc... Đệ có thể làm gì hơn nữa nào? “Phong tục muốn rằng người khác tìm đến ta, chứ không phải ta tìm đến người khác; phong tục muốn rằng người khác đến với ta để cầu học, còn ta đến với người khác để dạy bảo”. “Lễ Kí” cũng viết thế.

Thành ra tuy đệ cố giữ gìn phẩm hạnh nhưng đệ sống ở đây như kẻ man di, không tuân thủ lễ nghi, không tuân theo những phong tục đáng kính. “Nếu có ai – trong bọn mũi lõ, đệ thêm – vui khi gần ta, thì đó là tốt. Nếu không ai vui khi gần ta, thì ít nhất ta hãy tự vui” (Sách Tống thư viết).

Nói với nàng Pao-leng về chuyện phong tục thì gần như vô nghĩa. Không phải nàng không đức hạnh – ở khía cạnh nào đấy – mà vì nàng chỉ cố sống sao cho toại nguyện, mà như thế tất nhiên, như đệ đã nói, sẽ dẫn tới điều bất lợi. Khi ta mất đi mối quan hệ với sự vật và thay vì nghiền ngẫm cùng tuân thủ trật tự vĩnh hằng giữa trời và đất, ta ép trật tự này phải tuân theo ý ta, chắc chắn ta sẽ không toại nguyện. Cũng chẳng sao – bù lại nàng là phụ nữ và rất đẹp. Duy-Lân tử hoàn toàn không thích hợp với những mạn đàm thế này. Tuy ông là một chuyên gia trên lĩnh vực trồng rừng và có nhiều ý tưởng sâu sắc liên quan đến Nhà nước này và trật tự của nó, nhưng ông không chấp nhận phong tục cổ truyền. Ông chỉ biết có một tập quán thôi, ông nói, đó là ông được sung sướng. Chỉ mình ông Shi-shmi (có thể cả phán quan Me-lon, nhưng đệ chưa biết đủ về ông) thích hợp với những vấn đề này. Mấy ngày trước đệ lại tới nhà ông Shi-shmi vì nhóm tứ tấu hòa nhạc ở đấy. Đệ nghe không chán. Họ chơi hai tác phẩm của thầy Mo-tsa thần thánh. Ông Shi-shmi hứa sắp tới sẽ đưa đệ tới một buổi trình diễn âm nhạc công cộng để biết một ban nhạc chơi thế nào. Ngoài ra ông lại nhắc đến chuyện mượn chiếc la bàn-thời gian của đệ – đệ cứ hy vọng ông đã quên. Ông muốn thực hiện chuyến du hành ngay sau khi mẹ ông rời khỏi đây. Mẹ ông không được biết gì hết về chuyện này, kẻo bà lại lo. Sau khi ba người bạn âm nhạc ra về, ông Shi-shmi và đệ còn ngồi lâu với nhau, đốt vài đồ cúng Da-ving-do và trò chuyện về tôn giáo.

Bọn đệ sở dĩ mạn đàm vấn đề này vì ngay từ đầu, đệ quan sát thấy một mặt bọn mũi lõ kỵ mó tay vào món ăn và kinh sợ chuyện này chuyện nọ, mặt khác chúng lại không ngớt sờ mó lẫn nhau. Việc chào hỏi (ngay cả giữa đàn ông với phụ nữ, thậm chí giữa người địa vị cao hơn với người địa vị thấp kém hơn) diễn ra như sau: người này nắm bàn tay người kia, bóp và lắc nguyên cả cánh tay. Họ thường vỗ lên vai nhau và kỳ quái nhất là người này dùng miệng làm ướt mặt người kia – điều này không phải hiếm khi xảy ra. Ở nước ta, đệ bảo, thậm chí vợ chồng cũng không lấy gì hết từ tay người kia. Đó là lịch sự. Khi muốn cho nhau món gì thì đặt nó vào giỏ, người được cho nhận chiếc giỏ. Nếu không có giỏ thì đặt lên chiếu. Chỉ sau khi đã ngoài bảy mươi tuổi, vợ chồng mới thôi giữ áo quần trong hòm riêng.

Vì phong tục khác nhau thôi, ông Shi-shmi nói. Thế mới có cuộc đàm đạo. Đệ không muốn kể chi tiết, chỉ tóm tắt những ý nghĩ mà đệ rút ra từ đó.

Bọn mũi lõ không phải chỉ khác phong tục mà hoàn toàn không có phong tục. Đệ không bảo chúng vô đạo đức theo nghĩa phóng túng (đây lại là vấn đề khác); đệ muốn nói theo nghĩa chúng không có một tập quán, nghi lễ và phong tục vững chắc nào. Chỉ trong những chuyện không quan trọng chúng mới còn chút tập tục sơ sài. Những tập tục này cụ thể thế nào đệ thật không rõ. Trong ít ngày đệ quan sát bà quả phụ Shi-shmi và hỏi bà, đệ mới biết. Chúng cho rằng sẽ gặp rủi ro nếu chui qua chiếc thang, để kéo mở, để mũ trên bàn hay giày dép trên giường. Ngày thứ mười ba trong tháng của bọn mũi lõ (độc lập với tuần trăng) là ngày xấu, ngày thứ Sáu của tuần lễ cũng xấu theo một nghĩa nào đấy. Nếu ngày thứ Sáu này trùng với ngày thứ mười ba của tháng thì nhiều bọn mũi lõ không ra khỏi nhà. Khi một người hắt hơi, những người kia nói “Chúc mừng!”, không ai giải thích được cho đệ tại sao; trên mộ tổ tiên chúng chỉ đặt hoa chứ không cúng kiếng thêm gì khác nữa. Mà chúng thường chỉ đặt hoa lên mộ cha mẹ thôi, vì chúng không biết mộ ông bà, còn cụ cố thì chúng không nhớ tên luôn.

Có lẽ đó chính là những phong tục cốt yếu làm chỗ dựa cho trật tự của xã hội này. Còn vài điều đệ chưa quan sát. Rõ ràng một thứ trật tự sâu rộng, tình yêu con cái, lòng kính nể, khoa học, các thượng thư liêm khiết và sự thịnh vượng sẽ không thể duy trì được nếu không xảy ra chuyện gì khác hơn là kiêng để kéo mở. Vả lại, không phải ai cũng kiêng: ở nhà nàng Pao-leng có lần đệ thấy nàng để kéo mở. Đệ đã nghiêm túc nhắc nhở nàng điều ấy. Nàng cười: dạ, dạ – mẹ nàng cũng đã dạy nàng thế rồi. Dường như chỉ những người lớn tuổi còn giữ những tập tục vốn đã ít ỏi này, còn ở giới trẻ chúng có nguy cơ bị suy đồi.

Việc các xe ô-tô ngừng ở giao lộ khi đèn giao thông bật đỏ và chỉ chạy tiếp khi đèn đổi sang màu xanh không phải là tập tục, mà là một luật lệ đặt ra tùy tiện, phán quan Me-lon đã giải thích cho đệ điều này. Những luật lệ tùy tiện này nhiều vô kể và càng tăng quá mức thì phong tục và tập quán càng suy đồi. Thành ra phong tục và luật lệ tách biệt nhau, nghĩa là luật lệ tách rời hoàn toàn khỏi mọi quan niệm đạo đức. Vì đối với bọn mũi lõ việc phạm luật không phải trái đạo đức, nên Nhà nước phải dùng đến biện pháp trừng phạt.

Giáo dục không hiệu quả nữa. Quan niệm đạo đức tuy vẫn còn, nhưng chỉ mang tính tôn giáo và không ràng buộc cho đời sống công cộng. Đạo đức và tôn giáo đại khái chỉ còn giá trị về mặt thơ văn. Người ta có thể thích và tuân giữ, nếu muốn, nhưng chúng không điều hòa cuộc sống nữa. Đệ dễ dàng nhận thấy rằng một Nhà nước như thế sẽ trở thành vô trật tự và ở đấy yếu tố lý trí chỉ còn giá trị trang trí.

Nhân đây nói thêm là tôn giáo mới thật lạ lùng. Nó đậm nét mê tín và giống đạo Phật thế nào ấy. Bọn mũi lõ tin rằng đã có lần (chúng xác định rõ: đại khái vào thời gian nhà Đông Hán thay thế nhà Tây Hán) một ông Chúa đã xuống thế gian. Ông Chúa này sống trên trái đất ba mươi ba năm, đã giảng đạo và để lại một số quy tắc đạo đức, rồi bị con người hành quyết. Một quan niệm kỳ quặc. Rồi ông Chúa này sống lại, bay lên trời, phân thân thành ba ông Chúa. Ông ta đưa bà mẹ cùng lên trời, nhưng để lại trên trái đất người đại diện giữ vai trò một đạo sĩ tối cao. Có lẽ đệ thuật lại không chính xác môn thần thoại này vì một mặt đệ không hiểu rõ lắm, mặt khác nó có nhiều biến thể phần nào kình chống nhau hoặc từng kình chống nhau một cách gay gắt.

Đệ đã hỏi về giáo lý của ông Chúa này. Nó vô cùng đáng quý trọng. Nó không dạy gì khác lời Khổng phu tử trong thiên XV sách “Luận Ngữ”: “Tử Cống hỏi: ‘Có một chữ nào suốt đời làm theo được không?’ Khổng Tử đáp: ‘Có lẽ là chữ “thứ” chăng? Cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác”[2].

Từ thời điểm bây giờ ở đây mà tính thì triều đại Hán đã cách gần hai nghìn năm. Nghĩa là từ khi ông Chúa này tuyên giảng giáo lý của mình đến nay đã gần hai nghìn năm. Dường như quan niệm về đạo đức của bọn mũi lõ từ đó đến nay không hề thay đổi, vì giáo lý về lòng nhân đức của chúng không kêu gọi lương tri và nhân tính, mà chỉ bám vào công và tội – cũng là mấu chốt của giáo lý này.

Đệ thấy tôn giáo này với đạo Phật có sự tương đồng. Cũng như các Phật tử, bọn mũi lõ khiếp hãi khi nghĩ rằng một ngày nào đó chúng mất đi linh hồn cỏn con của chúng. Chúng tự cho mình là quan trọng, đến nỗi coi việc linh hồn không tiếp tục sống sau khi chúng chết là một thảm họa. Điều lạ lùng là chúng không thấy sợ về chuyện linh hồn chúng không sống trước khi chúng sinh ra. Chúng bảo linh hồn chúng là “vĩnh cửu”. Nhưng vĩnh cửu có nghĩa là không có khởi đầu và kết thúc. Làm sao vĩnh cửu được khi nó có khởi đầu? (Ông Shi-shmi bảo ý tưởng này không lạ trong triết học của bọn mũi lõ. Đại khái cùng thời với thầy Ve-to-feng có một bậc trí giả tên Sho Peng-kao[3] đã đưa ra quan niệm này, nhưng không được tiếp nhận mấy). Dựa trên nỗi sợ hãi ấu trĩ này, theo đệ thấy không khác sợ ma quỷ là mấy, tôn giáo của bọn mũi lõ đã dựng nên hệ thống của nó về công và tội. Vì người ta cần tuân giữ điều răn về lòng nhân đức không phải để trở thành người hoàn hảo, không phải để biết rõ chính mình, không phải để giữ xã hội của con người được cân bằng, mà để tích lũy “kho báu nơi thế giới bên kia”. Nghĩa là về cơ bản tôn giáo này kêu gọi lòng tham. Nó dạy rằng ai trên thế giới này tuân giữ giáo lý, khi chết linh hồn sẽ bay lên thiên đường, nơi sẵn có một cuộc sống đời đời vô ưu chờ đợi bên cạnh Chúa. Nghĩa là linh hồn phải giữ gìn được ký ức về cuộc sống trần thế, bằng không nó sẽ không được tưởng thưởng. Ngược lại: ai không tuân giữ điều răn về lòng nhân đức, khi chết sẽ xuống địa ngục kinh khủng, ngày đêm bị thiêu đốt.

Một ông Chúa lòng lành luôn canh cánh về lòng nhân đức lại có thể vô nhân đến thế ư? Nhất là một ông Chúa có thể nào quyết định chuyện họa hoặc phúc đời đời của con cái ông, nghĩa là của con người, dựa trên những tiền đề pháp lý như thế được không? Vì tôn giáo của bọn mũi lõ khẳng định con người là con cái của ông Chúa đó mà. Tuy cũng có nói nhiều đến lòng khoan dung đấy, nhưng lòng khoan dung này của ông Chúa không thật là khoan dung, vì nó chỉ được ban phát cho những kẻ thật sự xứng đáng – dưới cái nhìn của tôn giáo này. Lòng khoan dung ấy chẳng qua cũng chỉ là ân thưởng kín đáo thôi. Bọn mũi lõ có quan niệm hám lợi đối với ông Chúa của chúng. Điều này, đệ nghĩ, là một hậu quả tai hại của sự nhân cách hóa mê tín ông Chúa của chúng một cách quá đáng. Thậm chí chúng còn vẽ hình ông, một lão trượng đáng kính râu dài lốm đốm bạc. Nét mặt ông là nét mặt của bọn mũi lõ. Nếu đúng thế thì bọn chúng ta, vẻ mặt khác hẳn, sẽ bất lợi ngay từ đầu. Thế mà đó là ông Chúa đầy khoan dung ư? Chỉ gọi là khoan dung thật sự khi kẻ không xứng đáng cũng được ban thưởng. Ông Chúa của bọn mũi lõ, nếu khoan dung thật sự, phải chiếu cố kẻ nguyền rủa ông chứ.

Nhưng đệ cho rằng tất cả những điều này không phải lời dạy thật sự của ông Chúa đã giáng thế. Một ông Chúa thì xa xôi và vĩ đại, khiến không thể mặc khải những khái niệm của con người, chưa kể còn tự khép mình vào cái khung của những quy định pháp lý mà người ta trưng ra và diễn giải bằng trí óc của con người. Đệ đã tìm hiểu, ông Chúa này có thể chỉ là một hiền giả đáng kính có những nhận thức sâu sắc khôn lường về thánh thần – về ông Giê-su, chúng gọi ông như thế, không có lấy một dòng chữ từ chính tay ông ta. Tất cả những gì ông truyền lại đều do các môn đồ của đệ tử ông ghi chép lại. Chúng được ghi trong bốn quyển sách Thánh[4], song cũng chỉ là những bản sao chép sau này thôi. (Thành thật mà nói, cũng giống như với Đức Khổng phu tử của chúng ta). Ông Shi-shmi tặng đệ mấy quyển sách Thánh ấy. Không dày gì lắm và đệ đã đọc với mối thiện cảm sâu sắc chỉ trong một đêm. Không chỗ nào gọi ông Giê-su đáng kính này, người mà đệ không ngần ngại tỏ lòng kính trọng hết mức, là Chúa. Ông tự nhận mình là con người và khẳng định mọi người là con cái của Chúa. Đệ cho rằng có lẽ giáo lý của ông đã bị biến cải nhiều. Ông Giê-su đáng kính này dạy về lòng nhân từ vì nó cần thiết, song các đệ tử của ông không hiểu ông nên đã thêm vào đó quan niệm lợi lộc nhỏ mọn về phần thưởng và trừng phạt.

Nhưng quan niệm ấy, ông Shi-shmi nói, cũng không mới lạ gì. Trong hai nghìn năm qua giáo lý này đã trải qua nhiều biến cải và vô số diễn giải; chúng không chỉ đưa tới những tranh luận về học thuật mà còn tranh chấp và chiến tranh nữa. Ông Shi-shmi kể đệ nghe một vài diễn giải. Một diễn giải của một trí giả tên Gê-go ở Na-tsia (sống vào thời Đông Tấn) đã khiến đệ sững sờ; theo ông này thì đại khái không thể hiểu nổi Chúa, nên không thể nghĩ bàn. Hoàn toàn không được phép nghĩ bàn về Chúa, mọi nghĩ bàn về Chúa đều là báng bổ.

Tất nhiên lời dạy của ngài Gê-go vĩ đại xứ Na-tsia cũng không toàn thắng trong thế giới này, nơi mà mọi cái mới trước hết luôn luôn được coi là hơn cái cũ, trong nghĩa tiến bộ và thường xuyên rời khỏi mình. Thiên IX quyển “Luận Ngữ” bất tử viết thế nào nhỉ? “Khổng Tử nói về Nhan Uyên: “Tiếc thay! Ta chỉ thấy anh ấy tiến mà chưa hề thấy ngừng”[5].

Khi đệ nghe ông Shi-shmi kể, khi đệ đọc và trò chuyện với bè bạn về những điều này, đệ lờ mờ cảm thấy một mối quan hệ lạ thường giữa thế giới ở đây với quê hương mình. Huynh cũng lờ mờ cảm thấy chứ? Ở Trung Quốc chúng ta có một giáo phái sống tách biệt của những người tin vào một ông Chúa nơi phương Tây xa xôi. Đó chính là những người theo giáo lý của ông Giê-su nọ. Họ bị xua đuổi vì lý do tôn giáo, sống phân tán khắp nơi, rồi cuối cùng định cư ở đất nước ta, xa cách hẳn đồng đạo. Họ xưng là người theo Cảnh giáo. Khi trở về, đệ sẽ tìm cách liên hệ với họ. Xưa nay đệ vốn không quan tâm đến họ[6].

Đó là tóm tắt của đệ về tôn giáo của bọn mũi lõ. Đệ không muốn tranh cãi. Không ai biết được chân lý là gì. Có tốt hơn chăng nếu qua suy xét mà cố đạt tới việc tìm hiểu bản chất của trời xanh? (điều này dễ đưa đến suy đoán). Phải chăng phương pháp sai lạc cũng có tác dụng nâng cao kiến thức? Hay chúng ta chỉ nên hài lòng được là người tốt? Đệ không rõ. Đệ mượn câu nói ngắn gọn của vị thầy nơi đồi hạnh: “Đừng bận tâm với chuyện tiên đoán, nó là thế”.

Cuối bức thư dài này, có lẽ là quan trọng nhất cho đến nay, đệ xin chào huynh.

Người bạn Cao Đài xa xôi của huynh

❀ ❀ ❀

[1] Cao Đài tính nhầm; ngày 28 tháng Mười đã Rằm rồi (chú thích của tác giả).

[2] Nguyễn Hiến Lê, “Luận Ngữ”, NXB Văn học, 1995.

[3] Arthur Schopenhauer (Sốp-pân-hao-ơ),1788 – 1860, triết gia Đức.

[4] Bốn quyển Phúc âm trong Tân ước.

[5] Nguyễn Hiến Lê, sđd.

[6] Cao Đài không nhầm. Quả thật vào thế kỷ 4 và 5, tín đồ Cảnh giáo (Nestorianer) đã qua ngã Ba Tư và Ấn Độ đến Trung Quốc, nơi họ có thể sống theo tín ngưỡng của mình (chú thích của tác giả).

Người dịch: Lê Chu Cầu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.