(Thứ Hai, 14 tháng Mười)
Di Ngô Huynh thân mến,
Đệ không rõ nên xếp những gì đệ được biết hôm qua vào loại cuộc sống riêng tư hay công cộng của bọn mũi lõ. Bây giờ đang là buổi sáng và đệ lại ngồi trong tiền sảnh khách sạn. Duy-Lân tử mới xuống lúc nãy và bọn đệ cùng dùng điểm tâm. Sau đó ông lại lên phòng để nữ tiểu nhị quấn cho một tấm gạc lạnh quanh đầu. Ông thân mật, nhưng kiệm lời. Lẽ ra bây giờ ông phải đi dự buổi thuyết trình của một đồng nghiệp, một bậc thầy khác về nghệ thuật trồng rừng. Song ông đã thoái thác và trong vòng bốn giờ nữa không ai được đánh thức ông. Đệ bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc với ông và bảo đệ cũng mệt đến nỗi đầu óc rối tung cả.
Tuy nhiên đệ vẫn viết cho huynh bức thư này rồi sẽ đem ra điểm liên lạc cùng với lá thư hôm qua.
Hôm qua bọn đệ ra đi từ đây, từ khách sạn tới một phạn điếm không xa lắm. Đệ là khách của ông, Duy-Lân tử nói, và ông có một bất ngờ lớn dành cho đệ. Trời buổi tối dịu và đẹp, bọn đệ đi bộ và trò chuyện linh tinh. Duy-Lân tử đã hoàn toàn thành công với chuyện bất ngờ ấy, nhưng nó thuộc loại dung tục, khiến đệ có thể sẽ cho rằng ông thô lỗ (kể cả so với sự thô lỗ nói chung của bọn mũi lõ) nếu trước đó đệ không biết về quan điểm đúng đắn và thắm thiết của ông đối với đệ. Và cũng tí nữa thì đã xảy ra tình cảnh cực kỳ khó xử nhưng Duy-Lân tử nào ngờ, vì ông đâu biết lai lịch của đệ.
Số là vừa bước vào phạn điếm đệ đã sửng sốt: chẳng phải bên cạnh địa chỉ viết bằng chữ của bọn mũi lõ là chữ của chúng ta đấy ư? Đúng thế – đệ đọc và sửng sốt – nơi thế giới xa xôi sau cả nghìn năm này rành rành hai chữ “Đại Gia” quen thuộc với chúng ta. Nét chữ không khác những gì chúng ta xưa nay vẫn quen viết. Duy-Lân tử ranh mãnh cười khi thấy vẻ sửng sốt của đệ. Ông kéo đệ vào trong. Ơ kìa, chẳng phải ở đấy đang có vài ba người đi lại, tuy họ mặc kiểu mũi lõ nhưng nét mặt không thể chối cãi là người từ Trung Quốc đó ư? Đệ không biết cần phải có thái độ thế nào và tuy cảm thấy ở đấy một thoáng thân thuộc nhưng ý nghĩ đầu tiên của đệ là: bỏ chạy. Đệ cảm thấy đã bị phát giác. Nhưng lại tự nhủ: dẫu sao việc đệ làm, chuyến du hành của đệ tới đây, dù khác thường đến đâu cũng không phải là tội ác và không việc gì sợ bị phát giác, dù sẽ khó xử.
Một trong những tửu bảo năng nổ chạy tới tiếp bọn đệ (vì có khá ít thực khách trong phạn điếm) và dĩ nhiên y cho rằng đã nhận ra ngay đệ là một đồng bào. Đúng, đệ là đồng bào, nhưng không cùng thời. Y nói với đệ, nhưng đệ hiểu rất ít. Thế lại hóa may, y là người vùng Quảng Châu và nói thứ thổ ngữ khó hiểu vùng ấy. Đệ giải thích cho Duy-Lân tử, ông “à há” ra vẻ hiểu.
Thế là thoát nạn và bọn đệ ngồi xuống (những người phục vụ khác, đều là quyến thuộc của gã tửu bảo, dĩ nhiên cũng từ Quảng Châu).
Quán này mô phỏng một ngôi nhà Trung Quốc – không đến nỗi tồi, tuy vài ba chữ trang trí trên tường thật vớ vẩn. Ở một bức tường viết: “Một con thỏ ở Khổng Đức không ăn con bọ dừa”, ở một bức tường khác: “Cây kỳ nham với rượu trắng và thiếu phụ của con tàu cũ”. Đệ không dằn được nên đã hỏi tửu bảo nghĩa hai câu này – bằng ngôn ngữ của bọn mũi lõ, vì nếu bằng ngôn ngữ của ta thì y hiểu đệ cũng ít như đệ hiểu y. Tửu bảo lúng túng nói như xin lỗi rằng một nhà thư họa mũi lõ đã chép lại từ một quyển sách mà không hiểu nghĩa. Đến nay chưa ai thắc mắc cả và nếu có một tay mũi lõ hỏi thì y sẽ trả lời rằng đấy là lời của Khổng phu tử. Thật láo xược, lẽ ra đệ phải úp cái thố đựng cơm lên đầu y để trừng phạt, nhưng nể Duy-Lân tử nên đệ lại thôi, vì tính ông vô tư chỉ thấy chuyện này vui là chính.
Huynh hãy hình dung phạn điếm này được trang trí như thể người ta mô phỏng lờ mờ thời huy hoàng của chúng ta. Vài hình chạm trổ trên hàng lan can khiến đệ liên tưởng đến phong cách của chúng ta và một vài bình hoa bày chỗ này chỗ nọ có thể coi như mô phỏng thô thiển các sản phẩm thời Tống nếu không nhìn kỹ. Đệ hy vọng có món chả chó nhưng lại thất vọng, đành ăn gà. Việc nấu nướng – cũng giống món cơm – hơi hơi gợi đệ nhớ đến món ăn của chúng ta; đệ hài lòng và nhẹ nhõm vì các món ăn đều không nấu với sữa bò và những thứ từ sữa. Dường như lũ cháu chắt chúng ta chưa đến nỗi thoái hóa trong việc nấu nướng. Mo-te Shang-dong cũng có. Dẫu sao khi rời khỏi quán “Đại Gia” kỳ lạ này, đệ vẫn thấy nhẹ cả người.
Bọn đệ bước ra đường. Đệ đã kể huynh nghe chuyện bọn mũi lõ chia tháng ở đây thành tuần lễ và ý nghĩa luân chuyển của từng ngày trong chu kỳ này. Hôm qua, “Chúa nhật”, là một trong những ngày mọi hàng quán đóng cửa và bọn mũi lõ chạy vớ vẩn trong các công viên. Mãi gần tối cảnh chạy lăng quăng này mới chấm dứt và thành phố trở nên gần như chết. Có gì đấy như bóng dáng của nàng thơ phất phới trong thành phố, nếu lối diễn đạt này không xúc phạm đến nàng thơ cao quý. Tiếng nước giếng lao xao. Nhưng rồi lại nghe tiếng ô-tô, tuy ít xe cộ qua lại nhưng từng tiếng ồn rời rạc gây phiền toái hết sức.
Chiều hôm qua như thế đấy. Khi Duy-Lân tử và đệ ra đường thì trời đã tối. Trong thành phố này chẳng có vấn đề gì, vì một là đường sá của bọn mũi lõ được chiếu sáng tự động. Tại những chiếc cột cao bằng ngọn cây chúng treo phí phạm đầy những bóng đèn, biến đêm thành ngày rất phi lý, nhưng có điều lợi là ta không vấp ngã. Hai là bọn lái buôn mũi lõ – đệ đã kể rồi – có thói quen chiếu sáng một cách thô bỉ các cửa sổ trưng bày hàng hóa của chúng, ngay cả khi cửa hàng đóng và chẳng ai có thể mua sắm gì. Mãi đệ vẫn chưa hiểu nổi việc bọn lái buôn khoe khoang thành tích qua chuyện trưng bày hàng hóa. Giả thử đệ chưa kinh tởm bọn thương gia do tư tưởng Khổng học thấm vào đầu óc qua giáo dục[1], thì muộn nhất ở Min-chen này đệ cũng sẽ kinh tởm chúng.
“Chà” – đó không phải là một từ trong ngôn ngữ của Trung Hoa đâu, dù nghe có vẻ thế. “Chà”, Duy-Lân tử nói, đại khái có nghĩa: tôi khao khát được biết giờ đây tôi muốn gì. “Chà, mình đi đâu bây giờ?”. Từ chiều cao khổng lồ của mình, ông nhìn ngược nhìn xuôi rồi quay bộ râu to rậm về khắp mọi hướng. Đệ đề nghị đến thăm nàng Pao-leng và giải thích rằng đệ vừa có niềm vinh dự không đáng được hưởng, đó là được phép sắm cho nàng một bộ áo quần dệt bằng lụa trắng, mỏng tanh, phớt kim tuyến, khiến khi được chiếu sáng thích hợp thì thân thể nàng còn lồ lộ mười phần đẹp hơn trong chiếc áo đầm sặc sỡ dợn sóng. Đệ bày tỏ niềm hy vọng rằng khi được yêu cầu nàng Pao-leng sẽ mặc ngay bộ áo quần đáng trầm trồ này và diễn tả nỗi thú vị mê ly được ngắm nhìn thân thể nàng. Đệ cũng kể về con mèo cái Mỹ tử nữa.
“Ôi dào”, Duy-Lân tử nói, “lúc nào đến chẳng được. Trước hết mình lại đằng kia lận một cái vào áo vét đã”. Đó là một câu Duy-Lân tử rất hay nói, đại khái có nghĩa: ông định làm một chầu giải khát.
Thế là bọn đệ đi băng qua một quảng trường rộng, vào một tửu quán khác rất to và hơi giống mùi căn lều lớn tại “Lễ hội trăng Thu”. Duy-Lân tử nhất định muốn đệ uống một hal-bal, nhưng đệ khom lưng một phần tư thoái thác. Thành thử một mình ông uống hal-bal, loáng cái ba vại liên tục. Đệ chịu không hiểu bọn mũi lõ làm thế nào mà tài thế, chúng ta sẽ vỡ bụng ngay nếu trút bấy nhiêu chất lỏng vào người. Ông uống ngon lành, rồi vui vẻ đưa tay chùi bọt bia đọng ở hàm râu. Đệ uống một ly vang. Nghĩa là đệ để mặc cho tửu bảo đặt một ly vang trước mặt đệ. Đệ chỉ nhấp chứ không uống hết. Nó đắng. Đệ có cảm tưởng móng tay móng chân rút hết vào cơ thể.
Trong quán rất ồn. Một ban nhạc chơi rất to, có vài người hát nữa, nhưng không hay. Để bớt phải ngửi phần nào mùi nồng nặc, bọn đệ châm mỗi người một điếu Da-ving-do. Hút xong, bọn đệ rời khỏi quán.
Lúc ở trong quán Duy-Lân tử lại nói tới nghệ thuật trồng rừng, nghề của ông. Thật không dễ dàng, ông thở dài và hỏi ở Trung Quốc chúng ta có gặp những khó khăn này không? Dĩ nhiên ông cho rằng đệ là một du khách từ nước Trung Hoa ngày nay. Làm sao khác được. Đôi ba lần ông vô tư hỏi đệ làm gì, tại sao đến Min-chen và ở bao lâu. Đệ đánh trống lảng. Nhiều lần ông cũng hỏi về tình hình trồng rừng ở Trung Quốc mà ông rất quan tâm. Đã có lần ông được mời qua đấy, song không đi được vì nhiều lý do khiến ông rất tiếc. Tất nhiên rất tiếc đệ không thể thông tin cho ông về trình hình trồng rừng ở Trung Quốc hiện nay, nên cũng lại đánh trống lảng. Đệ dần dà cảm thấy thật khó xử, nên rất ngần ngại khi muốn hỏi ông về vấn đề gì đấy.
Ông trở lại chuyện này trong quán thứ hai. “Ông từ đâu đến?” – “Từ Trung Quốc” – “Biết rồi, nhưng tôi muốn hỏi từ thành phố nào cơ?” Đệ trả lời sát với sự thật – có thể hơi thiếu cân nhắc – “Từ phủ Khai Phong”. Ông rút trong túi một quyển sổ con, lật ra rồi hỏi: “Ông có biết một bậc thầy về trồng rừng tên Trương Thiệu Vũ dạy Đại học Bắc Kinh không? Ông này được coi là chuyên gia xuất sắc nhất về ngành trồng rừng ở Trung Quốc và trước đây đã mời tôi đấy”. Dĩ nhiên đệ đâu biết gã Trương Thiệu Vũ, cháu chắt xa bao đời, sinh sau một nghìn năm này. (Còn Yên Kinh mà bọn mũi lõ gọi là Bắc Kinh thì bây giờ lại thuộc về Trung Quốc rồi, như trước thời chúng ta; ít nhất đó cũng là một mặt đáng mừng của tương lai. Nay nó là kinh đô của vương quốc ta đấy)[2]. Đệ đáp: “Có chứ. Tuy tại hạ không vinh dự quen biết cá nhân ông ta, nhưng danh tiếng lẫy lừng không tưởng tượng nổi của ông ta dĩ nhiên cũng lan tới đôi tai bẩn thỉu của tại hạ chứ”.
Huynh và đệ cũng như mọi người ở nước ta đều không khó khăn gì để hiểu qua một câu trả lời như thế này nghĩa là tôi chẳng biết ông ấy là ai cả. Bọn mũi lõ không thế. Chúng bám từng chữ một. Ta thận trọng mấy cũng không đủ.
Nghe thế, Duy-Lân tử liền reo lên, vỗ đôi bàn tay to tướng lên vai đệ và nói lớn: “Tuyệt quá. Thế thì mai chúng ta sẽ gọi ông ấy”.
Ở đây người ta không hiểu “gọi” là một hành động cúng bái, như kiểu gọi hồn, mà là nhấc chiếc máy te-lei-fong củ cải mà đệ đã kể cho huynh và trò chuyện với một người ở xa.
“Gọi ông Trương Thiệu Vũ ư?” đệ sửng sốt kêu. “Gọi đi Bắc Kinh? Được à?”
“Sao lại không?” Duy-Lân tử nói. “Có thể phải chờ lâu hơn mới nối được đường dây, nhưng dứt khoát được. Từ khi tới đây, ông chưa từng gọi về Bắc Kinh à?”
Đệ trấn tĩnh thật nhanh. “À, có chứ”, đệ đáp, “đầu óc tại hạ vẩn vơ đâu thế nhỉ. Dĩ nhiên tại hạ gọi về nhà rồi chứ”.
“Đấy”, Duy-Lân tử nói. “Thành ra chúng ta cũng có thể gọi được cho ông Trương Thiệu Vũ”.
“Nhưng tại hạ đâu quen biết con người này, dù tại hạ hoàn toàn không hoài nghi về kiến thức chuyên môn khiến thế giới phải ngạc nhiên của ông ta!”
“Không sao, không sao”, ông nói, “ông ấy là một đồng nghiệp của tôi và ông chỉ cần nêu tên tôi là ông ấy biết ngay.”
“Được”, đệ nói, “mai vậy”. Đệ hy vọng có thể đến mai ông sẽ quên chuyện này.
Bọn đệ rời khỏi quán thứ hai. Đã khuya rồi và đệ hy vọng bọn đệ sẽ cất bước về hướng khách sạn. Mới đầu bọn đệ đi về hướng đó thật, nhưng rồi Duy-Lân tử nắm nhẹ cánh tay đệ, cúi xuống khiến hàm râu cứng tròn trịa của ông cạ vào má đệ: “Bây giờ mình tới “Thiên Đường!”
Đó là một quán khác mang cái tên hoàn toàn không tương xứng này.
Quán tối om, bọn đệ bước vào trong qua một tấm màn nặng chịch màu nhung đỏ được một tửu bảo mặc đồ đen nhanh nhẹn kéo qua một bên. Ở đấy có nhiều chiếc ghế con màu vàng kim trông mảnh dẻ bên những chiếc bàn ọp ẹp, có mùi long não lẫn mùi chanh. Quán có vẻ ít khách vãng lai nên đệ bảo ngay với Duy-Lân tử: “Nói thế này là vừa không khiêm tốn vừa ngu dốt, song tại hạ nghĩ mình được phép lưu ý túc hạ rằng dường như chúng ta là những người khách duy nhất và tuy kém nhạy bén với mọi chuyện khác, song như tại hạ biết loại tửu bảo của những nhà hàng kiểu này, đặc biệt là các chủ quán, sẽ không ngần ngại trút lên đầu chúng ta những khoản mà chúng không hề thực hiện”.
Duy-Lân tử bảo đối với ông chuyện này là “một cái ruột bò nhồi thịt bằm” (lối nói này của bọn mũi lõ có nghĩa: chẳng đáng quan tâm), vì hôm qua ông nhận được khoản thù lao cao không ngờ cho bài thuyết trình của ông và ông đã kiên quyết hôm nay cùng đệ ăn mừng.
Song quán vẫn có những khách khác nữa, tất nhiên rất ít, tối đa một chục và toàn đàn ông mà vì tối quá nên thoạt tiên đệ không nhận ra. Họ ngồi lọt thỏm trong những cái hốc bọc nhung, nhìn lơ đãng. Vài người phụ nữ ngồi uể oải trên chiếc trường kỷ đặt trong một góc; rõ ràng họ không phải là khách, mà thuộc vào loại ta biết ngay họ hành nghề gì, cho dù ta xa lạ với thế giới này. Thấy bọn đệ vào quán, một nàng trong đám ấy đứng dậy, vươn vai định lại với bọn đệ. Tửu bảo hỏi: “Quý vị cần người bồi tiếp không ạ?” Duy-Lân tử từ chối: “Lát nữa hẵng hay”, tửu bảo liền quay qua ra hiệu và nàng phụng phịu ngồi xuống.
Trong quán này cũng có một ban nhạc gồm ba người. Phúc đức sao họ chơi không ồn ào, nhưng rõ ràng không hứng thú. Tửu bảo dẫn bọn đệ tới một trong những cái hốc bọc nhung và Duy-Lân tử gọi một chai Mo-te Shang-dong.
Đột nhiên quán trở nên tối hơn. Ban nhạc ngừng chơi. Một tấm màn nhung được kéo qua bên và một gã trông như con ếch chào bọn đệ – nghĩa là chào mọi khách đang ngồi hơi khuất trong những hốc – và xun xoe giới thiệu, theo đệ hiểu là một màn trình diễn nhào lộn. Ngay sau đó ban nhạc chơi tiếp và một nàng mặc áo đầm màu bạc bước ra sân khấu, cất giọng hát dù không mấy hay ho. Lát sau nàng cởi bỏ áo quần hết mảnh này đến mảnh khác (vẫn không ngừng hát) và ném những mảnh này vào những hang hốc khách ngồi. Chúng óng ánh như bạc, nhưng khách không được giữ; sau màn trình diễn tửu bảo sẽ đi thu lại. Nàng kia vẫn tiếp tục hát dù đã hoàn toàn thoát y, chỉ giữ bằng tay một bông hồng to màu bạc trước khoảnh vườn hình tam giác của nàng. Khi bài hát (mà đệ không hiểu ca từ) kết thúc, nàng cũng tung hê luôn bông hồng, rồi nhún nhảy đi vào trong.
Duy-Lân tử và các khách khác vỗ tay thích thú. Đệ hỏi màn vừa rồi làm ông thích thật ư. Ông bảo: cũng được.
Sau phút nghỉ giải lao còn nhiều màn trình diễn như thế nữa, chẳng màn nào nhào lộn thật. Nàng nào cũng thoát y – hoặc vừa hát hoặc không. Một nàng thật đẫy đà, được một con chó cũng rất mập giúp cởi bỏ quần áo. (Dĩ nhiên đệ hiểu người ta không thịt một con chó như thế này, vì hiển nhiên phải tốn bao công phu mới huấn luyện được nó cởi quần áo cho người). Nàng rúc rích như chuột kêu mỗi khi con chó dùng mõm kéo một mảnh áo quần của nàng rồi chạy ra ngoài, còn con chó chẳng sủa gì. Khi đã hoàn toàn trần truồng rồi, nàng nằm lên một chiếc tràng kỷ, kéo con chó vào giữa hai đùi, rồi rên rỉ. Khi đệ bật cười thì người đàn ông ở hốc bên cạnh liền suỵt!
Màn trình diễn duy nhất đáng gọi là nhào lộn là của một gã mặc quần lót màu cam thẫm; gã thọc một ngón tay vào chiếc chai đặt trên sàn, rồi chĩa hai chân lên trời giữ thăng bằng chỉ nhờ ngón tay này. Gã đã phải rất vất vả để cởi bỏ áo quần của ba cô nàng nhảy múa xung quanh với bàn tay còn lại.
Một nàng khác trần truồng bước lên bục, nuốt những quả bóng nhỏ màu trắng rồi không hiểu bằng cách nào lại đẩy chúng ra ở chỗ khác, hiển nhiên đó là một thủ thuật đánh lừa. Một nàng nữa thoát y trong lúc không ngớt vặn vẹo thân thể, xòe tay bưng một chiếc khay với năm cái ly. Một cái ly rơi xuống, khiến một nàng thoát y tiếp sau chạm phải mảnh vụn, hông chảy máu nên đã giận dữ không trình diễn tiếp. Đệ thích màn này nhất, song không nghĩ rằng nó có trong chương trình.
Trong lúc ấy đệ thấy Duy-Lân tử không ngớt ngó sang hốc bên cạnh. Ông nhìn chằm chằm người đàn ông đã “suỵt” đệ, rồi huých đệ và khẽ nói: “Ông nhìn kìa – một trong những viên thượng thư uy quyền nhất đấy nhé. Hắn tên là Chi, một kẻ mọi rợ phía Nam, được coi là đã khai man trước tòa”[3].
Đệ buột miệng: “Chuyện này tại hạ không lạ. Nước tại hạ cũng có thượng thư khai man mà...” Lúc ấy đệ nghĩ đến viên quan Tịnh Ngụy, giàu sụ nhờ cung cấp chiến xa cho đám tướng mạn Bắc[4].
“Đúng, đúng”, Duy-Lân tử nói, “tôi có nghe nói”. Hiển nhiên ông quy điều đệ vừa nói vào nước Trung Hoa ngày nay, dường như vẫn chẳng khác xưa.
Viên thượng thư khai man Chi, một gã Nam man, phụ trách về vấn đề bồ hóng trong không khí nhưng mới gần đây thôi, Duy-Lân tử giải thích. Viên thượng thư trước tên là Mu, tuy không can tội khai man (hoặc không nghe nói tới) nhưng bất tài, ông nói thêm, thành ra phải giới hạn việc đánh giá với từng thượng thư.
“Thế”, đệ hỏi, “ngài thượng thư khai man đáng kính định sẽ làm gì chống lại bồ hóng trong không khí?”
“Ông ta đã ra một chỉ thị khắt khe”, Duy-Lân tử nói. Qua nét mặt đệ thấy ông không thật nghĩ như thế.
“Một chỉ thị chống bồ hóng trong không khí? Bồ hóng sẽ tuân theo ư?”
Duy-Lân tử cười. “Câu hỏi chí lý lắm”, ông nói. “Bồ hóng sẽ không tuân theo, nhất là những người tạo ra bồ hóng”.
Đệ dội lại: “Có những kẻ tạo ra bồ hóng và thải ra ngoài không khí à? Họ cố tình ư? Không ngăn chặn họ được sao?”
“Ông hỏi cứ như thể ông từ cung trăng rơi xuống vậy!” Duy-Lân tử đáp.
Đệ làm như không nghe thấy câu nói bẫy này. “Thế nào là cố tình? Đúng, ít nhiều cố tình. Nhưng vấn đề này ở Trung Quốc cũng có vậy, tuy có lẽ ở mức ít hơn bên chúng tôi”.
Đệ hiểu rõ rằng muốn có thêm kiến thức từ vốn hiểu biết đặc biệt của Duy-Lân tử, đệ phải tìm ra một lời giải thích nào đấy cho sự hoàn toàn ngu dốt của đệ. Cách đơn giản nhất dĩ nhiên là nói thẳng cho ông biết lai lịch của đệ. Tuy vậy đệ ngần ngại – bây giờ vẫn thế – vì ông sẽ không tin. Ông khác nàng Pao-leng và ông Shi-shmi, những người đệ tin cậy được. Không phải Duy-Lân tử không đáng tin cậy, nhưng ông thuộc loại người chỉ tin những gì sờ mó được. Không sao, đệ có thể thuyết phục bằng cách cho ông xem chiếc la bàn và dẫn ông tới điểm liên lạc để ông chứng kiến cái bao dùng liên lạc biến mất cùng với bức thư. Lúc ấy ông sẽ tin đệ; nhưng, như đệ nhận định về ông, ông sẽ treo ngay chuyện này vào chiếc chuông to (một cách nói của bọn mũi lõ, đại khái nghĩa là kể lể cùng khắp) và còn nghĩ làm thế là giúp đệ nữa chứ.
Thành ra đệ mới dông dài, cung kính bảo rằng đệ là một triết gia, nghiên cứu tư tưởng của đức thánh Khổng. (Duy-Lân tử có biết về bậc hiền giả đồi hạnh này). Đệ còn nói thêm là những năm qua đệ chỉ chiêm nghiệm nghệ thuật thâm trầm cùng những nghiên cứu không còn được lưu hành về cổ thư. Những chuyện xảy ra trên thế giới đệ không quan tâm, đệ không khác gì một ẩn sĩ.
Duy-Lân tử hoài nghi nhìn đệ, nhưng không hỏi nữa. “Túc hạ cứ cho rằng tại hạ sống ở cung trăng cũng không sao mà”, đệ nói.
“Thế thì tôi chịu không biết nên bắt đầu từ đâu để giải thích tất cả những chuyện này cho ông”, Duy-Lân tử nói, “mình nói đến chỗ nào rồi nhỉ?”
“Tại hạ cảm thấy thú vị khi nghe túc hạ bảo rằng có những người ít nhiều cố tình thải bồ hóng vào không khí”.
Những gì ông nói tiếp đệ không thể thuật lại bằng ngôn ngữ của chúng ta. Đó là những từ không dịch được, trong ngôn ngữ của chúng ta không có lấy một từ tương đương, vì chúng ta – đội ơn trời – không có đối tượng thuộc khái niệm ấy. “Khí thải”, “Seveso”[5], “Fa-wiq”[6]. Duy nhất đệ có thể tạm dịch là khái niệm mưa-giấm[7]. Đệ rất sửng sốt khi Duy-Lân tử bảo ở đây có mưa-giấm. Đệ bảo tuy đã thấy nhiều thứ bẩn thỉu và hại sức khỏe ở thế giới này nhưng mưa giấm thì chưa hề, dù rằng theo tình trạng ở đây hiện nay thì điều này sẽ không khiến đệ ngạc nhiên.
Có đấy, ông nói. Mưa-giấm tồn tại, nhưng người ta không biết đấy thôi. Phải gọi đó là giấm rất loãng vì lẫn nước mưa khiến con người không nhận thấy, nhưng nó hại cây cối. Mưa-giấm khiến cây khô héo, cụ thể là loại cây lá kim mà ông vừa mới kể cho đệ. Nếu đệ muốn, ông có thể chỉ cho đệ thấy – ngay gần Min-chen này thôi, những cánh rừng không còn là rừng nữa mà chỉ còn là những bộ xương của rừng. Ở đấy chỉ còn những lõi cây khô héo và chút ít cỏ dại trên nền đất. Đúng là hình phạt của trời theo nghĩa đen, vì mưa-giấm rơi xuống từ trời. Chẳng bao lâu nữa những nơi trước đây là rừng sẽ đều như thế cả. Nhưng tất nhiên đó không phải là trời trừng phạt mà đúng hơn chính là con người, loài sâu bọ này đã gây ra mưa-giấm. Còn hắn, hắn chỉ biết ban bố chỉ thị! Duy-Lân tử dứ dứ nắm đấm về phía viên thượng thư khai man Chi vẫn đang ngồi, nhưng không biết gì về cái nắm đấm, vì đang nhìn như bị hớp hồn một cô nàng đang giao cấu với mỏ một con vẹt.
Như đã nói, đệ không thể dịch những điều này sang ngôn ngữ của chúng ta được. Fa-wiq là gì? Đệ không biết. Hẳn thế giới này còn nhiều thứ đệ chưa thấy, có thể đó lại là những thứ quan trọng. Đệ chỉ có thể diễn nghĩa lại thôi – giống như Duy-Lân tử thử diễn tả vòng vo cho đệ hiểu theo kiểu hơi sống sượng và hời hợt nhưng tượng hình của ông: cơ thể con người phải thải ra những thể dịch thừa thãi, gây khó chịu và hơi lẫn phân, chúng đều hôi hám cả, thì xã hội cũng thải ra những khí, những dịch và mùi hôi độc hại. Con người chọn nơi kín đáo để trút những thứ rác rưởi này, còn xã hội (đệ nói thêm là của bọn mũi lõ) nói chung làm việc này hoàn toàn công khai và vô liêm sỉ.
“Giống như chúng ta – xin lỗi vì lối diễn đạt này – cả năm trời ị ra phòng khách rồi ngạc nhiên sao nó hôi hám, không ở nổi. Xã hội của chúng tôi hiện đang ở tình trạng này đấy”, Duy-Lân tử nói.
“Có phải đã quá muộn để chống lại chăng?”
“Đôi khi tôi e như thế thật”, ông nói.
Bọn đệ rời quán thoát y sau khi Duy-Lân tử trả một số tiền không nhỏ. Lúc ấy khuya rồi, quá nửa đêm đã lâu. Bọn đệ lặng lẽ và trầm ngâm đi về khách sạn. Trời lắc rắc mưa, đệ xòe tay và quan sát những giọt mưa trên lưng bàn tay.
“Chà, chà...”, Duy-Lân tử nói.
“Giấm chăng?” đệ hỏi.
“Trước kia”, Duy-Lân tử nói, “tôi lạc quan và thỉnh thoảng mới sợ rằng đã quá muộn. Còn nay? Nay hiếm có những giây phút tôi không sợ”. Bọn đệ chia tay trong đại sảnh khách sạn.
Những gì đệ thấy trong thế giới này chưa đủ ư? Chẳng phải đệ đã biết rằng nó mục nát, suy đồi và tiến tới sự diệt vong không cưỡng lại được ư? Tuy còn nhiều thứ đệ chưa thấy, nhưng thật ra đệ có thể quay về cố hương được rồi... dĩ nhiên không thể không thăm nàng Pao-leng lần nữa. Nàng và thầy Ve-to-feng là niềm vui trong chuỗi ngày dài buồn tẻ. Nhưng những niềm vui này giúp được gì khi ta bị đẩy tới vực thẳm. Đệ cảm thấy như vậy đấy. Đệ muốn trốn chạy, nhưng chiếc la bàn mà chúng ta thiết kế không cho phép. Đệ phải chờ đến thời điểm đã tính toán và rất tiếc còn phải chờ lâu nữa.
Cho đến lúc ấy đệ sẽ sống thoải mái như có thể. Ba ngày nữa đệ sẽ lại tới thăm ông Shi-shmi, lúc ấy bộ tứ lại chơi ở nhà ông. Đệ mong được nghe lắm. Mai nàng Pao-leng sẽ dẫn đệ tới một ông chế gọng mắt. Ông ta sẽ đo cho đệ một cái để đệ có thể đọc tốt hơn và không phải cầm giấy thật xa mỗi khi viết và đọc, nàng nói vậy.
Đệ ôm huynh, người bạn trung hậu và yêu quý nhất. Đệ mong chờ ngày trở về.
Cao Đài
❀ ❀ ❀
[1] Khổng học xếp thương gia vào hạng cuối cùng trong bốn tầng lớp xã hội: sĩ, nông, công, thương.
[2] Thời Tống, Bắc Kinh [thời Chiến quốc là “Yên Kinh” - kinh đô nước Yên – LCC] mất về tay nhà Kim, phải dời đô về phủ Khai Phong phía Nam, tỉnh Hồ Nam ngày nay (chú thích của tác giả).
[3] Có lẽ tác giả ám chỉ Friedrich Zimmermann (1925 – 2012), người bang Bavaria, năm 1960 bị tòa kết tội khai man về một vụ án liên quan đến “sòng bạc” ở Munich. Tuy nhiên, vì là người của đảng CSU (đảng “Liên minh xã hội Thiên Chúa giáo”), ông ta vẫn trở thành bộ trưởng nội vụ liên bang từ 1982 đến 1989.
[4] Có lẽ ám chỉ nước Liêu.
[5] Seveso: tháng 7 năm 1976 tại một nhà máy hóa chất ở gần Milan (Ý) đã xảy ra một tai nạn liên quan đến Dioxin (chất độc màu da cam quân đội Mỹ đã rải xuống rừng rậm miền Nam nước ta để “khai quang” trong thời chiến tranh), khiến đất đai Seveso và mấy vùng phụ cận bị nhiễm độc nặng.
[6] Fabrik: xưởng.
[7] Thuật ngữ hiện nay: mưa axít.