“Trái tim các vị vua nằm trong tay Người,” Kinh Thánh đã dạy thế, và ta buộc phải tin rằng trái tim các bậc quân vương được dẫn dắt đầy khôn ngoan bởi một ý nghĩa thiêng liêng nào đó. Tuy nhiên, do sự u tối của tâm hồn tội lỗi, chúng ta thường không thấy, hoặc không thể suy xét thấu đáo lý do vì sao các vị vua đôi khi lại hành động khác đi, và theo suy nghĩ của chúng ta, là kém xứng đáng hơn cả những người thường. Bởi đây là sự thật và cần phải nói ra: Charles VII, Vua nước Pháp, đã không hành xử xứng đáng là một bậc quân vương đối với Thánh Nữ, dù là trước hay thậm chí là sau khi ông được xức dầu thánh từ chiếc bình thiêng mà thiên thần đã mang đến cho Thánh Remigius. Tôi đã nhiều lần buồn bã nghĩ rằng, nếu Xaintrailles, La Hire, hay bất cứ gã cận vệ quèn nào trong quân đội chúng ta được làm Thái tử, thì chỉ ba tháng sau những chiến thắng của Thánh Nữ vào tháng Sáu, Paris đã thuộc về chúng ta, và không còn một tên Anh nào được hít thở bầu không khí của nước Pháp. Nhà vua chỉ cần nghe lời Thánh Nữ, tiến thẳng đến Reims, rồi từ đó đánh thẳng vào Paris, thì mọi thành phố chắc chắn đã mở cổng chào đón ông, giống như những bức tường Jericho đổ sập chỉ vì tiếng kèn của người Israel.
Đây không phải là ảo tưởng ngớ ngẩn của một ông già đang mơ mộng trong tu viện về những điều lẽ ra có thể xảy ra. Bởi ngay cả Nhiếp chính vương nước Anh, em trai Vua Henry V của họ, một người khôn ngoan và dũng cảm, dẫu tàn nhẫn, cũng có cùng suy nghĩ này. Ban đầu, ông ta rời bỏ Paris và tự giam mình trong lâu đài kiên cố Vincennes vì sợ một cuộc nổi dậy; sau đó, ông ta rút hoàn toàn về Rouen vì không còn đủ quân để bảo vệ các bức tường thành Paris nữa. Thái tử của chúng ta chỉ cần lên ngựa và tiến quân, thì tất cả đã nằm gọn trong tay ngài chỉ bằng một đòn đánh, hay thậm chí chẳng cần đánh trận nào. Như chúng tôi vẫn nghe nói hàng ngày, Thánh Nữ đã khẩn cầu ngài, thậm chí cả trong nước mắt, chỉ cần làm đúng chừng đó thôi. Từ khắp nơi, những người tự do và quý tộc đều sẵn sàng phục vụ mà không cần trả công. Ngay cả những quý ông nghèo túng nhất, những người đã mất hết gia sản trong loạn lạc đến mức chẳng còn con ngựa nào để cưỡi, cũng tình nguyện gia nhập hàng ngũ bộ binh.
Nhưng trong khi cả nước Pháp kêu gọi nhà vua, thì ngài lại đang trú ngụ tại Sully, trong lâu đài của La Trémouille, một kẻ luôn bắt cá hai tay, nhờ đó mà quân Anh hay Burgundian chưa bao giờ dám cướp phá các điền trang giàu có của hắn khi chúng nằm trong tầm tay họ. Thế nên, với sự ích kỷ, lười biếng và đố kỵ của La Trémouille, cộng thêm chính sách thế tục của Tổng giám mục vùng Reims – người luôn kêu gào hòa bình ở nơi chẳng có lấy một chút hòa bình nào – thì Thánh Nữ và các chỉ huy đã không được lắng nghe. Hoặc nếu có, kế hoạch của họ cũng bị thực thi một cách hời hợt, để rồi cuối cùng, nếu được phép nói như vậy, ý chí của con người đã lấn át ý chí của Thiên đường.
Tôi cầu nguyện rằng đừng bao giờ có một hoàng tử nào của đất nước tôi lâm vào cảnh ngộ này, bị phục vụ tồi tệ đến mức khi đã thắng trận và chiếm được vài ba tòa thành, chỉ cần tiến thêm một bước là giành lại được toàn bộ vương quốc, lại bị các mưu sĩ thiển cận ngăn cản! Chớ bao giờ điều đó xảy ra với một hoàng tử xứ Scotland! Về những chuyện quốc gia đại sự này, như ta có thể tin, chúng tôi đã bàn luận rất nhiều ở Tours trong khi các sứ giả đi lại liên tục, còn những cuộc họp dài đằng đẵng và mệt mỏi thì diễn ra ở Sully và Gien. Tin tức chúng tôi nhận được là D’Alençon muốn tung ra một đòn mạnh mẽ hơn cả cuộc hành quân đến Reims; ông muốn tấn công quân Anh tại nơi chúng mạnh nhất và gần bờ biển của chúng nhất: Rouen. Trong khi đó, các mưu sĩ theo phe chủ hòa lại muốn lãng phí thời gian bao vây La Charité và các thị trấn nhỏ bên bờ sông Loire. Nhưng ngay từ đầu, các Giọng nói đã bảo Thánh Nữ phải đưa Thái tử đến Reims để ngài được xức dầu và được cả nước Pháp công nhận là Vua đích thực. Cuối cùng, nhận thấy thời gian bị lãng phí quá nhiều trong khi mọi hy vọng đều đặt vào một đòn quyết định nhanh gọn trước khi quân Anh kịp tập hợp lực lượng và mang đạo quân mà Hồng y giáo chủ Winchester vừa chiêu mộ để đi thập tự chinh chống lại những kẻ dị giáo ở Bohemia sang, Thánh Nữ đã rời Gien cùng đội quân của mình vào ngày 27 tháng Sáu. Bà đóng quân trên các cánh đồng, cách đó khoảng bốn dặm trên đường đến Auxerre. Ngày hôm sau, nhà vua và triều đình buộc phải theo sau bà với một đội quân hùng hậu mười hai ngàn người. Từ đó trở đi, mỗi ngày ở Tours chúng tôi đều nhận được tin tức, và tất cả đều là tin tốt. Hết thị trấn này đến thị trấn khác mở cổng theo lệnh của Thánh Nữ, đặc biệt là Troyes và Chalons, bất chấp sự hiện diện của các đơn vị đồn trú Anh.
Tất cả chúng tôi đều vô cùng vui mừng, đến mức gần như không ngủ được vì sung sướng, nhất là khi một sứ giả tên là Thomas Scott – người mà tôi đã gặp trước đây như tôi từng viết – phi ngựa đến, bảo chủ tôi đi ngay đến Reims để hội quân cùng nhà vua và thực hiện kỹ nghệ thiết kế một bức tranh lớn về lễ đăng quang. Thế là, sau nhiều công đoạn chuẩn bị, ông xếp những tấm toan, cọ vẽ, màu sơn và tất cả đồ nghề vào các túi da. Ông gửi gắm con gái mình cho người họ hàng già, dặn cô phải nghe lời bà trong mọi việc, rồi lên ngựa đi cùng Thomas Scott. Còn tôi thì phải ở lại với một người đàn bà đàng hoàng tại Tours để tránh những lời đàm tiếu; thời gian với tôi trôi đi thật chậm chạp, bởi tôi không còn được ở bên Elliot mọi lúc như trước nữa.
Về phần tiểu thư, trong hầu hết những ngày đó, cô đều quỳ gối trước bàn thờ ở ngôi thánh đường lớn, cầu nguyện các vị thánh phù hộ cho Thái tử, Thánh Nữ và cho cha cô được đi đến nơi về đến chốn an toàn. Lời cầu nguyện của cô đã được đáp đền, bởi chỉ hai ngày sau khi tin tức về lễ xức dầu đã hoàn tất và mọi chuyện đều suôn sẻ được gửi về, chủ tôi đã cưỡi ngựa về đến tận cửa nhà. Ông trông mệt mỏi nhưng lòng đầy hân hoan, khập khiễng bước vào nhà. Người ta cho người chạy đi báo tin vui cho tôi, và chính tôi cũng chạy đến, vì giờ đây tôi đã khỏe lại. Tôi thấy ông đang ngồi ăn, dù chẳng ăn được bao nhiêu vì Elliot cứ chặn miệng ông bằng những cái hôn.
Ông chìa tay ra với tôi và nói: "Mọi sự đều tốt đẹp như lòng mong đợi. Thánh Nữ nhắn con hãy theo bà đến Paris nếu có thể, vì bà bảo đó sẽ là cơ hội duy nhất để con giành lấy huy hiệu hiệp sĩ. Giờ thì để ta ăn uống đã, vì trời nóng bức, đường sá đầy bụi bặm, và ta thì đói gần chết. Sau đó, con muốn hỏi gì thì hỏi. Còn con nữa, Elliot, đừng có đứng giữa một người đang đói và bữa ăn của họ."
Ông vừa nói vừa ngồi bên bàn với chiếc cốc lớn trên tay, những chiếc túi da nằm ngổn ngang dưới sàn. Elliot vì thế không ôm ông nữa, mà chuyển sang cắt thịt phục vụ cha để ông ăn nhanh hơn và kể hết câu chuyện. Cuối cùng, ông cũng kể, với Elliot ngồi trên đùi và vòng tay qua cổ ông. Còn về lễ xức dầu, cách thức tiến hành ra sao – dù nhiều quý tộc Pháp không có mặt để chứng kiến – hay sự cao quý trong cách hành xử của nhà vua và Thánh Nữ – người đứng đó với lá cờ của mình – và phần thưởng duy nhất bà yêu cầu, đó là dân làng của bà được miễn thuế và nghĩa vụ lao dịch, tất cả những điều này đều đã được ghi chép trong các bộ Biên niên sử. Bản thân tôi không tận mắt chứng kiến nên xin không nhắc lại. Nhưng bên cạnh việc được trực tiếp xem nghi lễ vinh quang đó, điều tuyệt vời nhất là được nghe chủ tôi kể lại, vừa kể ông vừa lấy ra những cuốn sổ, nơi ông đã vẽ nhà vua, Thánh Nữ trong bộ giáp của bà, cùng nhiều vị đại quý tộc. Từ những bức vẽ đó, một tấm thảm sau này đã được dệt nên và treo trong Nhà thờ Reims, nơi nó vẫn còn đến ngày nay: hình ảnh Thánh Nữ trên lưng ngựa vẫy tay ra hiệu cho nhà vua tiến lên, các cung thủ người Scotland ở bên cạnh ngài tại vị trí danh dự nhất – vốn là quyền lợi chính đáng của họ – và phía sau tất cả là cha của Thánh Nữ đang tiến vào Reims bằng một con đường khác. Nhờ may mắn và nhờ là bạn đồng hành với Thomas Scott, người trông coi chuồng ngựa của nhà vua, chủ tôi đã tìm được chỗ trọ khá dễ dàng. Thị trấn đông đúc đến mức vào giữa tháng Bảy, khi thời tiết còn ấm áp, nhiều người phải nằm trong những túp lều bằng cành cây ở quảng trường lớn Reims, và đêm đó người ta hát hò nhiều hơn là ngủ. Nhưng chủ tôi đã trọ ở nhà nghỉ tên là L’Asne Roye, tại khu sân nhà thờ, đối diện với chính tòa, nơi Jean d’Arc, cha của Thánh Nữ, cũng ở đó. Bà đã đến thăm ông và tặng quà cho những người dân đồng hương đang tụ họp tại Reims.
"Này Jeannot, cháu không sợ gì sao?" một người trong số họ, người đã biết bà từ thuở nhỏ, hỏi.
"Cháu chẳng sợ gì ngoài sự phản bội," chủ tôi nghe bà trả lời. Một lời nói mà về sau, chúng tôi đã có quá nhiều lý do đau xót để ghi nhớ.
"Giờ đây khi đã vĩ đại đến thế, liệu bà ấy có kiêu ngạo không?" Elliot hỏi.
"Kiêu ngạo ư! Bà ấy chẳng có chút kiêu ngạo nào, mà ngồi ăn uống và trò chuyện thân mật với tất cả những người nông dân ấy, cứ 'tôi với cậu', rồi 'người này thế nào, người kia ra sao?', đến mức ta thực sự nghĩ bà đã hỏi thăm đến từng người đàn ông, phụ nữ, trẻ con và cả con chó ở Domremy. Và điều đó làm ta nhớ đến..."
"Nhớ đến cái gì ạ?"
"Không gì cả. Thật đấy, ta không nhớ mình định nói gì nữa, vì ta mệt lắm rồi."
"Nhưng còn Paris?" tôi hỏi. "Khi nào chúng ta tiến quân vào Paris?" Mặt chủ tôi tối sầm lại. "Lẽ ra họ nên khởi hành đến Paris ngay ngày hôm sau lễ xức dầu, tức là ngày 17 tháng Bảy. Nhưng các đặc sứ của Công tước vùng Burgundy đã đến, và có những cuộc đàm phán với họ về hòa bình. Này, hòa bình sẽ chẳng bao giờ đạt được nếu không dùng đến mũi thương. Thế mà họ lại ký một hiệp định đình chiến kéo dài mười lăm ngày với Burgundy, và sau đó hắn mới chịu trao lại Paris cho nhà vua. Tuy nhiên, trước khi mười lăm ngày trôi qua, quân đội mới từ Anh đã kịp sang để chiến đấu với chúng ta, chứ không phải đi đánh những kẻ dị giáo ở Bohemia như lời họ thề nguyện khi nhận thập tự giá. Và nhà vua đã đi đến Saint Marcoul, vì tin rằng nếu không đến đó làm lễ, ông sẽ không thể chạm vào chữa bệnh tràng nhạc. Thật chứ, những người bị bệnh tràng nhạc lẽ ra có thể đợi cho đến khi nhà vua giành lại được vương quốc của mình; họ đã đợi đủ lâu để học cách kiên nhẫn trong suốt thời gian ông còn là Thái tử. Lẽ ra phải là Paris trước, rồi đến Saint Marcoul và bệnh tràng nhạc sau, nhưng họ chỉ tìm mọi cách để lãng phí thời gian và tránh xa những trận giao tranh ác liệt." Ông đập tay xuống bàn khiến mấy chiếc cốc nhảy lên. "Ta sợ những gì sắp xảy ra," ông nói. "Vì mỗi ngày trôi qua đều là mất mát lớn đối với chúng ta và là lợi lộc lớn cho kẻ thù nước Anh, những kẻ sắp sửa đưa quân vào chiếm đóng Paris."
"Đồ nhát gan," Elliot kêu lên, giật chòm râu của ông. "Cha sẽ không bao giờ chịu tin vào Thánh Nữ, người chưa từng thất bại trong việc cứu giúp chúng ta nhờ sự phù hộ của các vị thánh sao?"
"Các vị thánh chỉ giúp những ai tự giúp chính mình," ông trả lời. "Và thành Paris có những bức tường quá kiên cố, một khi quân Anh mới tiến vào, thì ngay cả các vị thánh cũng có thể gặp khó khăn. Nhưng Elliot, con chạy lên xem phòng của ta đã sẵn sàng chưa, vì ta mệt lắm rồi." Cô chạy ra ngoài, và chủ tôi quay sang tôi, nói nhỏ: "Ta có chuyện này muốn nói riêng với con, nhưng ta sợ làm con bé buồn. Ở một quầy hàng tại Reims, ta đã thấy con khỉ của con bé đang làm trò, và khi nó đi vòng quanh xin ăn với cái bát nhỏ, con vật bé xíu đó nhận ra ta và nhảy tót vào lòng ta, kêu la như thể nó là người vậy. Lúc đó, ta đã định giữ nó lại, nhưng bị ba bốn tên côn đồ xông vào, và vì chỉ có một mình, còn đám đông thì hùa theo chúng, nên ta nghĩ không nên tuốt kiếm ra, làm vấy bẩn nền hòa bình của nhà vua vốn vừa mới bắt đầu. Nhưng lòng ta đau xót cho sinh vật tội nghiệp đó, và thực lòng mà nói, ta trở về mà lòng chẳng chút nhẹ nhõm, chỉ trừ việc được gặp lại hai đứa, vì ta sợ rằng điều tồi tệ nhất vẫn còn ở phía trước. Nhưng Elliot quay lại rồi, đừng nói gì về con khỉ nhé."
Nói rồi ông đi về phòng mình, còn tôi về phòng tôi, với niềm vui không trọn vẹn như tôi từng mong đợi. Dẫu vậy, trong lòng tôi nảy ra ý nghĩ rằng, việc tấn công Paris càng trì hoãn thì tôi càng có cơ hội tham gia vào trận chiến đó; và công việc càng gian nan, vinh quang càng lớn lao.
Những lời tiên đoán của chủ tôi đã trở thành sự thật quá đỗi tàn nhẫn. Nhà vua được làm lễ xức dầu vào ngày 16 tháng Bảy, khi đó Paris không có lính Anh, chỉ có quân Burgundian đồn trú. Nhưng ngay sau khi được xức dầu, nhà vua bắt đầu đàm phán với phe Burgundy, và thế là họ kéo dài thời gian, cho đến ngày 25 tháng Bảy, một đội quân hùng mạnh của người Anh đã tiến vào Paris. Không biết nhuệ khí của chúng có cao hay không, nhưng trên lá cờ của chúng, chúng đã treo một con suốt chỉ và vẽ lên lá cờ những dòng chữ: "Ores viegne la Belle" – nghĩa là "Hãy để Thánh Nữ xinh đẹp đến đây, chúng ta sẽ đưa bà ta bông để kéo sợi." Tiếp đó, chúng tôi nghe tin, và không muốn tin chút nào, rằng một lệnh đình chiến mới kéo dài mười lăm ngày nữa đã được ký với phe Burgundy. Thánh Nữ thực sự đã công khai nói rằng bà không thích lệnh đình chiến này, và bà chỉ tuân theo vì danh dự của nhà vua, điều mà bà coi trọng hơn cả mạng sống của mình, như bà đã chứng minh vào cuối đời.
Sau đó là những cuộc hành quân, tới lui khắp vùng Isle of France. Bedford rời Paris để chiến đấu với nhà vua, nhưng rồi lại từ chối giao chiến, mặc dù Thánh Nữ đã phi ngựa đến tận rào chắn của quân Anh, dùng kiếm chém vào chúng và thách thức quân Anh ra mặt nếu chúng còn là đàn ông. Thế là sau vài cuộc đụng độ nhỏ, quân Anh rút về Paris. Trong khi đó, một số thành phố trung thành của ngài – vốn từng nằm trong tay quân Anh – đã đầu hàng nhà vua, hay đúng hơn là đầu hàng Thánh Nữ. Trong số đó, đáng chú ý nhất là Compiègne, một thành phố lớn ngang ngửa Orleans. Nó đã nhiều lần bị chiếm rồi lại giành lại trong các cuộc chiến, nhưng lần này, các thị dân thề rằng họ thà chết cùng vợ con còn hơn là mở cổng cho quân Anh một lần nữa. Và họ đã giữ lời thề đó rất tốt, như sẽ được thấy ở phần sau.