Tu sĩ vùng Fife

Lượt đọc: 20 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 20
—VỀ NÀNG TRINH NỮ VÀ NHỮNG CHÚ CHIM

❊ ❊ ❊

Chúng tôi cưỡi ngựa về hướng bắc, đi qua những vùng đất tôi từng ghé qua để tới Orleans, rồi tiến vào một vùng đất xa lạ với tôi lúc bấy giờ. Chúng tôi đi qua Lagny với ý định đến Senlis, nơi chúng tôi tin rằng nhà vua đang đóng quân. Cả vùng này, nằm gần Paris và dưới quyền kiểm soát của người Anh, trông trù phú và yên bình. Lúa đã gặt xong, dựng thành từng bó khắp cánh đồng, chẳng biết là để nuôi người Anh hay người Pháp nữa. Đất đai chìm trong một vẻ im lìm, đầy trông đợi và sợ hãi, không ai biết mọi sự ở Paris sẽ ra sao. Tuy nhiên, trong chính tuần lễ chúng tôi đến, vị Tu viện trưởng Lagny đã tới St. Denis, trao lại thị trấn xinh đẹp của mình cho Duc d’Alençon để dâng lên nhà vua. Vị Công tước khôi ngô ấy đã phái Messire Ambrose de Loré, một hiệp sĩ rất đỗi cừ khôi, cùng với Messire Jehan Foucault và nhiều binh lính tới đó.

Chúng tôi được đưa đến gặp Messire Ambrose để trao đổi tin tức. Tôi nhớ rõ mình đã ngã khỏi yên ngựa ngay tại cửa phòng ông, hai chân run rẩy không đứng vững nổi vì kiệt sức sau chặng đường dài và hối hả. Tôi chưa từng cưỡi ngựa đi xa và nhanh đến thế. Dù Thomas Scott và tôi luôn có sẵn những con ngựa yên cương đầy đủ ở mỗi chặng, tôi vẫn trả con ngựa mình thuê lại cho chủ quán trọ “Hanging Sword” ngay từ chặng đầu tiên. Phải vất vả lắm tôi mới leo được lên lầu đến căn phòng của Messire Ambrose. Ông bảo chúng tôi ngồi xuống, gọi rượu mời. Thomas Scott uống rất hào hứng, còn tôi thì không dám đụng tới vì sợ rằng nếu uống vào, đôi chân sẽ hoàn toàn đình công.

Khi Thomas kể rằng cả vùng này đều đã quy thuận nhà vua, và mục đích của chúng tôi là tới Senlis để gặp ngài, vị hiệp sĩ khuyên chúng tôi nên nhanh chân tới St. Denis thì hơn. “Vì có lẽ ngày mai hoặc ngày kia, nhà vua sẽ đến đó, và cuộc tấn công vào Paris sẽ diễn ra, bất kể kết quả thế nào.”

Ông chúc chúng tôi thượng lộ bình an, nhưng nhìn nét mặt ông, tôi biết ông chẳng mấy hy vọng. Đến bữa tối, nơi chúng tôi ngồi cùng một vài binh lính của ông, tôi thấy rõ họ không mấy phấn chấn. Lúc này, chúng tôi mới nghe tin nàng Trinh Nữ, vì quá sốt ruột trước những trì hoãn kéo dài, đã giục Duc d’Alençon cùng mình rời Compiègne “để nhìn Paris gần hơn trước đây.” Duc d’Alençon, người gần đây đã lãng quên lòng trung thành thời trẻ tuổi một cách kỳ lạ, khi ấy rất sẵn lòng hành quân cùng nàng, vì họ là đôi bạn thân thiết nhất đời. Do đó, họ đã đi qua Senlis, nơi được tăng viện thêm quân lính, rồi đến ngày hành quân thứ ba, họ tới St. Denis và đóng quân tại đó. Đây chính là nơi các vị vua nước Pháp đã được an táng suốt tám trăm năm qua trong tu viện lớn.

“Nom Dieu!” một trong những người ngồi cùng bàn thốt lên. “Anh có thể nghĩ rằng nhà vua của chúng ta chẳng hề vội vã muốn thấy nơi tổ tiên mình nằm xuống. Vì D’Alençon cứ chạy đi chạy lại Senlis, cố đánh thức nhà vua, thúc giục ngài cùng quân đội tới St. Denis để tiến hành tấn công. Nhưng cứ như thể người ta đang mời ngài đi dự đám tang chính mình thay vì một trận giao tranh tử tế, ngài chỉ toàn đưa ra lý do thoái thác. Những trận đụng độ dưới chân tường thành Paris và ngay tại các cổng thành diễn ra hằng ngày, nàng Trinh Nữ thì chạy ngược chạy xuôi, cân nhắc xem đâu là nơi tốt nhất để đánh phá. Nhưng nhà vua vẫn chần chừ, và nếu không có ngài cùng quân đội, họ chẳng thể làm nên trò trống gì. Dù vậy, ngài bắt buộc phải tới, dù có phải bị trói và chở đến trên xe bò. Vì thế, nếu các anh muốn góp mặt trong chuyện sắp tới, thì đừng nán lại đây lâu làm gì.”

Tôi cũng nghĩ vậy, và vì dự đoán nhà vua sẽ sớm tới St. Denis, sáng hôm sau chúng tôi nhanh chóng lên đường. Bên trái chúng tôi, như một đám mây lớn, là làn khói từ Paris, khiến tôi hiểu ra đó quả là một thành phố vĩ đại, lớn hơn nhiều so với Orleans. Phía trước, xa xa, những ngọn tháp cao của nhà nguyện St. Denis xuất hiện như kim chỉ nam! Chúng tôi còn nghe cả tiếng pháo nổ, thế nên càng thúc ngựa đi nhanh hơn. Khoảng sáu giờ chiều, đúng vào đêm trước ngày lễ Giáng sinh của Đức Mẹ, chúng tôi đến được cổng thị trấn. Ở đây, chúng tôi thấy dòng người đông đúc kẻ đến người đi, vài người đang khiêng thương binh, vì hôm đó đã có một trận đụng độ ở một trong các cổng thành Paris, nơi phát ra tiếng đại bác và súng hỏa mai, mà chúng tôi chẳng giành được mấy lợi thế.

Tại cổng St. Denis, chúng tôi hỏi thăm doanh trại của lính đánh thuê người Scotland, và được chỉ đường đến nhà nguyện nên chẳng cần người dẫn. Nhưng khi đi trên phố, chúng tôi thấy phụ nữ rướn người từ cửa sổ, cười cợt với lính tráng và vẫy gọi họ. Bên cửa các quán rượu, nhiều kẻ đang ngồi uống bia cùng các cô gái, những kẻ khác thì đang chơi súc sắc. Chúng tôi nghe đầy những lời nguyền rủa và từ ngữ thô tục, điều vốn dĩ bình thường trong quân ngũ. Thật tình, tôi thấy rõ đây không phải đội quân của những người đã xưng tội sạch sẽ và sống đời thánh thiện như những người từng theo nàng Trinh Nữ từ Blois tới Orleans. Thay vì các linh mục, ở đây chỉ có gái điếm; thay vì các bài thánh ca là những bài hát tục tĩu. Quân lính đổ về từ khắp nơi: toán cướp, người Breton, người Đức, Ý, Tây Ban Nha, tất cả đều nói tiếng của riêng mình, thô lỗ, hèn hạ và hỗn loạn. Chúng tôi cố len qua đám đông, nghe đủ thứ lời nguyền rủa nếu ngựa vô tình dẫm gần ai đó, và thấy cả những lưỡi dao rút ra.

Thật nhẹ nhõm khi thoát ra khỏi đám đông để đến quảng trường lớn, nơi sắc đỏ, trắng và xanh của người Scotland chúng tôi là màu sắc chủ đạo, và không khí cũng bớt hôi hám hơn trong các con ngõ nhỏ. Cao trên đầu chúng tôi, những ngọn tháp lớn của tu viện tỏa ánh vàng đỏ trong nắng chiều tàn, trong khi phía dưới, mọi thứ đều nâu sẫm, mờ mịt bởi khói. Tôi đã có thể đứng ngắm những ngọn tháp đó rất lâu mà không chán. Chúng được chạm khắc hình các vị thánh tử vì đạo và các vị thánh, tựa như những thiên thần mà Jacob đã thấy đang leo lên chiếc thang dẫn tới thiên đàng. Đội quân thánh thiện ấy dường như đang thoát khỏi sự nhơ bẩn của đường phố, bóng tối và sự ồn ào để hướng thẳng tới những đỉnh cao rực rỡ của Thành phố Chúa Trời. Dưới đó là hài cốt thiêng liêng của tất cả các vị vua nước Pháp, từ thời St. Dagobert đến tận thời chúng ta, tất cả đều nằm yên nghỉ ở nơi không ai có thể làm phiền, cho đến khi tiếng kèn của các thiên thần vang lên và Ngày Phán xét đến gần. Đó thực sự là một nơi trang nghiêm để một tín đồ Cơ Đốc chiêm nghiệm. Tôi đang đứng ngẩn ngơ như trong mộng thì có ai đó giật tay áo, quay lại, tôi thấy Randal Rutherford đang nhe răng cười.

“Chào mừng!” anh reo lên. “Cậu đi nhanh đấy, bắt đầu một cuộc chiến còn hơn là kết thúc một bữa tiệc. Và, thề với St. Boswell, ngày mai chúng ta sẽ chiến thôi, anh bạn! Nhà vua đã tới hôm nay—muộn còn hơn không—và ngày mai chúng ta sẽ cùng nàng Trinh Nữ ra trận, cho đám người đó nếm thử thép của người Scotland.”

“Còn nàng Trinh Nữ, nàng ấy đâu rồi, Randal?”

“Nàng ở bên kia cổng Paris, chỗ cối xay gió mà nàng đã giành lại từ tay người Anh vài ngày trước.”

“Sao nàng không ở trong thị trấn?” tôi hỏi.

“Có lẽ vì nàng thích ở gần nơi mình làm việc, và ước gì ai cũng được như nàng. Có lẽ nàng không ưa gì cảnh tượng mấy cô ả mà nàng từng đuổi khỏi doanh trại, nhất là bây giờ, khi nàng vừa làm gãy thanh Thánh kiếm Fierbois vì trót quất một cô ả bằng sống kiếm.”

“Tôi không thích điềm báo này,” tôi nói.

“Điềm gở chỉ ám những ai sợ nó thôi,” Randal dùng giọng quê nhà đáp. “Mà nàng Trinh Nữ đâu phải hạng đó. ‘Tốt thôi,’ nàng nói, ‘tốt nhất là đừng đặt mạng sống mình vào một lưỡi kiếm dễ gãy như vậy,’ và trong trận đụng độ tiếp theo, nàng đã tự tay bắt được một tên lính Burgundy, lấy kiếm của hắn, đó là một thanh kiếm chém và đâm rất tốt. Nhưng thôi,” anh giục, “nếu cậu muốn gặp nàng Trinh Nữ, chỉ cần đi bộ tới cổng Paris, rồi đến cối xay gió gần đó. Tôi sẽ đưa ngựa của cậu vào chuồng cùng chỗ với ngựa chúng tôi. Còn chỗ ngủ, lính Scotland chúng tôi sống khỏe chẳng kém gì các vị vua nước Pháp, vì tối nay chúng tôi sẽ ngủ trong nhà nguyện.”

Tôi xuống ngựa, anh ôm lấy tôi, rồi giữ vai đẩy ra xa, cười vang:

“Norman, cậu chưa bao giờ là người cao lớn, nhưng trông cậu vẫn rắn rỏi, khỏe khoắn, cứng cáp như con dao găm của người Highland vậy. Giờ thì đi làm việc của cậu đi, xong xuôi thì tìm tôi ở quán ‘The Crane’ đằng kia nhé,” anh chỉ tay qua quảng trường về phía một quán rượu, “tôi có điều này cần nói nhỏ với cậu, điều mà ít người biết và nghe xong cậu sẽ vui lắm. Ngày mai, chúng ta là người tiên phong.”

Thế rồi, anh vừa cười vừa dắt ngựa của tôi đi, miệng huýt sáo bài “Hey, tuttie, tattie!”

Quả thực, đó là gương mặt vui vẻ nhất mà tôi thấy, và lời nói của anh đã tiếp thêm can đảm cho tôi. Ngược lại, với những người khác, trừ đám người Scotland chúng tôi ra, tôi chẳng thấy ưa gì những gì mình nhìn thấy và nghe thấy.

Tôi chỉ việc đi bộ xuống phố, len lỏi qua đám đông là người hầu, trang thiếu niên, lính tráng và cung thủ cho tới khi tìm thấy Cổng Paris, nơi có thể nhìn rõ cối xay gió. Đó là một nơi cũ kỹ như những công trình ta thường thấy ở miền Bắc nước Pháp, đơn giản, kiên cố, với những bức tường đỏ điểm xuyết rêu vàng, và mái ngói xám cao. Lá cờ của nàng Trinh Nữ, thêu hình Chim Bồ Câu Thánh và Thánh Danh, rủ xuống trên cổng. Bên cạnh cửa, trên bậc đá lên ngựa, cậu bé Louis des Coutes, thị tùng của nàng, đang ngồi đó. Cậu là một thiếu niên mười lăm tuổi, bản tính khá vui vẻ, thường ăn mặc chải chuốt và để mái tóc vàng dài. Nhưng giờ đây, cậu ngồi thẫn thờ trên bậc đá, dùng dao găm gọt một mẩu gỗ.

“Vậy là anh đã đến để góp sức,” cậu nói khi chúng tôi chào nhau. “Thề có Chúa, tôi hy vọng anh mang theo vận may, và mang lại nhiều niềm vui cho chủ nhân của tôi, vì chúng tôi đang cần tất cả những gì anh có thể đem tới.”

“Sao vậy, mọi người bị sao thế?” tôi hỏi. “Tôi chẳng thấy khuôn mặt nào đầy hy vọng cả, ngoại trừ một người đồng hương của tôi. Cậu không sợ bị gõ vào cái đầu xoăn tít của mình đấy chứ?”

“Xoăn hay không thì đầu tôi cũng biết là không nên đập vào tường thành Paris. Tường dày và cao lắm, cửa sổ các nhà trên thành đều chất đầy đá để thả xuống đầu chúng tôi. Tôi cũng chẳng hiểu tại sao nữa, nhưng mọi chuyện chẳng ổn chút nào. Tôi chưa bao giờ thấy Nàng,” cậu gật đầu về phía cổng mở, “buồn bã đến thế. Khi có đánh trận, nàng mới là chính mình, nàng luôn là người thức dậy sớm nhất và đi ngủ muộn nhất. Nhưng trong những ngày chờ đợi ở đây, nàng dành bao nhiêu giờ cầu nguyện trong nhà nguyện, nơi các vị vua đã khuất đang nằm, vậy mà khi bước ra, mặt nàng chẳng chút vui tươi. Khi chúng tôi còn ở Chinon, khuôn mặt nàng thường tỏa sáng một cách kỳ lạ mỗi khi cầu nguyện xong tại nhà nguyện ở Couldray. Nhưng giờ thì khác rồi. Hơn nữa, hôm nay chúng tôi thấy Paris rất gần, và trên tường thành có quá nhiều thánh giá đỏ của St. George. Mà ngày mai là Lễ Đức Mẹ, đâu phải ngày cho đổ máu.”

“Kẻ nhát gan!” tôi nói (thực vậy, sau cuộc tấn công Paris, Louis des Coutes đã bỏ về và không còn đi cùng nàng Trinh Nữ nữa). “Ngày lành thì việc càng lành! Tôi vào trong được chứ?”

“Tôi sẽ đi cùng anh,” cậu nói, “vì nàng đã bảo là anh sẽ đến, và dặn tôi dẫn anh tới gặp nàng.”

Chúng tôi cùng bước qua cổng, trước mắt là khoảng sân trang trại, đầy rác rưởi. Từ trong chuồng bò, chúng tôi nghe tiếng sữa chảy róc rách vào xô, vì mấy người phụ nữ đang vắt sữa bò. Cả hai chúng tôi đứng sững lại vì kinh ngạc, vì chúng tôi nhìn thấy nàng Trinh Nữ như chưa từng thấy bao giờ. Nàng không đội mũ, nhưng vẫn mặc bộ giáp, tay cầm một vốc ngũ cốc. Tất cả lũ chim chóc dường như đều vây quanh nàng, chờ đợi thức ăn. Nhưng nàng không ném hạt cho chúng, mà đứng im như một bức tượng tạc. Và điều kỳ diệu là, một con bồ câu đang đậu trên vai nàng, một con hoạ mi đang rúc vào ngực nàng, trong khi nhiều loài chim khác bay lượn xung quanh, chủ yếu là lũ bồ câu với bộ lông óng ả, chúng bay lượn trìu mến, thỉnh thoảng khẽ chạm vào nàng bằng đôi cánh. Đã nhiều lần tôi nghe người ta kể rằng khi còn bé, chim hoang dã thường đến rúc vào lòng nàng Trinh Nữ, nhưng tôi chưa bao giờ tin câu chuyện đó. Vậy mà giờ đây, chính mắt tôi đã chứng kiến điều này, một cảnh tượng đẹp đẽ và kỳ diệu. Nàng trông thật xinh đẹp với mái đầu không đội mũ, lũ chim hoang dã và thuần hóa bay nhảy quanh và trên đầu nàng, lũ bồ câu gù nhẹ bằng giọng êm ái. Rồi đôi môi nàng mấp máy, và nàng cất tiếng—

“Très doulx Dieu, en l’onneur de vostre saincte passion, je vous requier, se vous me aimes, que vous me revelez ce que je doy faire demain pour vostre gloire!”

Rồi nàng lại im lặng, và tôi cảm thấy mình không nên nán lại ngắm nhìn mầu nhiệm thiêng liêng đó thêm nữa. Tôi làm dấu thánh, đặt tay lên vai cậu thị tùng, và chúng tôi lặng lẽ rời khỏi nơi đó.

“Cậu đã bao giờ thấy cảnh này chưa?” tôi thì thầm khi chúng tôi đã ra khỏi sân trang trại.

“Chưa bao giờ,” cậu đáp, run rẩy, “dù có lần tôi thấy một chuyện lạ lùng hơn thế.”

“Chuyện đó là gì vậy?”

“Không, tôi đã kể chuyện đó với nàng, và nàng bắt tôi thề không bao giờ tiết lộ cho bất cứ ai, trừ khi xưng tội. Nhưng nàng không giống những người phụ nữ khác.”

Cậu ấy nghĩ gì tôi không rõ, nhưng tôi chúc cậu ngủ ngon rồi quay lại thị trấn, nơi ánh đèn bắt đầu leo lét sau các khung cửa sổ. Trong khoảng không gian bên trong cổng thành, rất nhiều xe bò đã tập kết, chở đầy những bó củi dùng để lấp đầy hào dưới chân tường Paris, cùng những tấm ván để đặt lên trên các bó củi, rồi vượt hào tiến hành tấn công.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.