Trong bữa tối, khi họ gọi tôi ra ăn, chủ nhân đã cố tỏ thái độ niềm nở nhất có thể. Tôi cảm thấy thật vui sướng khi lại được ăn trên những chiếc đĩa sạch sẽ, trải khăn trải bàn trắng tinh điểm xuyết vài nhành hoa xuân.
Vì đang là mùa Chay, chúng tôi ăn những món mà họ gọi là thanh đạm: cá đánh bắt từ dòng Vienne dưới chân thị trấn và trứng được chế biến theo nhiều kiểu khác nhau. Tất cả đều ngon tuyệt, bởi rượu và món ăn ở Chinon vốn nổi tiếng khắp nước Pháp. Theo bổn phận, tôi hầu hạ chủ nhân và cô giúp việc Elliot. Cô nàng chẳng bao giờ chịu giữ im lặng, cứ liến thoắng kể tất cả những gì nghe ngóng được từ khi vào thị trấn: nào là Pucelle (Nàng Trinh Nữ) đã xuống ngựa ở đâu (hình như là ở gờ đá của một cái giếng), rồi nàng trọ lại nhà bà tốt bụng nào, và tại sao đến giờ vẫn chưa có tin tức gì từ lâu đài hay từ Nhà vua gửi tới nàng. Ngắm nhìn và lắng nghe cô ấy thật sự là một niềm vui lớn. Cha của Elliot thỉnh thoảng trêu chọc cô, nhưng theo cách đầy yêu thương. Có lần cô bật khóc vì mấy lời đùa cợt của cha, nhưng rồi lại tươi cười rạng rỡ ngay khi ông quỳ xuống, chìa con dao ra và vạch áo để lộ ngực như muốn chịu tội. Tôi chưa từng thấy tình cha con nào thắm thiết đến vậy, trải nghiệm của chính tôi thì ngược lại hoàn toàn. Thế nhưng với các chị em của tôi, cha tôi lại luôn rất dịu dàng. Vì tôi thường thấy, các bà mẹ thường thương con trai nhất và các ông bố thì ngược lại, cha và con gái cũng vậy. Còn về mẹ tôi, tôi đã kể ở phần đầu câu chuyện này rồi.
Khi bữa tối kết thúc và mọi thứ đã gọn gàng, tôi không buồn đi ngủ vì đã ngủ đủ giấc từ trước. Nhưng cô nàng Elliot lại rời đi sớm, khiến căn phòng như mất đi ánh sáng.
Bên bếp lửa, chủ nhân bắt đầu bàn luận về tình hình đất nước, đúng như cái cách mà đám thị dân vẫn hay làm. Tôi mới bảo rằng nếu là Thái tử, tôi sẽ không ở lại lâu đài Chinon làm gì, mà sẽ “thúc ngựa phi nước đại, dây cương ghì chặt tay” như câu hát cổ về Trận Harlaw, rồi thẳng tiến tới Orleans. Ông đáp lại rằng ông cũng mong là thế, rồi trêu tôi rằng ước gì tôi chính là Thái tử.
“Không phải Thái tử của chúng ta hèn nhát đâu, dòng máu của Thánh Louis không thể suy đồi đến thế được, nhưng cậu ta hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của Sieur de La Trémouille. Hắn được áp đặt cho Thái tử từ khi còn trẻ và đến nay vẫn là chủ, hay như chúng ta gọi là quan giám hộ của cậu ta. Gã quý tộc này thuộc loại người luôn muốn đi đêm với cả hai phe: phe Burgundy và phe Armagnac, chẳng ai biết thực tâm hắn nghiêng về bên nào. Tại Azincour, nghe nói hắn cũng ra dáng một người lính khá ra trò. Nhưng hắn ngày càng béo ục ịch, chỉ ham mê đàn bà, rượu chè và sự an nhàn. Nếu Nhà vua thực sự hợp lực cùng Bastard thành Orleans, Xaintrailles và các vị chỉ huy khác – những người vốn căm ghét La Trémouille – thì quyền lực của hắn cùng tên Tể tướng, Tổng giám mục vùng Rheims, coi như chấm hết. Vì vậy, hai kẻ đó luôn tìm cách hòa giải với phe Burgundy. Nhưng nhìn xem, vị công tước kia còn đang nợ máu người cha với Nhà vua chúng ta, nên chúng có vá víu thế nào đi nữa cũng chẳng bao giờ có hòa bình được. Trong khi các chỉ huy thì gào thét ‘Tiến lên!’, còn Tổng giám mục và La Trémouille lại quát ‘Lùi lại!’. Đến lúc đó, Orleans sẽ thất thủ, Thái tử muốn chạy đi đâu thì chạy, còn nước Pháp sẽ mất sạch. Còn riêng ta, ta chỉ cầu nguyện cho ta và cô con gái nhỏ được trở về nhà, dưới gốc cây gai già ở bãi cỏ Polwarth, nơi ta từng có những ngày tháng vui vẻ xưa kia.”
Nói đến đó, ông im lặng, chắc hẳn là đang nhớ về quê nhà, giống như tôi đang nhớ về nơi mình ở, về căn nhà Pitcullo, cây tần bì trước cửa và bãi biển phía sau những cánh đồng cày xới. Sau một lúc yên lặng, ông về giường nghỉ, tôi cũng vậy. Tôi nằm đó hồi lâu không ngủ được, trong bóng tối, hình ảnh gương mặt Elliot, đôi mắt xanh biếc cùng phong thái tinh nghịch, thay đổi thất thường của cô cứ hiện lên trong tâm trí.
Sáng sớm, tôi bị đánh thức bởi tiếng cô đi lại trong nhà. Sau khi mặc quần áo và rời khỏi căn phòng nhỏ, tôi thấy cô trong gian chính, chắc vừa đi lễ sớm về. Cô chẳng mảy may để ý đến tôi, chỉ đưa cho tôi chút bánh mì và rượu giống như phần ăn của cô và cha mình. Cô trông bớt vui tươi, bớt bướng bỉnh hơn mọi khi, dường như có điều gì đó đang đè nặng tâm trí. Khi cha hỏi liệu mấy bà tám ở cửa nhà thờ có cho biết thêm tin tức gì về Nàng Trinh Nữ không, cô chỉ cau mày rồi lẳng lặng rời đi. Sau đó, chủ nhân dẫn tôi ra cửa tiệm và bảo tôi cho ông xem những nét chữ của mình. Ông khá ưng ý, rồi lại bắt tôi mài màu theo ý ông. Ông đi lo việc khác, còn tôi phải trông coi cửa tiệm, luôn phải cung kính cúi chào bất cứ gã tiểu đồng xấc xược nào từ lâu đài xuống với đơn hàng của chủ hắn.
Không ít lần tay tôi đã nắm chặt lấy cán dao găm, và càng nhiều lần hơn thế, tôi ước mình lại được lang thang trên con đường tự do để thoát khỏi đám người tồi tệ này. Chắc chắn Nàng Trinh Nữ xứ Lorraine kia, dù nàng là ai đi nữa, cũng chẳng khao khát cái ngày nàng được giương cao lá cờ và tiến quân tới Orleans nhiều bằng tôi. Sự nô dịch này, cái việc phải quét màu lên nền những lá cờ cho chủ tô vẽ, phải chép những cuốn sách Giờ kinh hay Sách lễ, rồi phải chịu đựng sự ngạo mạn của những khách hàng còn chẳng bằng tôi, tất cả thật quá đỗi bức bối. Nếu không vì muốn được nhìn thấy Elliot, tôi đã tự dìm mình xuống dòng Vienne từ lâu rồi. Thế nhưng, cô đã trở nên trầm tính hẳn, thỉnh thoảng lại buồn bã. Có vẻ như chẳng có tin tốt lành nào về Nàng Trinh Nữ mà cô yêu quý cả, vì Nhà vua không chịu gặp nàng, và mọi người (dường như là vậy), trừ những kẻ từng theo nàng, đều chế giễu Pucelle là một con nhỏ hung dữ, bị điên rồ. Tuy nhiên, hai quý ông hộ tống nàng vẫn rất kiên định. Tên họ là Jean de Metz và Bertrand de Poulengy, những vị hiệp sĩ đáng kính.
Với tôi, Elliot thường chẳng coi trọng hơn con khỉ nhỏ của cô – thứ giờ đang được cưng chiều hết mực và béo tròn ra. Khi chỉ có hai cha con, cô hay đùa và gọi con khỉ đó là La Trémouille.
Dù vậy, như bao gã trai trẻ, tôi luôn tìm mọi cách để phục vụ và lấy lòng cô. Cô rất thích nghe kể về Scotland, quê hương của mình mà cô chưa từng đặt chân tới, còn tôi thì cũng thích được kể cho cô nghe. Đôi khi, tôi lại bảo những cô gái ở quê mình xinh đẹp thế nào, và bất cứ ai gặp cô cũng đều biết cô là người Scotland, dù giọng nói tiếng Pháp của cô chẳng ai đoán ra được. Và vì biết cô yêu hoa dại, tôi thường đi tìm rồi mang về cho cô. Tôi cũng dẫn chuyện để cô nói về những cuốn tiểu thuyết lãng mạn mà cô yêu thích, giống như tôi vậy, về những chàng tiểu đồng yêu các nữ hoàng, và tất cả những chủ đề mà những người trẻ tuổi thường bàn tán. Có lúc cô chăm chú lắng nghe, có lúc lại tỏ vẻ kiêu kỳ, như thể tâm trí cô đang ở nơi nào đó rất xa. Nhiều hiệp sĩ trẻ ghé tiệm của chúng tôi, họ nhìn tôi với vẻ khó chịu khi tôi phục vụ, rồi ánh mắt lại dán chặt vào cánh cửa trong nhà, chờ đợi Elliot – người mà họ hiếm khi được nhìn thấy.
Thế là tôi rơi vào cảnh phục vụ kép. Trước khi gặp Huynh Thomas, tôi vốn tự do cả về tâm hồn lẫn hành động. Nhưng nếu việc làm cho chủ khiến tôi khó chịu, thì ở công việc kia, tôi lại tìm thấy sự an ủi mỗi khi được tâm sự cùng Elliot về quê hương và những hy vọng của cô dành cho Nàng Trinh Nữ. Hy vọng của riêng tôi thì chẳng cao xa gì, tôi cũng chẳng thấy dấu hiệu nào cho thấy cô dành cho tôi sự ưu ái đặc biệt, dù tôi rất vui khi được thường xuyên ở bên cô. Thật lòng mà nói, tôi lấy đâu ra hy vọng chứ, khi còn quá trẻ, nghèo hèn, và địa vị chẳng hơn gì một cậu học việc? Lòng tôi dằn vặt vô cùng bởi những nỗi sợ đó, chủ yếu là vì chúng tôi chẳng nhận được tin tức nào cho thấy Nàng Trinh Nữ đã được Thái tử chấp thuận, và cái ngày nàng lên đường, ngày tôi được giải thoát khỏi cái nghề tô vẽ hèn kém này, vẫn còn xa vời.
Chẳng hiểu sao, có lẽ do tôi tỏ ra quá tự phụ so với vị thế một cậu học việc, hoặc vì lý do nào đó, mà Elliot bắt đầu tránh mặt tôi. Cô thường đi cầu nguyện ở nhà thờ hơn là ở nhà, hoặc nếu có ở nhà thì luôn bận rộn đủ việc, khiến tôi khó mà bắt chuyện được với cô. Nhận thấy thái độ đó, tôi cũng thu mình lại, vừa kiêu hãnh vừa đau khổ tột cùng, khao khát hơn bao giờ hết được trở thành một chiến binh để khẳng định bản thân.
Một ngày nọ, từ sớm tinh mơ, khi tôi đang một mình chép cuốn thánh vịnh trong phòng, Elliot bước vào tìm cha. Thấy cô, tôi đứng dậy, ngả mũ chào và nói ngắn gọn rằng chủ đã đi vắng. Cô lướt quanh phòng, ngó nghiêng thứ này thứ kia, còn tôi đứng lặng im, cảm thấy cô đang đối xử với mình chẳng mấy coi trọng dòng dõi của tôi.
Đột nhiên, cô nói mà không hề quay lại, vì đang đứng cạnh bàn ngắm những bức tranh trong cuốn Sách Giờ kinh:
“Tôi đã gặp nàng!”
“Pucelle ư? Nàng Trinh Nữ đó sao, thưa tiểu thư?”
“Tôi đã gặp, đã nói chuyện và nghe giọng nàng” – giọng cô nghẹn lại, tôi đoán cô sắp khóc. “Tôi đã lên khu vực lâu đài, đến tòa tháp Coudraye,” cô nói, “vì biết nàng trọ ngay gần đó, ở nhà một người phụ nữ tốt bụng. Tôi bước vào nhà nguyện St. Martin trên vách đá và nghe thấy tiếng ai đó đang cầu nguyện trước tượng Đức Mẹ. Giọng nói đó chính xác như những gì anh đã mô tả hôm ấy – giọng nói ngọt ngào nhất thế gian. Tôi quỳ bên cạnh nàng, cùng cầu nguyện cho nàng và cho nước Pháp. Nàng đặt tay lên mái tóc tôi – tóc nàng màu đen, cắt ngắn kiểu ‘en ronde’ như đàn ông. Đúng như người ta nói, nàng mặc trang phục nam giới. Chúng tôi cùng bước ra, tôi nắm lấy tay nàng và nói: ‘Tôi tin nàng; dù không ai khác tin, nhưng tôi vẫn tin.’ Rồi nàng khóc, nàng hôn tôi; nàng sẽ tới thăm tôi ở đây vào ngày mai, nàng là con gái của Chúa—”
Cô nức nở một tiếng dài, đập mạnh tay xuống bàn. Rồi, vẫn quay lưng về phía tôi, cô vội vã chạy ra khỏi phòng. Tôi kinh ngạc – một cô gái thường ngày trông nhẹ nhàng, gần đây lại tỏ vẻ khinh khỉnh, vậy mà giờ lại bộc lộ cảm xúc mãnh liệt đến thế. Dù vậy, chính tôi là người cô đã thổ lộ – chính tôi là người cô đã mở lòng. Giờ tôi đoán rằng, nếu muốn chiếm được trái tim cô, tôi chỉ có thể thông qua Nàng Trinh Nữ – người mà tâm trí cô đang hướng về một cách kỳ lạ. Vì vậy, tôi cầu nguyện rằng, nếu là ý Chúa, xin Người hãy giúp đỡ Nàng Trinh Nữ, cho phép tôi trở thành người phục vụ trung thành của nàng, và cuối cùng mang tôi đến với khao khát của chính mình.
Tôi cũng mơ mộng, như bao gã trai trẻ từng đọc nhiều tiểu thuyết, về việc mình được phong hiệp sĩ nhờ những chiến công hiển hách, đội chiếc mũ chiến cài tín vật của người thương, và đánh bại Talbot, hay Fastolf, hay Glasdale trong một trận đại thắng cuối cùng cho nước Pháp.
Rồi, hiện lên trong mắt tôi như một bức tranh là hai đứa trẻ, vì họ cũng chẳng hơn gì trẻ con, Elliot và Nàng Trinh Nữ, quỳ bên nhau trong nhà nguyện St. Martin, mái tóc vàng và mái tóc đen hòa quyện; và hai người họ lẻ loi thế kia thì làm được gì trước thế giới này và hoàng tử của thế gian này? Than ôi, lời cầu nguyện giúp ích cho chúng ta nhiều biết bao, mà cũng ít ỏi biết chừng nào! Những suy nghĩ đó lởn vởn trong đầu tôi cả ngày, khi tôi phục vụ khách, trả lời họ và mang hàng của chủ đi khắp thị trấn, lên tận tòa lâu đài trên vách đá, nơi đám lính tráng và lính gác giờ đã biết mặt tôi rõ lắm, còn đám cung thủ Scotland thì đối xử với tôi rất tử tế. Còn Elliot, cô nàng trở lại là chính mình, thậm chí còn vui vẻ hơn thường lệ khi ở bên cha. Trước mặt ông, cô chẳng hề hé nửa lời về cuộc gặp gỡ dưới hầm nhà nguyện St. Martin, dù cô đã nói với tôi một cách cởi mở như vậy. Điều này mang lại cho tôi chút hy vọng. Nhưng khi tôi định hỏi, cô chỉ nhìn tôi bằng ánh mắt khiến tôi bối rối, rồi quay đi đùa nghịch với con khỉ nhỏ. Thế là tôi đi ngủ trong tâm trạng hoang mang và nặng nề, như một kẻ chưa từng hiểu biết về cách cư xử của phụ nữ – không, ngay cả trong cuộc đời thế tục, tôi chưa bao giờ hiểu được họ muốn gì. Nếu khôn ngoan hơn về đường tình trường thì đời tôi chắc đã hạnh phúc hơn. Nhưng thường thì, khi ta học được bài học, thì kiến thức ấy đã quá muộn màng.
Ngày hôm sau, chủ nhân có việc tại lâu đài với một vị lãnh chúa nọ và đưa tôi đi cùng để phụ bê vác hàng hóa. Tòa lâu đài này là nơi tôi rất thích, nó cổ kính vô cùng, được xây dựng từ thời La Mã còn thống trị vùng đất này; nó to lớn và kiên cố đến nỗi lâu đài của Giám mục St. Andrews chúng tôi chỉ như một túp lều so với nó. Từ đỉnh đồi có thể nhìn bao quát toàn bộ thị trấn và thung lũng Vienne, khung cảnh mà tôi rất thích ngắm nhìn. Chủ nhân đi vào qua cây cầu rút, nằm cao trên con hào sâu đến mức tôi tin rằng chẳng kẻ thù nào có thể lấp đầy để vượt qua mà tấn công tường thành. Chủ nhân khập khiễng bước lên đồi, có vẻ đã thấm mệt, nhưng nhanh chóng vào lâu đài qua cổng tháp chuông. Còn tôi đợi ông ở phía bên kia cầu, rảnh rỗi ném những mẩu vụn bánh mì cho lũ thiên nga bơi dưới hào.
Trên cầu rút, người lính canh là một gã lính Pháp, một thanh niên bằng tuổi tôi, đang cầm một cây fauchard dài – thứ mà chúng tôi gọi là giáo dài hoặc kích, một loại vũ khí khá giống rìu Lochaber của người miền núi. Những binh lính khác, cả người Pháp, Scotland, Tây Ban Nha, Đức – một đám người hỗn tạp – đang tụ tập và chơi súc sắc ngay bên trong cổng.
Tôi đang ném mẩu bánh cuối cùng cho thiên nga, đầu óc trống rỗng, thì bỗng giật mình thoát khỏi dòng suy tư khi nghe thấy giọng nói của người phụ nữ hiếm hoi mà tôi từng nghe trước đó. Quay lại nhanh chóng, tôi thấy, bước đi giữa hai quý ông – chính là những người đã cùng nàng cưỡi ngựa từ Vaucouleurs đến – là một người mà chẳng ai có thể nghĩ là ai khác ngoài Nàng Trinh Nữ xứ Lorraine đang được bàn tán xôn xao. Nàng ăn mặc rất giản dị, giống như một gã tùy tùng của một lãnh chúa không mấy khá giả, đội mũ đen với một chiếc trâm cài bạc nhỏ, mặc áo doublet xám, quần tất đen xám, buộc chặt bằng nhiều dây gút; bên hông đeo một thanh kiếm giá trị chẳng bao nhiêu. Dáng người nàng cao hơn mức trung bình của phụ nữ, khuôn mặt sạm nắng gió, đôi mắt to, màu xám, đẹp đẽ dưới hàng mày đen, đôi môi đỏ mọng luôn nở nụ cười. Thân hình nàng trông khỏe khoắn và cân đối, nhưng rất mảnh mai – vì nàng mới chỉ mười bảy tuổi – đến nỗi, nếu không vì giọng nói ngọt ngào của thiếu nữ và vẻ đẹp của đôi mắt xám, nàng hoàn toàn có thể bị nhầm là một tiểu đồng, với mái tóc đen cắt kiểu “en ronde” như phong cách của lính tráng thời bấy giờ. Tôi viết nhiều về ngoại hình của nàng như vậy vì nhiều người đã hỏi tôi Nàng Trinh Nữ đáng kính có dáng vẻ thế nào, và liệu nàng có xinh đẹp không. Tôi ngẩn ngơ nhìn nàng như người mất hồn, rồi sực nhớ ra phép lịch sự, liền ngả mũ cúi chào. Nàng cũng cúi đầu, mỉm cười lịch thiệp như một quý bà cao quý, nhưng với vẻ mặt xa xăm như thể tâm trí nàng đang ở nơi nào rất xa.
Nàng đi ngang qua cùng hai vị quý ông, nhưng gã lính gác người Pháp chặn đường, vung cây kích nằm ngang.
“Đến đây có việc gì, và với quyền hạn gì?” gã hét lên bằng giọng thô lỗ.
“Theo lệnh của Thái tử, chúng tôi đến yết kiến Thái tử,” một trong những quý ông đáp lại hết sức lịch thiệp. “Đây là thư của chính Người, ông có thể nhận ra con dấu, triệu mời La Pucelle đến yết kiến vào giờ này.”
Gã nhìn con dấu, không thể không thừa nhận huy hiệu của nước Pháp trên đó. Gã hạ cây kích xuống vai, đứng sang một bên, nhìn Nàng Trinh Nữ với vẻ mặt trơ tráo và lầm bầm những lời lẽ tục tĩu.
“À, thì ra đây là Pucelle danh tiếng,” gã kêu lên; “nhân danh Chúa” . . . rồi gã nói những lời mà tôi không thể ghi lại trên giấy, xúc phạm Chúa và Nàng Trinh Nữ.
Nàng quay lại nhìn gã, nhưng như thể không nhìn thấy gã; rồi, ánh sáng của niềm vui và tình yêu bừng sáng trên gương mặt, nàng quỳ xuống trên cầu rút, chắp tay, cúi đầu, và cứ giữ nguyên tư thế đó trong khoảng thời gian đếm đến hai mươi, khiến chúng tôi những người chứng kiến đều kinh ngạc. Sau đó, nàng đứng dậy, cúi chào như thể đang chào một người mà chúng tôi không thấy. Tiếp đó, nàng quay sang gã lính gác, nói rất nhẹ nhàng:
“Thưa ngài, tại sao ngài lại lấy danh Chúa ra để xúc phạm, trong khi chính ngài, ngay giờ này, sắp phải chết?”
Nói đoạn, nàng cùng hai vị quý ông đi qua cổng, trong khi gã lính đứng nhìn theo như một kẻ hóa đá.
Nàng Trinh Nữ đã khuất bóng, và rồi gã lính gác, lấy lại tinh thần, quay sang tôi đầy giận dữ.
“Mày đứng đây há hốc mồm làm cái gì, đồ bao rượu Scotland thối tha kia?” gã quát; và ngay khi nghe câu đó, lời cầu nguyện mà tôi từng thầm khấn với Thánh Andrew trong những ngày bị gò bó hiện lên trong tâm trí tôi, rằng tôi sẽ không bao giờ chịu đựng việc nghe quê hương mình bị sỉ nhục.
Tôi chẳng kịp suy nghĩ xem nên nói gì, vốn dĩ tôi cũng chưa bao giờ nhanh miệng, nhưng lời nói của gã còn chưa dứt thì tôi đã lao vào áp sát, khiến gã không thể vung cây kích dài của mình ra.
“Đồ báng bổ và kẻ nói dối!” tôi hét lên, tay trái nắm chặt cổ gã, còn tay phải tung hai cú đấm khiến những lời dối trá của gã trôi tuột xuống họng cùng với, tôi tin là, vài chiếc răng.
Gã đánh rơi cây kích dựa vào hàng rào gỗ của cây cầu và lần tìm con dao găm. Tôi chộp lấy tay phải của gã bằng tay mình; những tiếng hét vang bên tai tôi – Thánh Denis vì nước Pháp! Thánh Andrew vì Scotland! – khi đám lính gác khác chạy ra để xem cuộc vui.
Chúng tôi vật lộn rồi loạng choạng trong giây lát, thì cán cây kích của gã vướng vào chân, gã vấp ngã, tôi đè lên trên. Sức nặng của cả hai đập mạnh vào hàng rào gỗ thấp của thành cầu vốn đã cũ nát; một tiếng rắc vang lên, và tôi cảm thấy mình lơ lửng giữa không trung, rơi xuống con hào sâu bên dưới. Tôi xoay mòng mòng rồi rơi xuống, và rồi làn nước sâu lạnh giá nhấn chìm lấy tôi.