Tu sĩ vùng Fife

Lượt đọc: 10 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 19
—Cách Norman Leslie lên đường ra trận lần nữa

❊ ❊ ❊

Tin tức về những cuộc đàm phán, những đợt hành quân và việc các thành phố đầu hàng cứ lần lượt truyền đến tai chúng tôi tại Tours, khi nhà vua liên tục cử sứ giả mang thư tới các thị trấn trung thành. Một trong số những người đó, chính là Thomas Scott, người mà tôi đã nhắc đến trước đây, một gã từ Rankelburn ở Rừng Ettrick, đã mang cho tôi một lá thư từ Randal Rutherford.

“Mess-John Urquhart viết thay cho tôi, kẻ vốn không biết chữ,” Randal viết, “và để đỡ tốn công ông ta—vì ông ta phải viết cho phần lớn bọn tôi—tôi chỉ nói ngắn gọn thế này: đi ngay lúc này hoặc không bao giờ nữa, vì trong ba hay bốn ngày tới, vị Nữ Thánh sẽ tiến đánh Paris, mặc kệ nhà vua có theo hay không.”

Bên cạnh tên của Randal Rutherford chỉ có một dấu thập được đánh dấu, kèm theo địa điểm và ngày tháng: ngày mười chín tháng Tám, tại Compiègne.

Mặt tôi nóng bừng lên khi đọc xong những dòng này. Tôi chẳng chần chừ thêm nữa, vội thỏa thuận với Thomas Scott để cùng lên đường vào lúc bình minh, rồi tôi về nhà, thu xếp quân trang và thuê một con ngựa từ chủ quán trọ “Thanh Kiếm Treo” (Hanging Sword), nơi tôi cũng gửi quân trang của mình sang vì định đêm nay sẽ ngủ lại đó.

Tất cả việc này được thực hiện trong đêm muộn một cách kín đáo. Sau bữa tối, tôi mới dám nói chuyện với chủ của mình và Elliot. Mặt nàng bỗng trắng bệch, nàng ngồi im lặng trong khi ông chủ của tôi lên tiếng, dùng câu nói dân dã của quê hương chúng tôi: “ai muốn đến Cupar thì phải đến Cupar thôi,” rồi ông quay lưng, lững thững đi dạo quanh khu vườn.

Chúng tôi chỉ còn lại hai người, và giờ là lúc khó khăn nhất đối với tôi: phải an ủi Elliot, trong khi thực lòng, chính tôi cũng đang rất cần được an ủi. Nhưng cả danh dự lẫn sự cần thiết đều thôi thúc tôi phải ra trận, khi tôi đã đủ sức mang giáp và cũng chẳng còn cơ hội nào khác để kiếm chiến lợi phẩm, hay may mắn hơn là giành lấy cựa gà của hiệp sĩ. Hơn nữa, tôi không thể cam chịu làm kẻ trốn tránh. Nàng ngồi đó, sắc mặt tái nhợt, môi run rẩy nhưng đôi mắt vẫn kiên định và can trường.

Tôi quỳ xuống bên cạnh, nắm lấy bàn tay nhỏ bé lạnh như băng của nàng.

“Vì Nữ Thánh, và vì nàng, Elliot à,” tôi thì thầm. Nàng chỉ tựa đầu vào vai tôi, nhưng bàn tay lạnh lẽo ấy lại nắm chặt lấy tay tôi.

“Người đã nói chàng sẽ trở về mà không hề hấn gì bởi gươm đao,” Elliot thì thầm, cố tìm kiếm chút an ủi. “Nhưng, ôi người yêu của em! Chàng có thể bị bắt, và bao giờ em mới được gặp lại chàng? Ôi! Cuộc đời này thật khắc nghiệt với phụ nữ, chỉ biết ngồi đợi chờ, run sợ và cầu nguyện ở nhà. Chắc hẳn không có hiểm nguy chiến tranh nào khủng khiếp đến thế! Á, chàng nhất định phải đi sao?”

Rồi nàng ôm chặt lấy tôi, dường như tôi không bao giờ có thể thoát ra khỏi vòng tay ấy, và tôi cảm thấy như tim mình sắp vỡ làm đôi.

“Nếu tôi không đi, làm sao tôi dám nhìn mặt mọi người, làm sao tôi dám gặp lại vị Nữ Thánh?” tôi nói. Tôi gỡ tay nàng ra, nàng đặt hai tay lên vai tôi, nhìn tôi trân trân như muốn khắc ghi hình ảnh của tôi vào tâm trí.

“Cằm chàng cuối cùng cũng lún phún râu rồi,” nàng mỉm cười yếu ớt, rồi bật khóc nức nở. Đôi môi chúng tôi chạm vào nhau, tâm hồn chúng tôi hòa làm một. Nhưng ngay lúc đó, chúng tôi nghe tiếng bước chân khập khiễng của ông chủ đang tiến về phía cửa; nàng kêu lên một tiếng rồi chạy biến về phòng mình. Đó là lời từ biệt của chúng tôi—ngắn ngủi, nhưng tôi không muốn nó kéo dài thêm nữa.

“Chia tay thật chẳng dễ dàng gì, mong Thiên đường phù hộ cho các con,” ông chủ của tôi nói. “Ta nhớ như in ngày mình lên đường tới Verneuil; ta đã đi rất lâu và trở về như một kẻ tàn phế. Nhưng đó là vận mệnh của chiến tranh! Các thánh sẽ che chở cho con, con trai ạ, đặc biệt là Thánh Andrew. Hãy trở về sớm, lành lặn và giàu có, vì ta cảm thấy, nếu mất một trong hai đứa, coi như ta mất tất cả.”

Nói đoạn, ông ôm lấy tôi, rồi tôi lên đường tới nhà trọ nơi tôi sẽ nghỉ lại đêm đó.

Giờ hãy nhìn xem cuộc đời đối với đàn ông nhẹ nhàng hơn phụ nữ thế nào. Dù tôi rời nhà với trái tim nặng trĩu hơn bất cứ ai ở Tours, còn ngoái nhìn ánh nến nơi cửa sổ phòng nàng, nhưng khi đến quán “Thanh Kiếm Treo”, thấy Thomas Scott đang ngồi uống rượu, lòng tôi bỗng thấy nhẹ nhõm và can đảm hẳn lên. Gã chỉ cần có người lắng nghe, và chẳng mấy chốc đã bắt đầu kể đủ thứ chuyện về chiến tranh, về những con đường, về gã này vừa bắt được tù binh giàu có, gã kia vừa trúng một mũi tên vào đùi, và về những cơ hội có thể chiếm được Paris bằng một đợt tấn công.

“Vì ngoài cách đó ra, chúng ta không thể chiếm được nó,” gã nói, “trừ khi có phép màu. Chúng được tiếp tế đầy đủ, và hy vọng của chúng ta là nếu tạo được lỗ hổng, dân thường có thể nổi dậy vì họ đã quá chán ngấy quân Anh và quân Burgundy rồi.”

Thế đấy, với những câu chuyện phiêu lưu và những hy vọng tràn trề của gã, tôi đã được khích lệ đến nỗi—thật xấu hổ—nỗi buồn trong tôi tan biến. Tôi lên giường nằm mơ về những chiến hào, những đợt leo thành, về vinh quang và tiền bạc. Nhưng tôi e rằng Elliot đã trải qua một đêm mệt mỏi và đau khổ. Trong khi đó, dường như tôi mới chỉ vừa đặt đầu xuống gối thì đã nghe thấy tiếng Thomas gọi gia nhân và tiếng vó ngựa lạo xạo trong sân. Tôi bật dậy, dù trời còn chưa rõ mặt người, và chúng tôi phi ngựa về hướng Bắc trước khi bình minh ló dạng.

Ở đây, tôi buộc phải viết về một sự thật đáng xấu hổ mà khi đó tôi không hề hay biết; nếu biết, tôi đã lên đường với trái tim nặng nề hơn nhiều. Mãi nhiều năm sau, Messire Enguerrand de Monstrelet, một hiệp sĩ uyên bác và rất gần gũi với các mưu lược của Công tước vùng Burgundy, mới kể cho tôi nghe.

“Tất cả các anh đều bị bán đứng,” ông ta nói với tôi tại Dijon vào năm của Chúa chúng ta, mười bốn trăm bốn mươi bảy. “Các anh đều bị bán đứng khi hành quân chống lại thành Paris. Vì Nữ Thánh cùng với D'Alençon đã rời Compiègne về phía Paris vào ngày hai mươi ba tháng Tám, nếu ta nhớ không nhầm,” rồi ông lật giở những cuộn giấy ghi chép nằm bên cạnh. “Đúng vậy, ngày hai mươi ba bà rời Compiègne, nhưng đến ngày hai mươi tám tháng đó, Tổng giám mục vùng Reims đã vào thành và gặp gỡ các sứ giả của Công tước Burgundy. Tại đó, họ đã ký kết một hiệp ước ràng buộc nhà vua của các anh và Công tước, rằng lệnh đình chiến sẽ kéo dài đến lễ Giáng sinh, nhưng Công tước được phép sử dụng quân đội của mình để bảo vệ Paris chống lại bất cứ cuộc tấn công nào. Giờ thì, Tổng giám mục và nhà vua biết rõ Nữ Thánh lúc đó đang hành quân tới Paris. Tại sao lại phải ký lệnh đình chiến, rồi lại loại bỏ chính nơi chiến sự đang diễn ra ra khỏi thỏa thuận hòa bình? Rõ ràng, vua nước Pháp chưa bao giờ thực sự có ý định dốc toàn lực quân đội để giúp đỡ Nữ Thánh. Có một lệnh đình chiến giữa Pháp và Burgundy, nhưng không hề có lệnh đình chiến giữa Anh và Nữ Thánh.”

Messire Enguerrand, một hiệp sĩ uyên bác và nghiêm nghị, đã kể cho tôi như thế. Và thế là mưu lược của các thánh đã bị đánh bại bởi chính vị vua mà họ tìm cách giúp đỡ. Nhưng về hiệp ước đáng xấu hổ này, những quân nhân chúng tôi không hề hay biết gì cả, và vì thế chúng tôi đã đánh cược mạng sống mình vào một ván bài đã bị dàn xếp từ trước.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.