Mối Bất Hòa Truyền Kiếp

Lượt đọc: 86 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 12

❊ ❊ ❊

Juanitaenea đứng sau ký túc xá Trinkete trên một mảnh đất đen bằng phẳng, bao quanh là nhiều mảnh đất canh tác. Những ngôi nhà gần nhất cách độ ba trăm mét và tạo thành một xóm, trái ngược với tòa nhà bằng đá lẻ loi, sẫm lại vì thời gian, địa y và những trận mưa gần đây hình như lọt qua tường, biến chúng thành màu nâu nhạt.

Những mái hiên bằng gỗ chạm, nhô ra khoảng mét rưỡi giữ cho tầng thượng không bị ẩm ướt và có vẻ sáng hơn. Cửa chính ở tầng thứ nhất, ở đầu một dãy các bậc hẹp, gập ghềnh, bấp bênh vì không có tay vịn, hình như nhô thẳng khỏi tường. Ngang mặt đất có hai cửa tò vò hình tròn, cánh cửa đã thay bằng những tấm ván thô ráp, nằm bên sườn một lối vào khác, rộng rãi, vuông vắn vẫn giữ được các cánh cửa bằng sắt nguyên bản. Dù han gỉ, chúng vẫn tỏ rõ là một công trình nghệ thuật đẹp đẽ bằng kim loại, được một thợ lành nghề ở địa phương rèn từ ngày xa xưa, khi thứ quan trọng là độ chính xác và cảm giác toại nguyện vì đã hoàn thành tốt công việc. Đằng sau tòa nhà là một đám sồi cổ thụ cũng như một cây liễu rủ, Amaia nhớ từ hồi chị còn bé nó đã có, đẹp huy hoàng. Mảnh đất có đường vào từ đằng trước nhà, một bên giáp với một vườn rau rộng khoảng một phần tư mẫu Anh, trông xanh tươi và được chăm sóc chu đáo.

– Một người dân địa phương trông nom mảnh vườn này nhiều năm nay, - bà Engrasi nói. - Ông ta mang cho cô ít rau, ít nhất ông ta cũng giữ gìn nó gọn gàng, không như những chỗ khác, - bà nói thêm và vung tay chỉ một đống ván gỗ, rổ nhựa và những thứ linh tinh không biết là gì, trông như đồ đạc cũ nằm lăn lóc ở bên ngoài, trước tòa nhà.

Sự nhiệt tình của James giảm bớt khi trông thấy cửa ra vào ở đầu cầu thang lạ lùng.

– Chúng ta có phải lên trên kia để vào không ạ? - Anh hỏi, nhìn cầu thang đầy nghi ngại.

– Có vài bậc thang lên tầng một ở trong chuồng ngựa, - bà Engrasi giải thích và đưa anh chìa khóa rồi chỉ tới một cái cổng tò vò có khóa móc và dây xích.

Cái cửa cũ kỹ hơi cưỡng lại khi James mở ra. Bà Engrasi bấm một công tắc ở đâu đó và một bóng đèn trên đầu họ chiếu ánh sáng màu cam yếu ớt, mất hút giữa những rui, xà.

– Ở đây hơi tối tăm, chính vì thế cô muốn chúng ta đi từ sớm, - bà nói và bước tới những cửa sổ đóng kín, cánh chớp phủ đầy bụi và mạng nhện. - James, cháu giúp cô mở một cửa sổ ra.

Những bản lề đồng dường như dính chặt, nhưng sau vài lần cố gắng, chúng mở vào trong để ánh sáng buổi sớm ùa vào tràn trề, theo vết một luồng bụi bập bềnh giữa cảnh ảm đạm.

James quay ngoắt lại, ngờ vực lúc ngắm nghía những thứ xung quanh.

– Chà! Nó rộng lớn quá! Và cao nữa, - anh nói, đăm đăm kính sợ nhìn các rui xà đỡ trần.

Bà Engrasi cười tươi lúc nhìn Amaia:

– Lại đây, - bà nói và chỉ một cầu thang gỗ màu đen rẽ ra một cách thanh lịch thành hai nhánh lên tầng trên.

James ngước nhìn ngạc nhiên:

– Thật ngạc nhiên thấy một cầu thang như thế này trong chuồng ngựa.

– Chứ sao, - Amaia nói. - Hàng trăm năm nay, chuồng ngựa là phần quan trọng nhất trong nhà. Cầu thang này tương đương một cánh cửa vào ga ra của anh đấy.

– Đi lên cẩn thận nhé. Cô không chắc nó an toàn đến đâu, bà Engrasi dặn.

Tầng một gồm bốn căn phòng đồ sộ, một căn bếp, và một buồng tắm trơ trụi, chỉ còn một bồn tắm nặng nề, chân chĩa ra mà Amaia còn nhớ rõ. Các cửa sổ nhỏ ăn sâu vào bức tường dày và khít với những cánh chớp lát những thanh gỗ mỏng. Cả bốn phòng đều trống rỗng, không kể căn bếp cũ là nơi duy nhất còn nền lò sưởi. Bếp lớn gấp đôi các phòng khác, làm toàn bằng đá như các bức tường bên ngoài và đen sạm vì nhiều năm sử dụng.

– Cháu không biết tại sao, nhưng cháu hy vọng đồ đạc vẫn còn đây, - Amaia nói.

Bà Engrasi gật đầu, cười mỉm:

– Một số thứ vẫn còn tốt, hầu hết là đồ thủ công. Bố cháu được thừa kế chúng cùng xưởng bánh. Cô được ngôi nhà, mảnh đất và một số tiền lớn. Là con trai nên bố cháu quan tâm đến xưởng nhiều hơn, còn cô theo việc học hành rồi sau đó đi Paris. Cô trở về được hai năm thì bà nội cháu qua đời. Một ngày sau khi công bố di chúc, mẹ cháu mua một chiếc xe tải chở hết mọi thứ đi.

Amaia gật đầu. Chị không có nhiều hồi ức về đồ đạc của bà nội Juanita ở nhà cha mẹ.

– Chắc bà ấy đã bán chúng, - chị lẩm bẩm.

– Phải, cô cũng nghĩ thế.

Chị có thể nghe thấy James hào hứng đi từ phòng này sang phòng khác như một đứa trẻ ở chợ phiên.

– Amaia, em đã trông thấy cái này chưa? - Anh nói và mở một cửa sổ nhìn xuống các bậc gập ghềnh ở đằng trước tòa nhà.

– Cô nghĩ là nó thiết kế để khi có tuyết rơi dày hoặc ngập lụt, mặc dù cô không nhớ đã sử dụng nó bao giờ chưa. Chắc chúng ta nên lấp hoặc chuyển nó đi, - bà Engrasi gợi ý.

– Không sao đâu ạ, James nói và đóng cửa sổ rồi tiến đến một cầu thang hẹp dẫn lên tầng áp mái.

Amaia theo anh, chị địu Ibai đằng trước, ậm ừ nựng con lúc cu cậu sung sướng đá lung tung, rõ là lây sự nồng nhiệt của bố.

Mặc dù trần nhà dốc, tầng áp mái thật rộng rãi. Vài cửa sổ tròn trên mái để ánh sáng mùa đông lọt vào, chiếu sáng căn phòng thoáng rộng. Thoạt nhìn, Amaia thấy ngay sẽ đặt chiếc giường cũi của Ibai ở chính giữa.

– Cô ơi, - chị gọi và tới chỗ đó.

– Cô xin lỗi, quá nhiều bậc thang cho đầu gối già lão tội nghiệp của cô, - bà Engrasi nói lúc tới tầng áp mái.

Amaia tránh sang bên để bà có thể nhìn thấy một chiếc giường cũi bằng gỗ màu đen. Bà Engrasi nhìn nó chằm chặp, sững sờ trong lúc James đến gần để xem cho kỹ.

– Giống quá. Giống y hệt, nếu không có lớp véc ni anh mới sơn cho chiếc của chúng ta.

– Cô ơi, cô lấy đâu ra chiếc giường cũi trong nhà cô? - Amaia hỏi.

– Bà nội cho lúc cô từ Paris về và mua nhà. Bà vẫn để nó ở sân trong, phủ tấm vải dầu, và cô nhớ đã hỏi bà xem cô có thể dùng làm thùng chứa củi không. Cô nghĩ nó khá đẹp với những đường chạm, nhưng cô không biết có hai chiếc. Chắc chúng là của cháu và các chị cháu, bà nội đã đưa lên đây khi cháu lớn hơn.

Lướt ngón tay lên mặt gỗ phủ bụi, Amata cảm thấy một cơn đau nhói trong cánh tay như bị điện giật. Chị lùi phắt lại, làm Ibai khóc òa, hoảng sợ vì tiếng kêu của mẹ.

– Em ổn chứ, Amaia? - James lo lắng hỏi và đến gần vợ.

– Vâng… - Chị đáp và chà xát bàn tay tê dại.

– Có chuyện gì vậy?

– Em không biết, chắc là có cái dằm hoặc gì đó đâm vào tay em.

– Để anh xem nào, - James nói.

Sau khi kiểm tra kỹ bàn tay vợ, James cười tươi tỉnh và tuyên bố:

– Anh chẳng thấy gì hết. Có khi em bị chuột rút lúc duỗi cánh tay thôi.

– Có lẽ thế, - chị nói, hoài nghi.

Đứng ở cầu thang, bà Engrasi cau mày lúc quan sát họ. Amaia biết rất rõ vẻ mặt này.

– Cháu ổn mà cô, - chị nói, cố làm bà yên lòng. - Cháu nói thật đấy ạ. Tầng áp mái đẹp quá.

– Ngôi nhà ngoài sức tưởng tượng của anh, Amaia ạ, James nói và nhìn quanh với tâm trạng vui sướng trẻ thơ.

Amaia độ lượng gật đầu. Ngay từ lúc đồng ý đi xem nhà, chị đã biết James sẽ thích nó mê mẩn. Ngôi nhà mà lúc bé, chị đã ở lại hàng ngàn lần nhưng nhớ nó bằng hàng loạt hình ảnh khác nhau như những tấm ảnh cũ, bà nội luôn ở vị trí nổi bật, còn ngôi nhà giống như phông màn của một sân khấu bộc lộ cuộc đời của Amatxi Juanita. Đi xuống tầng dưới, chị nghe thấy James đang nói với bà cô mọi thứ họ có thể làm với ngôi nhà này.

Amaia đi từ phòng này sang phòng khác, mở các cánh chớp để mặt trời lờ mờ chiếu lên lớp giấy dán tường cổ lỗ. Cúi qua ô cửa rộng, chị lướt mắt tận chân trời cho đến lúc nhận ra những ngọn tháp của nhà thờ Santiago. Chúng vươn lên trên các mái nhà, vẫn trơn mượt vì trận mưa qua đêm và sáng bóng vì hơi ẩm từ sông Baztán thấm qua các viên ngói và khung như một món quà của biển cả, ánh nắng yếu ớt sưởi ấm chị lúc lướt qua các cửa sổ, song suốt ngày cũng không thể làm khô các mái nhà. Ibai đã bình tĩnh lại, nó nheo mắt, ép đầu vào ngực mẹ lúc cảm thấy hơi ấm của mặt trời. Amaia hôn lên đỉnh đầu con trai, hít hà mùi tóc vàng hoe mịn như lông tơ của nó.

– Anh nghĩ sao, anh yêu? Khi cô hỏi, em sẽ nói gì đây? Anh có thích sống trong nhà của Amatxi Juanita không?

Chị ngắm con trai đúng lúc nó sắp ngủ thiếp đi, và mỉm cười.

– Anh định hỏi em đúng câu ấy đây, - James nói và đứng ở ngưỡng cửa, đăm đăm nhìn vợ, trìu mến. - còn Ibai nói gì nhỉ?

Chị quay nhìn anh.

– Nó nói: có.

James đi vòng quanh Juanitaenea vài lần nữa trước khi chuẩn bị ra về.

– Cháu sẽ gọi cho Manolo Azpiroz ngay lập tức. Anh ấy là một người bạn kiến trúc sư của cháu sống ở Pamplona. Anh ấy sẽ thích xem xét nơi này, - anh giải thích với bà Engrasi lúc cài khóa móc lên cái cánh cửa được làm một cách tùy tiện.

– Cháu cứ giữ lấy nó, - bà nói lúc anh đưa trả chìa khóa, - cháu sẽ cần nếu cháu định đưa anh bạn kiến trúc sư xem nhà một vòng. Hơn nữa, cô nghĩ ngôi nhà là của các cháu. Lúc nào đó, chúng ta có thể thu xếp gặp công chứng viên và cô sẽ ký giấy chuyển nhượng.

James toét miệng cười lúc giơ chìa khóa cho Amaia.

– Nhìn này em yêu, chìa khóa nhà mới của chúng ta đây.

Amaia lắc đầu, giả vờ không tán thành sự hăng hái của anh, rồi lùi lại vài bước, vui thích ngắm nhìn mặt tiền. Bên trên cửa ra vào, chữ Juanitaenea khắc vào đá dưới huy hiệu Baztán kẻ ô vuông. Cảm thấy một chuyển động ở đằng sau, chị quay ngoắt lại đúng lúc thoáng thấy một bộ mặt đầy nếp nhăn cố nấp sau cột chống ngoài mảnh vườn rau song vô ích. Bà Engrasi tiến đến ngang Amaia, nói to với người đàn ông:

– Esteban, đây là cháu gái và cháu rể tôi.

Ông ta thẳng người lên và ném cho họ một cái nhìn thoáng vẻ căm ghét, rồi giơ bàn tay múp míp và lẳng lặng tiếp tục làm việc.

– Ông ta hẳn là không thích bọn cháu.

– Đừng để ý đến ông ta. Ông ấy làm việc trên mảnh đất này đã hai chục năm nay, tuy hiện giờ đã nghỉ hưu. Hôm qua, khi cô gọi điện báo sắp có chủ mới, cô cảm thấy ông ta không vui lắm. Cô cho là ông ấy lo sẽ không được tiếp tục chăm sóc vườn rau nữa.

– Cô nói với ông ta từ hôm qua, trước cả khi chúng cháu đến xem nhà ư? - Amaia hỏi, vui thích.

Bà Engrasi nhún vai và cười ranh mãnh.

– Cô có nguồn tin của mình chứ.

James quàng tay ôm bà.

– Cô là một phụ nữ tuyệt vời. Cô nói hộ cháu với ông ta rằng cháu không hề muốn đuổi ông ta. Còn nhiều đất cho chúng cháu làm một khu vườn quanh nhà kia mà. Hơn nữa, cháu thích có một mảnh, có điều từ nay trở đi ông ta sẽ phải mang cho chúng cháu ít rau.

– Cô sẽ có lời với ông ta, - bà Engrasi đáp. - Ông ta là người tốt theo cách riêng, nhưng khi biết có thể tiếp tục chăm vườn, ông ta sẽ thay đổi thái độ.

– Cháu không chắc… - Amaia nói và quay lại nhìn người đàn ông lần nữa, ông ta đang rình mò họ, nấp sau những bụi cây viền quanh mảnh đất trồng rau.

Gió thổi thành nhiều làn nhẹ, xua tan sương mù còn vương vấn và những mảng trời xanh bắt đầu lộ ra qua màn mây xám. Trong vài giờ tới sẽ không có mưa. Amaia kéo khóa chiếc Puffa, che kín Ibai và siết nó vào ngực. Lúc đó, điện thoại của chị rung trong túi áo. Chị kiểm tra màn hình rồi trả lời.

– Chào Iriarte.

– Sếp, Beñat Zaldúa vừa tới cùng bố cậu ta.

Amaia ngước nhìn bầu trời.

– Tốt, tiến hành thẩm vấn đi.

– Tôi tưởng chị định làm việc đó, - anh ngập ngừng.

– Anh sẽ làm thay tôi, được không? Tôi có việc quan trọng phải làm.

Iriarte không trả lời.

– Anh sẽ làm tốt mà, - Amaia bồi thêm.

Chị có thể nói rằng Iriarte cười lúc đáp lại:

– Tùy chị thôi.

– Còn một việc nữa: đã có tin gì của bên pháp y về những cái xương tìm thấy ở nhà thờ chưa?

– Chưa, vẫn chưa.

Vừa ngắt máy, chị gọi cho Jonan.

– Jonan, cậu đến nhà tang lễ một mình, tôi sẽ đến sau, tôi có việc cần làm.

Những chiếc lá thu đã biến thành bột nhão màu nâu và vàng, trơn tuột, nguy hiểm ở chỗ đất dốc khiến không thể lái xe theo đường. Amaia tấp xe vào lề đường rồi đi bộ rất khó khăn, cho tới bìa rừng dày đặc tán lá. Khi lọt vào rừng, chị cảm thấy đất trở nên rắn hơn và khô hơn. Luồng gió đày đọa chị trên đường giờ chỉ vừa đủ cảm thấy, chỉ lộ sức mạnh của nó trên các ngọn cây đu đưa, ánh nắng lọt qua như những ngôi sao trong đêm mùa đông. Tiếng con suối róc rách chảy xuống đồi dẫn đường cho chị. Chị bước trên vài tảng đá kê chân, tuy có thể dễ dàng nhảy qua con suối hẹp trên những tảng đá khô, Xem tấm bản đồ Padua cho, chị đi xuyên qua những bụi cây thấp tới tảng đá mòn lớn, đằng sau là cái hang. Con đường mòn tương đối quang đãng, sau khi Guardia Civil qua đây ba tháng trước, khi phát hiện ra hài cốt của ít nhất mười hai người trong hang. Một ý nghĩ chợt đến, chị rút di động ra và thở dài bực tức khi thấy không có tín hiệu.

– Thiên nhiên che chở chúng con, - chị lẩm bẩm.

Miệng hang đủ rộng cho chị bước vào mà không cần cúi người. Chị lấy đèn pin LED cực mạnh trong túi, và theo bản năng, rút luôn khẩu Glock. Một tay nắm chặt đèn, tay kia cầm súng, chị bước vào hang cong về bên phải theo hình chữ S thon thon rồi mở ra hình chữ nhật khoảng sáu chục mét vuông, sau đó vuốt thon về đầu kia như một đường hầm. Nóc hang cao không đều: cao nhất là bốn mét, nơi thấp nhất Amaia phải đi lom khom. Không khí lạnh và khô, có lẽ lạnh hơn bên ngoài tới vài độ, có mùi đất cũng như một thứ mùi khác khiến chị nhớ tới phân hữu cơ. Chị nhìn lướt vách và nền hang nhưng chúng sạch sẽ, không có hài cốt của loài nào, tuy đất bị xới, lật lên ở nhiều chỗ. Gần miệng hang đất ẩm hơn, Amaia phát hiện vài dấu chân cũ nhưng không có gì hơn. Chị chiếu đèn lên vách lần cuối trước khi bước ra khỏi hang. Lúc cất đèn và súng, một cơn rùng mình chạy xuống sống lưng chị. Trở lại tảng đá mòn, chị trèo lên đó và có thể nhận ra nơi Mari thoáng thấy người lạ. Chị đi xuống con suối chạy quanh quả đồi tới chỗ mà chị, Ros và James đi lên hôm ấy. Amaia nhớ con đường đó dựng đứng hơn, nhưng nhận ra trảng cỏ nơi Ros ngồi nghỉ. Từ chỗ đó, con đường thông thoáng dường như thu hút chị, như thể có người vừa đi qua. Chị trèo lên chỗ đất nghiêng nho nhỏ, mỗi bước một lo lắng và căng thẳng hơn, dường như có hàng ngàn con mắt quan sát chị và có người nào đó đang cố nén một tiếng cười khúc khích.

Khi leo đến đỉnh, chị nhẹ người thấy không có ai ở đó. Tới gần tảng đá lớn, bằng phẳng, chị ngạc nhiên thấy một đống đá cuội có nhiều hình dáng và kích thước khác nhau. Vừa nguyền rủa chị vừa trở lại con đường, nhặt một hòn cuối thuôn và đặt cạnh các hòn khác lúc chị nhìn lướt quang cảnh trên các ngọn cây. Tất thảy đều im ắng. Một lát sau, liếc nhìn quanh mình, bất chợt ngượng ngập, chị trở lại con đường đã tới. Trong giây lát chị thèm ngoảnh lại, nhưng nghe thấy tiếng Rosaura vang lên trong trí: “Em phải rời con đường đã tới, và em nhìn quanh một lần, không bao giờ được ngoảnh lại”. Đi theo con đường mòn, chị tự hỏi mình mong tìm thấy gì ở đó, liệu đây có phải là thứ Dupree ám chỉ không? Tới những tảng đá kê chân, chị thoáng thấy thứ gì đó. Ban đầu chị ngỡ là một thiếu nữ, nhưng khi ngoảnh lại chị nhận ra là những tảng đá phủ đầy rêu và ánh nắng lấp lánh qua cây cối đã đánh lừa chị. Chị bước lên cây cầu nhỏ… và cô ta đã ở đó. Một phụ nữ trẻ, khoảng hai mươi tuổi ngồi trên tảng đá trơn trượt cạnh dòng suối, cách cây cầu khoảng vài mét, gần đến nỗi hình như nước không đủ cho cô ta với tới mà không bị ướt. Dù mặc áo khoác viền lông, cô mặc bộ đầm thiếu vải, để lộ đôi chân dài và bất chấp trời lạnh, vẫn đung đưa trong dòng suối. Cảnh tượng đẹp song đáng ngại và không hiểu sao, Amaia đưa tay lên khẩu Glock. Cô gái ngước nhìn, mỉm cười quyến rũ và vẫy chị.

– Xin chào, - cô gái nói, giọng véo von.

– Xin chào, - Amaia đáp, cảm thấy hơi buồn cười. Chỉ là một người dạo chơi, dừng lại nhúng chân trong dòng suối.

Đúng thế, hoàn toàn đơn độc, trong một ngày lạnh giá, nhúng chân trong dòng suối, chị tự giễu mình. Siết chặt báng súng, chị rút nó ra khỏi bao.

– Chị tới dâng lễ vật phải không? - cô gái hỏi.

– Gì kia? - Chị thì thào, giật mình.

– Chị biết mà, lễ vật dâng Đức Mẹ.

Amaia không trả lời ngay. Chị ngắm cô gái đang chằm chặp nhìn mình trong lúc rẽ đường ngồi trên mái tóc mềm rũ bằng cái lược nhỏ xíu, hình như không quan tâm tới sự có mặt của Amaia.

– Đức Mẹ thích chị mang hòn cuội từ nhà hơn.

Amaia nuốt khan, liếm môi rồi mới nói:

– Th… thực ra, tôi không tới đây vì việc đó. T… tôi đang tìm một thứ.

Cô gái không mấy để ý đến chị. Cô ta vẫn tiếp tục chải tóc, chăm chút và chính xác như chọc tức và một lát sau trở nên vô cùng hấp dẫn.

Một giọt mồ hôi lạnh chảy xuống gáy đưa Amaia trở lại thực tại, chị nhận ra ánh sáng đằng sau quả đồi đang nhạt nhòa. Mặc dù lúc đó chưa quá ba hoặc bốn giờ, chị tự hỏi mình đã đứng đó ngắm cô gái bao lâu. Bất thình lình, một tiếng sấm vang rền vọng tới từ xa, gió bắt đầu quất các ngọn cây.

– Nó đang đến…

Giọng cô ta vang lên gần đến mức Amaia giật mình, mất thăng bằng và ngã khuỵu gối. Hoảng hốt, chị chĩa súng vào nơi có tiếng nói, ngay cạnh mình.

– Nhưng chị sẽ không tìm thấy thứ đang tìm.

Lúc này, thiếu nữ chỉ cách chỗ Amaia quỳ gối chưa đầy hai mét, cô gái mỉm cười lúc ngồi lên thành cây cầu nhỏ, bàn chân đập nhè nhẹ lên mặt nước. Cô ta khinh bỉ nhìn khẩu súng Amaia đang cầm bằng cả hai tay.

– Chị không cần cái đó đâu. Muốn trông thấy, chỉ cần ánh sáng.

Amaia vẫn nhìn cô ta trừng trừng, trong lúc một ý nghĩ hình thành trong đầu. Mình cần ánh sáng, chị nghĩ.

– Một ánh sáng mới, cô gái nói thêm. Không ngoảnh lại, cô ta chạy tới một đống nhỏ hình như là đồ của mình.

Không tuân theo mệnh lệnh dội lên trong đầu, Amaia nhoài người theo cử động của cô gái ngoài thành cầu mỏng manh, nhưng không nhìn thấy cô ta nữa. Dường như cô gái chưa bao giờ đó.

– Khốn kiếp! - Amaia thì thào, đứt cả hơi và nhìn chằm chặp quanh mình, vẫn khua súng. Ngước nhìn bầu trời, chị nhận thấy chỉ trong vòng một giờ nữa sẽ tối mịt. Chị không đeo đồng hồ, và đồng hồ trên điện thoại cứ chập chờn, con số nhảy múa vô nghĩa trên màn hình. Đút súng vào bao, điện thoại trong tay, chị vùng chạy tới khi ra đến bìa rừng, tín hiệu cho thấy chị có thể gọi điện.

– Chào sếp, tôi đã cố liên lạc với chị. Tôi đã có một số phát hiện mới ở nhà tang lễ về những phụ nữ gốc gác ở Baztán bị chết thảm. Họ cũng cho tôi biết vài điều thú vị nữa.

Amaia cứ để anh nói trong lúc lấy lại hơi thở.

– Kể với tôi sau nhé, Jonan. Tôi đang ở con đường đất ngay chỗ rẽ bên phải nơi chúng ta nói chuyện với các nhân viên kiểm lâm, cậu có nhớ không?

Thấy anh ngập ngừng, chị hiểu là “không”, nên Amaia nói tiếp:

– Thôi được, tôi sẽ lái trở lại con đường để cậu có thể thấy tôi. Tôi cần cậu mang bộ đồ nghề dã ngoại, một ngọn đèn xanh lơ và vài lọ Luminol.

Chị ngắt máy và lại gọi.

– Chào Padua, Salazar đây, chị nói ngay, không rào đón. - Tôi có một câu hỏi. Khi người ta tìm thấy xương trong hang Arri Zahar, họ đã xử lý hiện trường chưa?

– Rồi, thu thập hài cốt, dán nhãn, chụp ảnh, và xử lý, tuy nhiên không có ADN để so sánh nên kết luận bị bỏ lửng, trừ trường hợp của Johana Márquez.

– Tôi không nhắc đến hài cốt mà đến hiện trường.

– Không có, mà nếu có thì là hiện trường thứ cấp. Những cái xương rải rác khắp hang trông như vứt tùy tiện. Thực ra, vì các vết răng và tư thế của xương, ban đầu chúng tôi nghĩ là do thú vật, cho đến khi pháp y cho biết là vết răng người và tất cả đều là xương cánh tay nữ giới. Tất nhiên cái hang được lục soát và chụp ảnh, nhưng không tìm thấy gì có thể nghĩ đây là hiện trường gây án đầu tiên. Các mẫu đất cũng không che giấu các ngôi mộ hoặc có [1] để chứng tỏ có một cái xác bị phân hủy tại đó.

Họ đã làm kỹ rồi, Amaia nghĩ, nhưng không triệt để như chị.

– Còn một việc nữa, trung úy. Anh có biết người phụ nữ bị giết ở Logroño có họ hàng thân thích nào không? Xác chị ta thì sao?

– Tôi thấy chị đã lắng nghe tôi, anh nói, hài lòng.

– Phải, mặc dù ban đầu tôi không muốn nghe, - chị đáp lại, nửa đùa nửa thật.

–Tôi không biết, nhưng tôi sẽ hỏi cảnh sát quen biết ở Logroño. Tôi sẽ gọi cho chị ngay khi biết được bất cứ điều gì.

Liếc nhìn đồng hồ, phó thanh tra Zabalza tiếp tục nhìn chằm chằm ra ngoài cửa sổ lớn của đồn cảnh sát, và thấy một xe có ngăn xếp hành lý đang chạy ra đường sau khi qua rào chắn. Người lái xe biểu diễn vài kiểu thất thường trước khi tới đoạn dốc vào bãi, chiếc xe dừng lại. Sau vài cố gắng nổ máy, cuối cùng xe lăn bánh vào chỗ đỗ của khách. Xe vừa đỗ, cửa xe bên hành khách bật mở và một thiếu niên ngày giơ xương mặc quần jeans, áo khoác đỏ-đen vụng về chui ra. Bên phía ghế lái, một người đàn ông trạc bốn lăm, vóc người tương tự cậu bé chỉ cao hơn, bước xuống. Lúc cả hai tiến tới lối vào chính, Zabalza thấy khoảng cách giữa họ vẫn không đổi, dường như họ bị ngăn cách bởi một rào chắn vô hình, không thể vượt qua. Anh cau mày lúc nhớ lại một bài học đã từ lâu, rằng không có khoảng cách nào giữa bố mẹ và con cái. Còn đây là Beñat Zaldúa có bố đi cùng, đến lúc này là nghi phạm duy nhất, vậy mà cảnh sát hạng sao lại có nhiều việc hay hơn để làm hơn là dự cuộc thẩm vấn. Họ biến mất dưới mặt tiền tòa nhà và khuất tầm nhìn, Zabalza nhìn điện thoại đợi chuông reo.

– Phó thanh tra Zabalza, Señor Zaldúa và con trai đã tới. Họ nói có cuộc hẹn với anh.

– Tôi sẽ xuống ngay.

Nhìn gần, cậu bé khôi ngô khác thường. Mái tóc đen tương phản với nước da trắng nhợt, xõa xuống trán và che một phần mắt, làm nổi bật vết bầm tím trên gò má. Cậu ta đứng tay đút túi áo, chằm chằm nhìn dọc hành lang. Người cha xòe lòng bàn tay lạnh và ẩm ướt, và Zabalza ngửi thấy mùi rượu không thể nhầm lẫn lúc ông ta lẩm bẩm chào.

– Đi theo tôi. - Zabalza mở cửa và dẫn họ vào phòng. - Đợi một lát, - anh ta nói và nhận thấy cậu trai nhăn mặt lúc anh vỗ vào vai.

Gần như mừng quýnh, Zabalza nhảy lên cầu thang bộ thay vì đợi thang máy, chạy ào vào phòng Iriarte mà không gõ cửa.

– Beñat Zaldúa và bố cậu ta đang ở tầng dưới. Người ông bố nồng nặc mùi rượu, ông ta hầu như không đỗ nổi xe, trong khi cậu con trai mặt mũi bầm tím, và ít nhất ở một bên vai, lúc tôi đập khẽ lên vai, cậu ta suýt bất tỉnh.

Iriarte nhìn Zabalza, không nói một lời. Anh đóng laptop, với khẩu súng trên bàn và nhét vào thắt lưng.

– Xin chào, - Iriarte nói, ngồi xuống bên bàn và chăm chú quan sát Beñat. - Tôi là thanh tra Iriarte, tôi nghĩ hai người đã gặp đồng sự của tôi. Như hôm qua tôi nói trên điện thoại, chúng tôi muốn hỏi cậu vài câu liên quan đến blog của cậu về các agote

Anh đợi câu trả lời, nhưng cậu thiếu niên vẫn cúi đầu, dửng dưng. Lúc Iriarte nhận thấy Beñat không đáp lại, anh gật đầu.

– Cậu tên là Beñat… Beñat Zaldúa, đó không phải là một họ agote sao?

Cậu bé miễn cưỡng ngẩng đầu, trong lúc người bố lầm bầm phản đối.

– Vâng, và tôi tự hào về nó, - Beñat nói.

– Điều đó cũng tự nhiên thôi, chúng ta nên tự hào dù họ của mình là gì, - Iriarte bình tĩnh đáp lại và Beñat thấy thoải mái hơn một chút. - Vì thế cậu đã viết trên blog: bạn có tự hào vì là một agote không?

– Ngày nào nó cũng viết đủ thứ tào lao làm nó gặp rắc rối. Nó chỉ phí thì giờ.

– Hãy để con trai ông nói chuyện, - Iriarte ra lệnh.

– Nó là trẻ vị thành niên, - người bố thở phì phì, - và nó sẽ nói khi tôi bảo.

Beñat khom người trên ghế, cho đến khi mái tóc xõa xuống che kín mắt.

Zabalza thấy quai hàm cậu bé run run.

– Nếu tôi bảo, - Iriarte đáp lại, giả vờ nhượng bộ. - Chúng ta hãy đổi chủ đề nào. Mắt cậu bị sao thế kia?

Không ngẩng đầu, cậu bé ném một cái nhìn căm hận về phía bố mình rồi đáp:

– Tôi va phải cánh cửa.

– Tôi hiểu. Còn vai cậu thì sao? Cũng va phải cửa ư?

– Tôi ngã cầu thang.

– Beñat, tôi muốn cậu đứng dậy, cởi áo khoác ra và vén áo phông lên.

Người bố bật dậy, loạng choạng lúc vấp phải chân ghế.

– Ông không có quyền, nó là trẻ vị thành niên. Tôi sẽ đưa nó đi ngay bây giờ, - ông ta tuyên bố và túm vai con trai mạnh đến nỗi cậu bé hét lên vì đau.

Zabalza xông tới, vặn cổ tay ông bố và đẩy ông ta vào tường, bắt đứng yên, không nhúc nhích.

– Không, ông không được làm thế, anh ta rít lên. - Tôi sẽ nói với ông việc sẽ xảy ra. Căn cứ vào thái độ và mùi rượu của ông, tôi có lý do để tin rằng ông đang say rượu, chúng tôi có cảnh phim CCTV quay lúc ông tới đồn bằng ô tô. Bây giờ, tôi sẽ cho xét nghiệm độ cồn trong máu ông. Nếu ông từ chối, tôi sẽ bắt giam ông. Ngoài ra, nếu ông khăng khăng một mực đòi sử dụng quyền hạn của mình, không cho phép chúng tôi nói chuyện riêng với con trai ông, chúng tôi sẽ thông báo với dịch vụ xã hội, vì như ông đã nói, cậu ta là trẻ vị thành niên. Người ta sẽ đưa cậu bé đến một trung tâm y tế, bác sĩ pháp y sẽ khám kỹ càng để xác minh cậu ta có bị ngược đãi không, và cậu ta không cần nói một lời. Ông nói gì về việc đó?

Nhận ra đã thất bại, ông bố chỉ hỏi:

– Làm sao tôi có thể về nhà mà không có xe đây?

Iriarte đợi một lát, sau khi ông bố và Zabalza rời khỏi phòng, anh lấy một lon Coke và đặt trước mặt Beñat. Anh để cậu uống một ngụm rồi mới tiếp tục:

– Giống như mọi người khác ở Arizkun, tôi mong cậu nhận thức được việc xảy ra tại nhà thờ.

Beñat gật đầu.

– Là một chuyên gia về chủ đề các agote, cậu đã làm gì?

Trông cậu bé sửng sốt. Cậu ta thẳng người lên trên ghế, hất món tóc khỏi mặt và nhún vai.

– Tôi không hiểu…

– Rõ ràng có người đang cố thu hút sự chú ý đến lịch sử của các agote.

– Đến những bất công mà các agote phải chịu, cậu bé sửa lại cho anh.

– Phải, những bất công, - Iriarte thừa nhận. Đó là một thời kỳ khủng khiếp cho toàn xã hội, nơi sự bất công tràn lan… Nhưng đã cách đây rất lâu rồi.

– Sự bất công không hề giảm bớt, - Beñat nói, tự tin, - Ông không thấy sao? Vấn đề là chúng ta không học hỏi được gì từ lịch sử. Sau vài ngày, thậm chí sau vài giờ, thời sự không còn mang tính thời sự nữa, mọi thứ nhanh chóng bị gạt về quá khứ. Nhưng chúng ta quên rằng, nếu không hiểu những bất công một cách nghiêm túc vì chúng xảy ra trong quá khứ, chắc chắn rằng chúng sẽ lặp lại hết lần này đến lần khác.

Iriarte chăm chú ngắm cậu bé, anh cảm động vì Beñat bày tỏ những lý lẽ của mình rất minh bạch và nồng nhiệt. Anh đã đọc qua blog của Zaldúa, sự trình bày rõ ràng và rành mạch của cậu để lộ một trí tuệ thông minh và logic. Anh tự hỏi cậu bé này đã chiến đấu ra sao, sự đau đớn và tức giận của cậu có thể dùng làm đòn gỗ nặng chống lại những thể chế uy tín nhất của xã hội đến chừng mực nào, kêu gào đòi công lý mà bản thân cậu cần - cho Beñat Zaldúa là nạn nhân của sự bất công tàn bạo nhất: thái độ căm ghét của người bố, cái chết của người mẹ, sự cô đơn của một trí tuệ rạng rỡ.

Trong lúc lắng nghe Beñat thuật lại lịch sử của các agote ở Arizkun, anh nhận thấy Beñat Zaldúa có thể đang vô cùng giận dữ nhưng trong thâm tâm, cậu chỉ là một đứa trẻ sợ hãi đang tìm kiếm tình yêu, sự trìu mến và cảm thông. Và điều quan trọng hơn hết thảy là - vì việc này loại bỏ cậu là nghi phạm - cậu lẻ loi, lẻ loi đến thế, thật thương tâm khi quan sát cậu bênh vực những ý tưởng cao thượng với thân thể bầm dập và trầy xước.

Beñat nói liền hai mươi phút và Iriarte lắng nghe, thỉnh thoảng liếc nhìn Zabalza đã vào lại phòng và đứng cạnh cửa dường như sợ ngắt lời. Khi Beñat im lặng, Iriarte nhận thấy anh chẳng ghi chép gì trong lúc cậu bé nói, thay vì vẽ một loạt những hình nguệch ngoạc lên tập giấy, là việc anh thường làm mỗi khi suy ngẫm.

Zabalza băng qua căn phòng và dừng lại trước mặt cậu bé.

– Bố cậu đánh cậu phải không? - Anh hỏi, có lẽ xúc động vì sự thổ lộ đầy nhiệt huyết của cậu, dường như đã bắc một cây cầu giữa ba người, song biến mất ngay khi câu hỏi được đặt ra.

Giống như một bông hoa teo quắt trong giá lạnh, một lần nữa cậu bé lại câm như hến.

– Nếu ông ấy làm thế, chúng tôi sẽ giúp đỡ cậu, - Iriarte nói. - Cậu có họ hàng thân thích không, chú, bác hoặc anh em họ chẳng hạn?

– Tôi có người anh họ ở Pamplona.

– Cậu nghĩ có thể ở tạm với anh cậu không?

Cậu bé nhún vai.

– Beñat, - Iriarte nói tiếp, - không kể những điều phó thanh tra Zabalza đã nói với bố cậu, trên thực tế chúng tôi chỉ có thể giúp cậu nếu cậu công nhận là bị ngược đãi.

– Cảm ơn, cậu bé nói, giọng nghẹn ngào, - nhưng tôi ngã mà.

Zabalza thực sự thất vọng, anh thở dài thật to khiến Iriarte phải nhìn anh, trách móc.

– Được rồi Beñat, cậu ngã nhưng cậu nên đến bác sĩ khám.

– Tôi đã có cuộc hẹn ở phòng khám của vùng vào ngày mai.

Iriarte đứng dậy.

– Tốt lắm Beñat, thật vui được gặp cậu, - anh nói và chìa tay ra.

Cậu bé ngập ngừng bắt tay anh.

– Nếu cậu đổi ý, cứ gọi và xin gặp tôi hoặc phó thanh tra Zabalza. Tôi sẽ xem bố cậu ra sao. Cậu cứ đợi ông ấy ở đây. Ông ấy không thích hợp để lái xe, nên phó thanh tra Zabalza sẽ cho cả hai bố con cậu đi nhờ xe về nhà.

Iriarte vào phòng đợi, nơi bố Beñat đang ngồi nghiêng trên ghế, đầu dựa vào tường, ngủ say tít. Anh sống sượng đánh thức ông ta.

– Chúng tôi đã nói chuyện xong với con trai ông, cậu ta rất có ích.

Người đàn ông nhìn anh sửng sốt lúc đứng dậy.

– Thế ư?

– Phải, - Iriarte đáp rồi ngay lập tức nghĩ, Không không phải thế. Chặn đường ông ta, anh nói thêm, - con trai ông rất thông minh, và là một cậu bé tốt. Nếu tôi phát hiện ra ông đặt một ngón tay lên cậu ta, ông sẽ phải đấu với tôi đấy.

–Tôi không biết nó kể gì với ông, nó là kẻ nói dối…

– Ông có nghe tôi nói gì không, hả? - Iriarte nói, kiên quyết.

Người đàn ông cúi đầu, họ thường làm vậy. Đàn ông đánh vợ, đánh con, thỉnh thoảng thanh toán nợ nần với bất cứ ai lớn tuổi hơn họ. Ông ta đi vòng quanh Iriarte và rời khỏi phòng. Ông ta đi rồi, viên thanh tra ngẫm nghĩ chẳng cảm thấy khá hơn, và biết rằng Zabalza lặng lẽ lái xe tới Arizkun, nhận thấy chỉ có hai hành khách của mình đang thở, họ đi cùng anh như hai người lạ căng thẳng hoặc hai kẻ thù. Khi họ tới lối vào một túp lều ở ngoài làng, người bố trèo xuống xe rồi đi thẳng tới lều không hề liếc nhìn lại, nhưng cậu con trai vẫn ngồi lại một lát. Zabalza tưởng cậu muốn nói gì với anh nên đợi, nhưng cậu bé lặng thinh. Cậu ta chỉ ngồi, trừng trừng nhìn túp lều và miễn cưỡng xuống xe.

Zabalza tắt máy, bật đèn trong xe và quay lại để trông thấy mặt cậu bé.

– Khi tôi bằng tuổi cậu, tôi cũng có nhiều vướng mắc với bố tôi.

Beñat nhìn anh dường như không hiểu anh đang nói gì.

Zabalza thở dài.

– Bố tôi đánh tôi nhừ tử.

– Vì anh là gay ư?

Zabalza há hốc miệng, giật mình vì sự sắc sảo của cậu bé.

– Bố tôi không chấp nhận cách sống của tôi.

– Đấy không phải trường hợp của tôi. Tôi không phải dân gay.

– Đó không phải là vấn đề. Lý do gì không quan trọng, họ thấy cậu khác chính vì thế họ đánh cậu.

Cậu bé cười cay đắng.

– Tôi hiểu anh sẽ nói gì: rằng anh đã chống trả, đã dũng cảm đương đầu với ông ấy, rốt cuộc mọi việc tự sắp xếp ổn thỏa.

– Ngược lại, tôi không chống trả, tôi không đứng dậy vì mình, và bố tôi vẫn không chấp nhận tôi, anh nói. Cả tôi cũng không chấp nhận, anh nghĩ.

– Vậy bài học của chuyện này là gì đây? Tại sao anh kể với tôi chuyện này?

–Tôi kể với cậu vì có một số trận chiến thất bại trước khi bắt đầu, vì đôi khi tốt hơn hết là để dành bản thân cho trận chiến lớn hơn. Chiến đấu cho điều ta tin tưởng, cho công lý ở mọi nơi là can đảm và đáng phục, nhưng ta phải học cách phân biệt, vì khi đối mặt với sự không khoan dung, sự cuồng tín hoặc ngu dại, thông thường tốt nhất là bỏ đi, để dành sinh lực của mình cho một sự nghiệp xứng đáng hơn.

– Tôi mới mười bảy, - Beñat nói, dường như đây là một tệ nạn hoặc một lời tuyên án.

– Đành cười mà chịu vậy, sau đó hãy thoát khỏi nơi đó ngay khi có thể. Rời khỏi nhà và sống cuộc đời của mình.

– Anh đã làm như thế sao?

– Chính xác thì đó là điều tôi không làm.

[1] Chất độc không màu, mùi hôi thối, sinh ra khi thịt bị thối rữa.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.