Amaia vào phòng ngủ. Cây đèn tỏa ánh sáng dịu lên người James đang ngủ say.
– Chào anh yêu, - chị thì thầm.
Chị cúi hôn anh và liếc trộm Ibai nằm nghiêng ngủ, lần đầu tiên ngậm đầu vú giả, khi còn bú mẹ nó thường không chịu.
James ra hiệu về phía thằng bé:
– Nó ngoan lắm, em không ngờ nó ngoan thế nào đâu. Ờ, tất nhiên là thiếu vú mẹ nó đã có đầu vú cao su, - anh nói và cười toét. - Anh đang nghĩ phải kiếm cho mình một đôi như thế, - anh nói và khum tay đặt lên ngực chị.
–Ý ấy không tồi, - chị cười và gạt tay anh, - em vẫn phải làm việc một chút.
– Lâu không?
– Không, không lâu lắm. Chị cười, chộp chiếc laptop và ra khỏi phòng.
Trong inbox có ít nhất bốn thư của bác sĩ Franz. Việc này bắt đầu khiến chị khó chịu, nhưng không thể quyết định trả lời hay xóa đi nếu không đọc. Xét theo bề ngoài, chúng có vẻ tiêu biểu cho sự giận dữ cổ điển khi bị hắt hủi, còn theo lý luận cơ bản, chúng khiến chị phải suy nghĩ. Đọc chúng sau, chị mở thư của Johnson.
Chẳng có gì bí mật việc FBI có hệ thống nhận mặt tiên tiến nhất thế giới, có thể xác minh những hình ảnh rõ ràng hoặc không rõ ràng bằng phương pháp sinh trắc học đa phương tiện chính xác. Những tiến bộ này thích ứng với các chương trình mới như Indra, dùng ở các sân bay châu Âu, nhưng hạn chế khi làm việc với các bộ mặt hiện tại hoặc các hình ảnh quá rõ.
Chính phủ Mỹ đã đầu tư hơn một tỷ đô la để triển khai một hệ thống có thể nhận các bộ mặt trên đường phố, tại các sân bóng hoặc các cảnh phim CCTV. Email của Johnson cho chị biết họ không tìm thấy sự trùng khớp sau khi cho hình ảnh vào hệ thống, đính kèm một báo cáo chi tiết của chuyên gia gồm những nhận xét và một tính toán chi tiết xử lý, dùng nhiều lớp ánh sáng. Tóm lại: họ đã cố chiếu sáng những khoảnh mờ trên mặt, cho thấy bộ mặt đã hóa trang công phu, khiến việc tái tạo chính xác khó khăn hơn. Báo cáo cũng gợi ý rằng có thể ống kính camera bị hỏng, hoặc một vật lạ xuất hiện lúc chụp. Đính kèm là hai ảnh, một cái chuyên gia gọi là “nhện”, cái khác đã được xử lý bằng kỹ thuật số.
Amaia mở file thứ hai, và ngắm bộ mặt một thanh niên Caucasian với những đường nét thông thường. Cái mũ, bộ râu và cặp kính đã được hủy bỏ, cái nhìn chằm chằm đờ đẫn được tái tạo chẳng đem lại thông tin gì. Mở file “nhện”, chị sửng sốt nhìn chằm chặp vào hình ảnh. Ảnh này có mũ, râu và kính, nhưng ở giữa trán là một con mắt đen với diềm mi dài, chính vì thế chuyên gia ám chỉ là “nhện”. Chị ngắm kỹ hình ảnh vài giây trước khi chuyển cho Jonan và Iriarte.
Các thư của bác sĩ Franz đúng như chị nghĩ: nửa năn nỉ, nửa than van bào chữa cho bệnh viện yêu quý của mình. Nhưng ở hai thư cuối là những lời buộc tội không căn cứ chống lại Sarasola: “Người đàn ông đó đang che giấu điều gì đó, ông ta không phải như bề ngoài, song tôi chưa có bằng chứng”. Không lẽ tất nhiên là ông ta không có. Franz cũng đính kèm nhiều báo cáo khác nhau của các bác sĩ khác ở trung tâm, cùng nhiều bài báo trong các tạp chí khoa học danh tiếng, chứng thực quan điểm của ông là bệnh nhân không thể cư xử bình thường nếu không uống thuốc. Sau khi đọc qua, Amaia thấy các biệt ngữ y khoa thật buồn chán. Chị xem giờ, đóng laptop và quyết định xem James có đợi chị như đã hứa không. Chị mỉm cười lúc trèo lên cầu thang: James bao giờ cũng giữ lời.
Lần đầu tiên trong nhiều ngày, Amaia thức giấc thanh thản khi James đặt Ibai cạnh chị. Lúc nó thức dậy, thơm tho, dễ thương và tặng mẹ một nụ cười khiến tim chị bừng sáng theo kiểu chưa bao giờ hình dung nổi. Siết chặt những bàn tay bé xíu trong tay, chị nhớ lại lời Iriarte: “cánh tay bé xíu”. Hình ảnh cái đầu lâu nhỏ bé, thóp mềm chưa kín và những ngôi mộ của mairu bao quanh Juanitaenea lóe lên trong đầu chị. “Vậy cô là một trong những người đó”. “Người chết làm mọi thứ họ có thể”.
James vào, tay cầm chai sữa cho Ibai và cà phê cho chị. Anh mở cánh chớp và đứng chăm chú nhìn vợ.
– Amaia, mặt em sao thế?
Chị nhớ lại cú đấm, cảm thấy đau nhói lúc sờ lên má. Chị xuống giường, soi gương. Má chị không bị sưng hết, nhưng một vệt bầm tím kéo dài từ má tới tai sẽ biến thành nhiều sắc thái khác nhau: nâu, đen và vàng trong vài ngày tới. Chị phủ một lớp trang điểm, song chỉ làm mặt đau nhức, rốt cuộc chị đành bỏ, vì tiếng Zabalza vang lên trong đầu, cam đoan với chị rằng Beñat Zaldúa sẽ không đi học với những vết bầm tím trên mặt.
“Đúng, trong trường hợp đó mình cũng không tới trường hôm nay”, chị nói với hình ảnh của mình trong gương.
Amaia dành phần buổi sáng còn lại gọi điện, khiến chị có cảm giác mình chẳng thu được gì ở bất cứ đâu. Vẫn chưa tìm thấy chồng Nuría. Nhiều xe tuần tra bố trí bên ngoài nhà cô cũng như nhà thờ, không có thêm vụ mạo phạm nào. Tất nhiên là không rồi: hiện giờ chị đã hoàn toàn chú ý đến tarttalo, đó là mục tiêu duy nhất của vở diễn này, chẳng có lý gì hắn tiếp tục đi theo đường cũ.
Mặc dù đã kiểm tra email đêm trước, chị vẫn xem lại trước khi nói chuyện với Etxaide và Iriarte về những hình ảnh được làm rõ nét đáng kể.
Iriarte cho rằng hoặc ống kính hoặc hình ảnh bị hỏng hoặc một con nhện thật bò lên camera bên ngoài bệnh viện. Jonan gợi ý rằng “nhện” xuất hiện đúng ý chủ nhân: một con mắt mà vị khách vẽ là nét chấm phá cuối cùng hoàn tất hình ảnh hắn muốn miêu tả; ngoài ra, tarttalo là một Cyclops. Trong các băng hình khác của nhiều tuần trước, họ chỉ thoáng thấy đỉnh đầu hắn, còn trong ngày cuối cùng đó, hắn ngước nhìn vào camera và còn kéo dài đủ lâu để họ lấy được ảnh bộ mặt hắn.
– Tôi không nghĩ đây là sự trùng hợp ngẫu nhiên, - Etxaide nói.
Amaia cũng không nghĩ thế.
– Khoảng buổi trưa, chúng ta hy vọng có thêm kết quả cập nhật về dụng cụ phẫu thuật chính xác hơn. Chúng ta không thu được gì về những người cụt tay trong sổ đăng ký của các bệnh viện, có hoặc không lắp cánh tay giả, nhưng chúng ta không làm nửa chừng…
Trước khi ngắt máy, Jonan nói:
– Sếp à, tôi có thêm một email nữa. Tôi sẽ forward cho chị.
Vài giây sau, nó xuất hiện trong inbox của Amaia. Như trước kia, nó ngắn gọn và dai dẳng: “Đức Mẹ đợi lễ vật của bạn”. Hình ảnh lamia xuất hiện ở góc bên phải dưới cùng. Ngay lập tức, Amaia thấy cáu tiết vì trò chơi ngu ngốc này. Chị đưa tay che mặt và cứ giữ nguyên, dường như làm thế chị có thể bóc đi sự bực tức của mình. Chị làm trầy lớp da má, khiến chị càng cau hơn. Chị gọi Jonan.
– Tôi biết cậu bận, nhưng liệu cậu có dịp tìm ra những thư này xuất phát từ đâu không?
– Tôi đã tìm, nhưng nói thật, nó cũng không giúp chúng ta nhiều nhặn gì đâu. Bọn chúng có thể gửi từ một account miễn phí, không tên tuổi, chỉ có biệt hiệu: bầytôicủaĐức Mẹ@hotmail.com. Từ tiêu đề, chị có thể thấy chúng gửi từ một địa chỉ IP thay đổi liên tục, sau khi lần theo địa chỉ đó, kết nối bằng kết nối, hình như chúng gửi từ một điểm truy cập Internet miễn phí như ở các sân bay hoặc trạm xe buýt… Gần như không thể theo vết người gửi, dù chúng phải online. Việc này đã làm trong những trường hợp đặc biệt dính líu đến bọn khủng bố quốc tế, nhưng… Hiện giờ, tôi vẫn đang xem. May rủi là, nếu chúng ta có tìm ra nơi gửi chúng thì người gửi đã đi khỏi đó từ lâu…
– Thôi, đừng lo việc đó nữa. - Chị ngắt máy.
Sau bữa sáng và giờ chơi buổi sớm, Ibai bắt đầu ngủ nên James trông thằng bé. Amaia hôn cả hai, chào tạm biệt bà cô và cầm chiếc áo khoác Puffa to xù, chị rời khỏi nhà. Chị vào xe, bật điện, thì chợt nhớ tới một thứ và lại tắt. Chị xuống xe và trở lại ngôi nhà, đứng nhìn đăm đăm mặt đường lát đá, cho đến khi nhận ra hai hoặc ba hòn đá nhỏ, tròn, trông đã lỏng ra. Chị nhặt một hòn, cho vào túi áo rồi trở về xe.
Lúc nhằm hướng rời khỏi Elizondo, chị cố tập trung vào việc lái xe nhưng ra đến đường cái, chị thở ra hết cỡ, nhận thấy mình căng thẳng biết bao. Các khớp đốt ngón tay trắng bệch lúc chị nắm chặt tay lái, bàn tay chị lạnh và ẩm bất chấp cái rét mùa đông dường như kéo dài mãi mãi ở Baztán. Chị lau tay vào ống quần. Khỉ thật! Chị cảm thấy sợ, và ghét như thế. Thông thường, chị chào đón nỗi sợ, nó giữ cho các sĩ quan cảnh sát sống sót, cảnh giác và thận trọng. Nhưng nỗi sợ chị đang cảm thấy không giống như loại làm mạch đập nhanh như khi sợ một nghi phạm có vũ khí, đó là nỗi sợ khác hẳn, cổ xưa, có mùi mồ hôi và nước tiểu, nỗi sợ lâu đời trong tâm hồn và trong suốt năm qua chị đã có thể kìm giữ nó, nhưng giờ đây nó đang giành lại lãnh thổ. Lãnh thổ của sợ hãi. Trước kia chị từng ở đó và biết mình không thể chiến thắng nó, và cách duy nhất là giữ cho đầu óc tỉnh táo để đương đầu với nỗi sợ của mình, hết lần này đến lần khác. Chị cảm thấy một nỗi buồn sâu sắc, cho cả bản thân mình và cho bé gái kia, lúc nhận ra rằng kẽ hở ánh sáng chị đã phát hiện ra lại đang đóng chặt thêm lần nữa. Cơn giận dâng lên như ngọn thủy triều mạnh mẽ. Tại sao chị phải cam chịu chuyện này? Chị sẽ không thế nữa: có lẽ trong quá khứ, khi họ là trẻ con, những sức mạnh của tạo hóa đã hiệp lực chống lại họ, khiến họ sống trong sợ hãi suốt từng ấy năm, nhưng chị không còn là một đứa trẻ và chị từ bỏ trò chơi cho phép họ thao túng chị.
Amaia lái vài dặm theo một con đường có vẻ giống đường nông thôn tốt, cho đến khi bắt gặp một bầy pottok, loại ngựa nửa hoang dã đang thoải mái gặm cỏ quanh Baztán. Chị tấp xe vào lề đường và đợi. Những con pottok bất kham thường chắn đường, vì thế chị ngồi yên và quan sát chúng. Một con ngựa cái đến gần, tò mò ngửi bàn tay Amaia đưa ra. Nhận thấy đàn pottok không có ý định di chuyển, Amaia mở cốp xe, lấy đôi ủng cao su đến đầu gối vẫn cất ở đó phòng trường hợp khẩn cấp và cầm cái đèn pin. Chị cất bước xuống đầu con đường dốc, đi sang một bên để tránh trượt vào lớp cỏ cao và ướt. Xuống xa hơn, cỏ thưa dần ở cả hai bên bờ sông, dường như mới được cắt. Chị đi theo dòng sông chảy êm đềm dọc doi đất kéo dài cho đến cây cầu xi măng có tay vịn han gỉ mà chị tránh chạm vào. Sang đến bên kia, Amaia đi qua một hàng rào dựng tạm bợ, chắc chắn được dựng lên để ngăn súc vật lạc, tin rằng nó đóng lại đúng cách sau lưng mình. Chị băng qua đồng cỏ thoáng rộng tới một ngôi nhà nông trại lớn, trông như bị bỏ hoang nhưng không hề luộm thuộm; các khung cửa sổ được ốp kín cẩn thận bằng những tấm gỗ xẻ. Lúc đến gần, chị bắt gặp một mùi không thể nhầm lẫn của cừu và trông thấy nhiều cục phân bé xíu màu đen, cho thấy cỏ trên đồng đã thu hoạch xong. Sau khi đi vòng quanh ngôi nhà, chị bắt đầu xác định phương hướng cho mình; nếu tiến về phía trước vài mét sẽ tới bìa rừng, gần nơi chị đỗ xe lần trước. Kiểm tra độ phủ sóng điện thoại, chị thấy càng đến gần rừng tín hiệu càng yếu hơn. Mạch chị đập dồn dập, thình thịch trong tai nhanh như gió cuốn. Thình, thình, thình. Chị hít một hơi thật sâu cố trấn tĩnh, theo bản năng chị rảo bước, mắt dán vào vệt sáng nhỏ xíu ở cuối con đường chỉ lối ra khỏi cánh rừng. Chị nhằm tới đó, cố kìm sự ham muốn trẻ con là ù té chạy, cùng với cảm giác hoang tưởng rằng có người đang đi theo. Đưa tay lên bao súng, chị nghe thấy mình tự mỉa mai: Đúng thế, cô bé xinh xinh ơi, một khẩu súng. Sẽ dùng nó làm gì đây?
Năm mười một tuổi, giống như mọi cô bé cùng trang lứa, Amaia thường cùng các bạn dám vào nghĩa trang lúc ban đêm. Đây là một trò chơi ngu ngốc, gồm cả việc lấy các đồ vật khác nhau đặt trên những ngôi mộ tận cuối nghĩa trang. Khi trời tối, chúng kéo cả bọn để xem đứa nào dám vào trong lấy đồ. Chúng quy định là phải đi bộ tới nơi rồi trở về, không được chạy, trong lúc những đứa khác đợi ở hàng rào. Thông thường, lúc vừa đến lối ra, một đứa hay pha trò kêu toáng lên: “Nhìn đằng sau mày kìa!” Thế là đủ cho cả bọn - kể cả đứa gan dạ nhất - ù té chạy, cứ như ma quỷ đang theo sát gót. Sợ hết hồn vía. Chị nhớ lại những đứa khác cười rộ trong lúc để mắt đến đường mòn, xem có gì khác ngoài tiếng la hét của chúng khiến các bạn bỏ chạy… Lần sau, dù biết tất cả bạn trẻ sẽ kêu thét, chúng vẫn chạy. Chỉ để phòng hờ thôi.
Tới cuối đường mòn, Amaia vào một khoảng rừng thưa vừa bị bầy cừu chiếm giữ, kéo dài tới dòng suối kỳ ảo, nơi cô gái bắt chuyện với chị. Lúc chị tới gần, bầy cừu tản rộng theo hình quạt, chị len qua các khe hở trong hàng. Từ xa, Amaia đã thấy người chăn cừu ngồi trên tảng đá. Chị vẫy anh ta, gợi ý anh ta vẫy lại. Tự an ủi vì sự có mặt của anh ta, chị băng qua cây cầu nhỏ hơn một doi đất trên dòng suối. Một cơn run chạy suốt sống lưng, chị tiếp tục đi tới vạt dương xỉ viền con đường mòn, rồi bắt đầu trèo, dựa vào những tảng đá cổ tạo thành một cầu thang tự nhiên. Dừng lại ở khoảng đất kéo dài gồ ghề, nơi James và Ros đợi chị trong chuyến thăm lần trước, Amaia nhận thấy con đường dốc ngược trông quang đãng hơn, dường như có người đã tới đó trước chị. Tuy vậy, nhiều bụi mâm xôi và cây kế vẫn cào xước khách qua đường.
Thọc tay vào túi, chị tiến bước lên đường mòn. Cảm giác có người vừa qua con đường này mỗi bước càng mạnh, đường càng rộng cho đến lúc tới đích. Chị hơi ngạc nhiên nhưng gần như nhẹ người khi thấy không có ai ở đó. Mất mấy giây chị mới làm quen lại nơi này. Miệng hang giống như một nụ cười méo mó đẽo từ tảng đá, há hốc trước mặt chị. Tảng đá “Đức Mẹ” thiêng liêng cao ba mét với những đường cong gợi tình nhìn xuống thung lũng, trên cái bàn đá, hơn một chục hòn đá nhỏ sắp xếp như các quân trên bàn cờ đam cổ xưa. Chị tiến tới và ngắm nghía.
Chúng không phải là những hòn đá lấy trên đường, có ai đó mang chúng tới đây làm lễ vật dâng Đức Mẹ. Amaia lắc đầu không tin, rồi nhận ra mình đang làm đúng như thế. Chị dò dẫm tìm hòn đá mang từ bên ngoài nhà bà cô và nắm chặt nó trong tay, ngập ngừng: “một hòn đá phải mang từ nhà”, “Đức Mẹ thích bạn mang một hòn đá từ nhà hơn”.
Chị tự hỏi có bao nhiêu người trong thung lũng nhận được tin nhắn ấy. Họ là người chuyển tiếp thông điệp ấy với hy vọng sẽ mang lại cho bạn một vận may, hoặc ít ra cũng giải thoát bạn khỏi một lời nguyền chăng?
Amaia không có ý định chuyển tiếp, nhưng để lại một hòn đá cũng chẳng hại gì. Chị liếc nhìn quanh, nửa mong phát hiện ra một camera do thám giấu trong các cành cây, hoặc nửa tá paparazzi rình mò chụp những bức ảnh với chú thích: Thanh tra thám tử cả tin viện đến những nghi thức phù phép! Nắm chặt hòn đá trong tay, rồi nhận ra là viên tròn bằng xi măng, chị dùng móng tay cạo vào nó, cố không làm hỏng. Chị đặt nó xuống, hoàn tất một hàng, rồi quay lại, đối diện với cửa hang, đi thẳng tới lối vào. Amaia ngửi thấy mùi thơm của hoa, nhưng không biết từ đâu. Rút đèn pin, chị cúi xuống chiếu vào bên trong. Hang trống rỗng, ngoài một bát đựng táo tươi và vài đồng xu mà ai đó ném vào. Chị tắt đèn rồi quay người, bắt đầu đi xuống.
Lúc tới cái bàn đá, chị nhận ra những hòn đá đúng như lúc chị để lại. Mi mong đợi gì? Chị lẩm bẩm, rồi cất bước. Mặc dù rất hợp để đi trong những cánh đồng ướt trên đất mềm, đôi ủng của chị vẫn trượt lúc chị trườn xuống con đường lổn nhổn đá. Chị xuyên qua những bụi cây thấp đến dòng suối như vọt ra từ sườn đồi trong một thác nước, những tảng đá màu xanh dương xỉ và bọt sủi trắng xóa. Người chăn cừu đã biến mất, nhưng bầy cừu vẫn còn đó, sự có mặt bình thản của chúng tô điểm thêm cho vẻ đẹp nơi này, cũng như loại bỏ mọi khả năng cô gái bí ẩn kia xuất hiện. Amaia ngước nhìn lên quả đồi của Mari lần nữa và mỉm cười, hơi thất vọng. Nhưng chị mong đợi gì nhỉ? Liếc nhìn đàn cừu lần cuối, chị nhận ra chúng đã ngừng uống nước và gặm cỏ, đầu chúng ngẩng lên như cảm thấy nguy hiểm hoặc nghe thấy một thứ gì đó mà Amaia không nghe được. Hoang mang vì hành vi lạ lùng này, chị đứng yên, lắng nghe. Ngay khi chúng ngẩng đầu, những cái chuông của chúng đồng loạt reo vang như một dàn cồng chiêng lớn. Sự im lặng đáng ngờ tiếp theo bị một tiếng huýt lanh lảnh phá vỡ. Amaia há miệng hít một hơi lớn lúc hoang mang nhìn chằm chặp vào những con vật đã tiếp tục gặm cỏ và uống nước.
Amaia cảm thấy căng thẳng và lạnh trên lưng, như thể có người vừa đắp một tấm khăn ướt lên da chị. Chị đã nghe thấy nó rõ ràng, cũng đã nhìn thấy nó. Những lời của nhà nhân chủng học Barandiarán mà chị đã đọc trong tác phẩm của ông một năm trước, trong khi điều tra vụ basajaun, trở lại với chị: “Con người biết đến sự có mặt của basajaun qua một loạt những tiếng huýt lanh lảnh, không cần với súc vật vì chúng có thể cảm thấy basajaun; các bầy cừu chào đón basajaun bằng những tiếng chuông đồng loạt”.
– Ôi, lạy Chúa tôi! - Chị lẩm bẩm.
Bất chợt hoảng hốt, Amaia vùng chạy qua đám cây. Ở đâu đó trong đầu chị, một giọng nói van nài chị dừng lại, nhưng chị đáp rằng mình không cần, chị chạy vì chỉ biết làm thế, như khi chị hay chơi trò trẻ con trong nghĩa trang. Nắm chặt khẩu súng, Amaia chạy nước rút theo con đường mòn. Lúc tới ngôi nhà nông trại bỏ hoang, chị liếc qua vai, không tuân theo bản năng mách bảo chị đừng làm thế. Không có người nào trong tầm nhìn. Tai chị đầy âm thanh của những tiếng thở rời rạc sau cuộc chạy điên cuồng. Sở trán, mồ hôi đang rỏ giọt, chị nhìn trừng trừng xuống khẩu súng trong tay. Hình dung mình trông ngớ ngẩn biết chừng nào, chị kéo khóa áo khoác và che vũ khí, miễn cưỡng đút nó vào bao. Băng qua cánh đồng rồi cây cầu, nỗi sợ nhường chỗ cho tức giận, và lúc tới xe đã bùng nổ thành cơn thịnh nộ dữ dội.
Đàn pottok đã đi rồi, để lại đằng sau vài đống phân còn bốc khói trên đường. Amaia vào xe, khởi động rồi tăng tốc, tim vẫn đập dồn. Chuyện quái gì đang diễn ra? Bọn chúng muốn gì ở chị? Chị không được điên! Tại sao chuyện này lại xảy ra với chị? Chị chưa đủ rắc rối trong đời riêng hay sao, chưa kể đến hiện là thám tử điều tra án mạng? Kẻ khốn nào đã quyết đổ lên đầu chị mọi thứ nhảm nhí huyễn hoặc này?
– Khốn kiếp! - Chị nhắc lại, đấm vào tay lái.
Cô của chị hoặc Ros sẽ diễn giải việc vừa xảy ra là một điều may mắn, nhưng Chúa ơi, chị là một cảnh sát! Là một thám tử có đầu óc sáng suốt và chỉ số IQ cao. Chị xuất sắc khi dùng lập luận và lương tri giải quyết các vấn đề, chứ không phải đem lễ vật dâng nữ thần dông tố hoặc các tiên nữ với bàn chân có màng. Không. Những con cừu đó không chào mừng vị chúa tể rừng sâu hơn các xương mairu có tác dụng gây mê.
– Khốn kiếp! - Amaia kêu lên, đấm thùm thụp vào tay lái lần nữa. - Khốn kiếp!Khốn kiếp! Khốn kiếp!
Cái hang đáng nguyền rủa ấy đáng bị khiển trách vì mọi chuyện. Nó là một trong những nơi xảy ra nhiều việc, mà vũ trụ với các quy luật của nó, các hố đen và những ngôi sao không thể ra đi một mình, khiến mọi vật trong vũ trụ nhức nhối như một ung nhọt khủng khiếp.
– Khốn kiếp! - Amaia hét lên, lần này đập vào bánh lái.
Bỗng nhiên, một phụ nữ mặc áo khoác màu nâu, viền lông thú quanh mũ trùm xuất hiện giữa đường. Amaia nhấn phanh. Chiếc xe trượt vài mét, rít lên tới chỗ đỗ ngay cạnh người phụ nữ, người đó quay ngoắt lại trừng trừng nhìn Amaia, mắt mở to, mặt tái mét. Amaia nhảy ra khỏi xe và chạy tới.
– Ôi, lạy Chúa tôi! Cô ổn chứ?
Người phụ nữ nhìn chị, cười bẽn lẽn.
– Vâng, vâng, chị đừng lo, chỉ hơi sốc thôi.
Lúc Amaia tới gần hơn để xem kỹ, chỉ nhận thấy bụng cô ta nhô lên dưới áo khoác.
– Cô đang mang thai ư?
Người phụ nữ cười ngượng ngập.
– Thật vụng về, tôi sẽ nói thế.
– Lạy Chúa tôi! Cô chắc là không sao chứ?
– Cũng như mọi người có thể trong tình trạng của tôi thôi.
Thấy Amaia vẫn lo âu, cô ta vội nói thêm:
– Tôi chỉ đùa thôi. Nói thật là tôi khỏe. Đây là lỗi của tôi, tôi không nên lang thang giữa đường và nên đeo một băng phản quang hoặc thứ gì đại loại thế. - Cô ta nhìn xuống và sờ cánh tay áo khoác màu nâu. - Mặc chiếc áo này tôi không dễ nhìn thấy, nhưng nó thoải mái.
Amaia thông cảm, gần cuối thai kỳ, chị hầu như chỉ mặc những trang phục tương tự.
– Không, là lỗi của tôi. Tôi không tập trung. Tôi mới là người phải xin lỗi. Ít ra cũng để tôi cho cô đi nhờ xe. Cô định đi đâu?
– Ồ, không đến nơi nào đặc biệt, tôi chỉ đi dạo thôi mà, đi bộ khiến tôi thấy dễ chịu, - cô ta nói và liếc nhìn cái xe, … nhưng tôi sẽ nhận lời, hôm nay tôi cảm thấy rất mệt mỏi.
– Tất nhiên rồi, - Amaia nói, mừng rỡ vì được giúp.
Chị mở cửa xe và đợi cô ta yên vị. Amaia nhận thấy cô ta trẻ, không quá hai mươi là mấy. Bên trong áo khoác, cô ta mặc quần bó màu nâu, áo len dài tay cùng màu. Tóc cô tết một bím buông sau lưng, cô đeo băng đô bằng đồi mồi tương phản với vẻ tái nhợt trên mặt khiến ban đầu Amaia ngỡ là cô bị sốc. Cô gái đang nghịch một thứ đồ nho nhỏ trong tay, có vẻ cô đã lấy lại bình tĩnh. Amaia trèo vào ghế lái xe và lại lên đường.
– Cô hay ra ngoài đi dạo ư?
– Thường xuyên hết mức có thể. Đấy là cách tập luyện tốt nhất vào cuối thai kỳ.
– Phải, tôi biết mà. Cách đây không lâu, tôi cũng trong tình trạng như cô. Hiện giờ tôi có một bé bốn tháng tuổi.
– Trai hay gái?
– Ờ, cứ tưởng là gái cho đến lúc sinh, sau đó tôi phát hiện ra là bé trai, - Amaia nói, trầm ngâm.
– Chị thích con gái hơn à?
– Không, không phải thế, chỉ hơi… chưng hửng thôi.
– Nếu chị có con trai, chắc hẳn vì đó là thứ rất có ý nghĩa.
– Tôi cũng nghĩ thế, - Amaia nói.
– Thật tuyệt diệu! - cô gái kêu lên và đăm đăm nhìn chị.
– Chị đã có con, chị không thể hình dung tôi thèm có con như thế nào đâu.
– Có chứ, - Amaia tán thành. - Tuyệt diệu thật đấy, nhưng cũng phức tạp lắm. Thỉnh thoảng tôi nhớ lại lúc mang thai, có đứa con cùng với mình, an toàn và bình tĩnh, - chị nói, vẻ hơi u uất.
– Tôi hiểu, nhưng tôi không thể đợi thấy bộ mặt bé nhỏ của nó, giải thoát nó, - cô ta nói và chọc vào bụng mình. - Trông tôi kinh quá.
– Không phải thế đâu, - Amaia nhận xét.
Mà đúng là không. Mặc dù cô ta nói là mệt, song một cô gái chẳng hề có dấu vết nào mệt mỏi. Toàn thân toát lên vẻ khỏe mạnh, vào cái thời phụ nữ càng ngày càng mang thai muộn hơn, một người mẹ trẻ như thế là một cảnh tượng thích thú.
– Đừng hiểu nhầm tôi, mỗi lần nhìn ngắm con trai tôi đều thấy vui, nhưng bổn phận làm mẹ không lý tưởng như các tạp chí tô vẽ đâu.
– Ôi chao, tôi biết mà, - cô gái đáp. - Đây không phải là lần đầu của tôi.
Amaia nhìn cô, sửng sốt.
– Đừng bị diện mạo của tôi đánh lừa, tôi già hơn bề ngoài đấy. Thực ra, tôi không thể nhớ nổi lúc nào tôi không mang thai.
Amaia ngoảnh đi, che giấu sự bối rối. Một loạt câu hỏi đến trong đầu, nhưng chị cảm thấy không thể hỏi bất cứ câu nào với người chị vừa gặp, người chị suýt chẹt phải. Tuy vậy, chị nói:
– Vậy cô xoay xở việc có mang với làm mẹ ra sao? Tôi hỏi vì tôi rất vất vả vật lộn với những đòi hỏi của công việc và làm một người mẹ tốt.
Amaia nhận thấy cô ta suy nghĩ rất lung.
– Tôi biết. Vậy cô là một người trong bọn họ sao?
Những lời đó kích động ký ức về người đàn bà ghê gớm trồng hoa đã nói đúng từng lời như thế; Trong trí nhớ của mình, Amaia có thể tưởng tượng ra bà ta ngắt những chồi non bằng móng tay.
– Cô nói thế hàm ý gì? - Chị hỏi, đề phòng.
– Là một trong những người phụ nữ để người khác bảo ban mình cách làm mẹ. Chị vừa nhắc tới các tạp chí. Nghe này, chức năng làm mẹ là một thứ bản năng và tự nhiên hơn nhiều. Mọi thứ hướng dẫn, kiểm tra và khuyên bảo ấy có thể áp đảo người mẹ.
– Nhưng muốn làm mọi việc đúng đắn thì việc đó là bình thường, - Amaia đáp lại.
– Tất nhiên, nhưng những lo lắng như thế không được giải quyết bằng việc chị đọc bao nhiêu cuốn sách. Hãy tin tôi, Amaia, chị là người mẹ tốt nhất cho cậu bé của chị, bé là đứa con trai mà chị muốn có, - cô ta nói, vuốt ve vật trong tay, nhào lộn nó giữa các ngón tay.
Amaia không nhớ chị có nói tên ra với cô ta chưa, nhưng quyết bỏ qua. Thay vào đó, chị đáp lại:
– Tôi có nhiều nỗi ngờ vực, tôi cảm thấy mình dốt nát ghê gớm. Tôi không muốn làm bất cứ việc gì có hại cho thằng bé, bây giờ cũng như sau này.
– Cách duy nhất một người mẹ có thể làm hại con là không yêu thương nó. Người ấy có thể cho con mọi thứ nó cần - đồ ăn, quần áo, dạy dỗ - nhưng nếu đứa con không nhận được tình yêu của mẹ, thứ tình yêu tự nhiên, vô điều kiện của một người mẹ, chúng sẽ lớn lên cằn cỗi về cảm xúc, với một ý niệm sai lầm về tình yêu ngăn cản chúng trở thành người hạnh phúc.
Amaia nghĩ đến mẹ mình.
– Nhưng… - Chị đáp lại, - có những việc chắc chắn là tốt hơn, như nuôi con bằng sữa mẹ chẳng hạn.
– Cách tốt nhất để liên hệ với con chị là thoải mái, không theo chỉ đạo nào hoặc chịu thua sức ép. Nếu chị muốn nuôi con bằng sữa mẹ thì cứ cho nó bú, nếu muốn cho con bú bình thì cứ làm.
– Nhỡ cô không thể làm việc mình muốn thì sao?
– Lúc đó chị phải thích nghi, nhưng theo cách thoải mái, nhẹ nhàng. Chúng ta không thể lúc nào cũng có mùa hè, nhưng mùa thu cũng tốt chứ.
Amaia im lặng trong giây lát.
– Cô có vẻ là một chuyên gia.
– Đúng thế, - người phụ nữ kia tuyên bố, không hề bối rối. - và chị cũng vậy. Tôi nghĩ chị nên đốt một đống lửa mừng bằng tất cả những cuốn sách, băng đĩa, tạp chí ấy. Chị sẽ cảm thấy khá hơn, và có thể tập trung thực hiện sứ mệnh của mình. Cô ta nói những lời cuối dường như ám chỉ tới một mục tiêu đặc biệt.
Giật mình, Amaia quay nhìn cô.
– Xin dừng ở đây, người phụ nữ lạ mặt nói đột ngột, chỉ vào một chỗ bên đường, nơi có con đường nhỏ dẫn vào rừng. - Tôi sẽ đi tiếp một lát nữa.
Amaia đỗ lại và cô gái xuống xe, cúi xuống để chị có thể thấy mặt cô.
– Đừng lo lắng nhiều thế, chị đang làm rất tốt.
Amaia định nói gì đó, nhưng người phụ nữ đã đóng cửa xe và bắt đầu đi theo con đường đất nện. Lúc lái xe đi, chị nhận thấy người phụ nữ để lại vật gì đó trên ghế. Xem xét kỹ hơn, chị nhận ra nó. Chị giảm tốc độ và đỗ vào lề đường, ngắm nghía vật đó mà không chạm vào. Hoài nghi, với những ngón tay run run, chị cầm hòn đá nhỏ có vết nứt lên, lật nó lại và phát hiện ra xi măng ở đằng sau để gắn nó giữa những hòn đá lát bên ngoài nhà bà Engrasi.