Hành lang sực mùi xi đánh gỗ và dầu đánh bóng kim loại dùng làm sạch rất nhiều đồ bằng đồng thau từ cửa trước tới thang máy kiểu cổ kể cả những tấm gỗ ốp tường, ghế ngồi bọc nệm và nút bấm bằng ngà voi khiến họ ngưỡng mộ khi lên cầu thang.
Căn hộ có một cửa chính và còn thêm một cửa cho người giao hàng. Sau khi gõ cả hai cửa, một người đàn ông trạc bảy mươi thò đầu qua cửa giao hàng, mỉm cười.
– Cháu là Amaia?
Chị gật đầu. Chị chưa kịp nói gì, ông già đã vòng tay ôm chị và hôn lên hai má.
– Bác là Ignacio, rất mừng được gặp cháu.
Ông dẫn họ xuống một hành lang tối tăm, dường như mọi thứ càng ảm đạm hơn tương phản với căn phòng sáng sủa ông dẫn họ vào. Hai người phụ nữ và một người đàn ông nữa đang đợi họ.
– Amaia, đây là bác Angela và bác Miren của cháu.
Hai người phụ nữ đứng lên, ôm chị khá nồng nhiệt.
– Amaia yêu quý, chúng ta rất vui khi cháu gọi điện! Thật đáng sợ là chúng ta chưa bao giờ gặp nhau.
Mỗi người siết một bàn tay, họ đưa Amaia tới sofa, rồi ngồi xuống hai bên chị.
– Cháu là sĩ quan cảnh sát ?
– Thuộc cảnh sát Navarre ạ, - chị đáp.
– Trời đất ơi! Và là một thanh tra, không hơn không kém!
Bị áp đảo, Amaia liếc nhìn Jonan, anh ngồi đối diện với chị, tươi cười hài lòng. Chị cảm thấy lạ lùng. Ngoài Amatxi Juanita và cô Engrasi, không người thân nào thể hiện niềm tự hào gia tộc về chị, những người này chỉ mới gặp chị mươi phút và không hề biết đến sự tồn tại của chị, cho đến khi chị gọi đến vài giờ trước. Các bác gái và bác trai của chị ở San Sebastián, thỉnh thoảng Rosario có nhắc tới khi hồi tưởng về thời thơ ấu, và là chủ đề cho những câu hỏi lặp đi lặp lại mà chắc chắn chỉ được trả lời ngắn gọn: “Chúng ta không nói đến chuyện này nữa, đây là việc của người lớn”.
Ignacio và Miren là anh em sinh đôi. Angela lớn tuổi nhất, giống Rosario đến kỳ lạ, và càng khó tin vì họ rất khác biệt nhau; Angela sở hữu vẻ thanh lịch mà Amaia luôn ngưỡng mộ ở mẹ mình, song không hề có thái độ kiêu kỳ, ngạo mạn như Rosario. Bà có vẻ thanh thản và hay cười, song điểm khác biệt lớn nhất là ánh mắt của họ. Cái nhìn chăm chú của bà Angela lướt trên vịnh Biscay, hiển hiện mọi vẻ huy hoàng qua các cửa sổ phòng khách, trước khi bình thản chuyển tới bộ đồ cà phê bằng sứ bày thêm lần nữa để tiếp Amaia, nụ cười ấm áp nở trên môi bà không hề có chút căng thẳng luôn phủ bóng hắc ám lên mọi cử chỉ của Rosario. Bất chợt, mặt bà sầm lại.
– Mẹ cháu giờ ra sao rồi? Cô ấy không..
– Không ạ, mẹ cháu vẫn còn sống, trong một bệnh viện đặc biệt. Mẹ cháu… yếu.
– Chúng ta không biết là có cháu, Amaia. Các chị cháu là Flora và Rosaura phải không? Nhưng chúng ta không biết Rosario có đứa con thứ ba. Càng ngày cô ấy càng thưa gọi điện, và mỗi lần chúng ta gọi đến, Rosario thường rất lạnh nhạt và sống sượng. Rồi một hôm, cô ấy bảo chúng ta hãy để mặc cô ấy một mình, hiện giờ cô ấy chỉ có một gia đình duy nhất là với chồng ở Baztán, và không muốn liên quan gì đến chúng ta nữa.
–Vâng, các mối quan hệ không phải là điểm mạnh của mẹ cháu.
– Hồi còn bé, Rosario như một tia nắng, lúc nào cũng vui vẻ, luôn luôn ca hát. - Bà Angela kể. - Chỉ đến sau này, Rosario mới bắt đầu cư xử lạ lùng.
– Nghĩa là sau khi mẹ cháu đến sống ở Baztán?
– Không, trái lại. Hồi đầu, mọi chuyện giữa chúng ta vẫn ổn thỏa. Mùa hè, mẹ cháu đưa các chị cháu đến đây và các bác cũng tới đó vài lần.
Ông Ignacio xen vào:
– Bác cho là từ sau khi đứa con gái nhỏ bị chết.
– Bác biết chuyện ấy ạ? - Amaia thẳng người lên.
– Theo kiểu nói thì… Chúng ta chỉ biết khi chuyện đã xảy ra. Thậm chí Rosario còn không kể với chúng ta nó đang mang thai. Một hôm, nó gọi điện báo nó sinh một đứa con gái và bé chết ngay khi chào đời.
– Chết ngay khi chào đời ư?
– Phải.
– Bác có nhớ ngày tháng không ạ?
– À, con trai bác chịu lễ ban Thánh thể lần đầu vào tháng Năm, như vậy phải là mùa hè năm 1980. Đúng rồi, 1980.
Amaia buột một tiếng thở dài thật to:
– Đó là năm cháu ra đời.
Các bác đều nhìn chị, hoang mang.
– Cháu vừa phát hiện ra cháu có một người chị sinh đôi giống hệt, theo giấy chứng tử thì khi sinh ra khỏe mạnh và chết sau đó một lát vì Hội chứng đột tử của trẻ sơ sinh.
– Ôi, lạy Chúa tôi! - Bà Miren rùng mình. - Vậy bé gái đó…
– Tôi chẳng ngạc nhiên, bà Angela nói, - Rosario lúc nào cũng tránh né sự thật. Cô ấy chỉ giải thích những sự việc phù hợp với mình, mặc dù lời giải thích bao giờ cũng hư cấu.
– Theo bác thì tại sao mẹ cháu nói với các bác về đứa trẻ chết non mà không đả động gì đến hai đứa sinh đôi?
– Thì rành rành ra đấy: Rosario phải kể với chúng ta, để có thể chôn con bé ở đây.
Amaia cảm thấy tim mình lỡ nhịp.
– Chị cháu được chôn ở đây sao?
– Phải, trong hầm mộ của gia tộc. Tất cả chúng ta đều có quyền chôn ở đó, là đồng-sở hữu, chúng ta chỉ phải thông báo với những người khác mỗi khi mở hầm mộ. Rosario biết thế, nếu không thì bác ngờ rằng cô ấy sẽ chẳng nói gì với các bác. Bác còn nhớ, cô ấy còn không muốn các bác dự tang lễ. Rốt cuộc chúng ta vẫn đến vì bác nhất định đến bằng được.
– Còn cha cháu?
– Rosario nói với chúng ta là cha cháu ở nhà để chăm sóc các con gái và giám sát công việc ở xưởng bánh. Rõ ràng là cô chú ấy không thể đóng cửa xưởng dù chỉ một ngày.
– Đám tang rất buồn, - ông Ignacio nói.
– Không linh mục, không người than khóc, chỉ có ba chúng ta, Rosario, người phu đào huyệt và cỗ quan tài bé xíu, cây thập giá đã mất. Bác hỏi: “Sao không có thập giá trên cỗ quan tài?” Cô ấy trả lời: “Nó không cần, nó chưa được rửa tội”.
Amaia cắn môi lúc lắng nghe.
– Chúng ta đặt một vòng hoa tang, đó là thứ duy nhất đánh dấu ngôi mộ sau khi hầm đóng lại. Bác hỏi Rosario tên con bé là gì để có thể đặt người thợ đá khắc lên bia, nhưng Rosario bảo chúng ta là nó chưa có tên, vì thế trên bia mộ chẳng có gì, nhưng con bé ở đó. May mắn thay, kể từ ngày đó hầm mộ chưa mở lần nào vì trong gia đình không có thêm người chết, xả xui, - bà nói và với tay sờ lên cái bàn gỗ.
Amaia ngẫm nghĩ việc này. – Có bác nào trông thấy xác không ạ?
– Xác đứa trẻ à? Không, quan tài đã niêm kín. Chúng ta cũng không muốn thế, việc cuối cùng mà bất cứ ai không muốn là nhìn thấy một đứa trẻ đã chết.
Amaia đăm đăm nhìn các bác, trầm ngâm suy nghĩ.
– Ngoài thực tế chỉ có các bác và cha cháu biết về chị cháu, sự tồn tại của người chị sinh đôi của cháu vẫn ở trong màn bí mật. Sự mâu thuẫn trong giấy chứng sinh và giấy chứng tử của chị cháu, cũng như phát hiện gần đây về những cái xương của chị cháu khiến việc chị ấy biến mất càng đáng ngờ hơn.
– Nhưng chúng ta đã trông thấy con bé được chôn cất.
– Các bác không trông thấy… - Amaia định nói “tử thi”, nhưng chợt thấy từ này đầy hàm ý, không thích hợp với một đứa trẻ chết non. - … thân thể của chị cháu. - chị nói.
– Lạy Chúa tôi, cháu định bóng gió gì thế? - Bà Angela nói, kinh hãi. - Có lẽ nào không có xác?
– Chí ít là một cái xác không toàn vẹn.
Các ông bà bác nín lặng, nhìn nhau lo lắng. Lúc Angela cất tiếng, giọng bà trang nghiêm:
– Cháu định làm gì bây giờ?
– Tận mắt nhìn thấy ạ.
– Ôi, như vậy có nghĩa là… - Bà Angela nói, đưa tay che miệng, dường như không thể nói thành lời một việc khủng khiếp đến thế.
– Vâng. - Amaia gật đầu. - Cháu sẽ không dám xin các bác cho phép cháu làm việc này, song cháu nghĩ đây là cách duy nhất để chúng ta có thể biết chắc chắn.
Bà Miren nắm tay chị.
– Cháu không cần chúng ta cho phép, Amaia. Là người nhà, cháu có toàn quyền yêu cầu mở hầm mộ.
– Bác sẽ gọi điện tới nghĩa trang, - ông Ignacio nói và đứng dậy. Một lát sau ông trở lại. - Chúng ta phải đợi đến lúc nghĩa trang đóng cửa vào tám giờ. Họ không muốn mở hầm mộ mà có nhiều người xung quanh.
– Tất nhiên rồi, - Amaia lẩm bẩm.
– Các bác sẽ đi cùng cháu, bà Angela nói với những người khác, họ gật đầu. - Nhưng cháu hiểu cho, chúng ta sẽ không nhìn vào bên trong đâu. Chúng ta đã khá già với cảnh đau buồn loại này.
– Dạ, không cần đâu ạ. Cháu rất tiếc đã đưa các bác vào chuyện này, các bác rất rộng lượng và bác nói đúng, chẳng dễ chịu gì khi…
– Chính vì thế chúng ta không muốn nhìn. - Bà bác cười. - Nhưng các bác muốn đi cùng cháu.
– Cảm ơn các bác, - Amaia đáp, thực sự cảm động.
– Sếp à, chúng ta có thể nói chuyện được không? - Jonan hỏi.
Chị đứng dậy và theo anh ra hành lang.
– Dù chị không băn khoăn việc mở hầm mộ, chị vẫn cần lệnh của tòa để mở quan tài. Người thân của chị không hỏi câu nào, miệng tôi cũng dán lại rồi, nhưng nếu chúng ta tìm thấy gì đó bất thường, chúng ta phải giải thích vì sao mở nó.
–Jonan, tôi không thể kể với thẩm phán Markina chuyện này, nó quá… Tôi không thể kể với bất cứ thẩm phán nào, tôi vẫn chưa có bằng chứng. Tôi không chắc chắn gì hết. Những nghi ngờ của tôi quá ư khủng khiếp. Tôi chỉ muốn tìm xem chị ấy có đó không, nhìn thấy cỗ áo quan nhỏ bé của chị ấy.
Jonan gật đầu, anh không ngờ chị lại hành động theo kinh Thánh, không như thanh tra Salazar mà anh biết. Trong lúc họ trò chuyện ngoài hành lang, chồng của bà Miren đi qua.
– Các cháu ở lại dùng bữa nhé, - ông tuyên bố.
Nghĩa trang Polloe nằm trên một quả đồi tại vùng phụ cận Egia của San Sebastián. Với đường hầm vòng quanh thành phố bên dưới, khu đất chôn cất rộng tới hơn mười lăm mẫu tây chứa 3500 hốc đá và 7500 hâm mộ, phần lớn là những tảng đá lớn và các công trình xây dựng bằng đá hoa, chứng tỏ sự huy hoàng đã qua của thành phố. Hầm mộ của gia tộc mẹ Amaia có ba khu vực: hai khu thấp hơn ở sườn đồi, một khu trung tâm cao hơn, một cây thập giá khổng lồ phủ kín bề mặt. Ba công nhân của thành phố đang đợi họ cạnh ngôi mộ, vừa hút thuốc vừa chuyện gẫu. Dùng một cần trục đặt dựng đứng trên hầm mộ, họ đặt hai thanh kim loại to trên nền đất và đẩy trượt bia mộ lên chúng.
Những người thân của Amaia vẫn ở chân hầm mộ, họ lùi lại vài bước sau khi hầm mở. Chị và Etxaide tiến tới để nhìn. Quanh rìa ngoài, hình thành một đường viền bùn và rêu, cho thấy đã nhiều năm nay hầm mộ không mở. Một mùi ôi phả ra từ bên trong, trông khô ráo. Xếp chồng trên giá kim loại bên phải là hai cỗ quan tài cũ. Không có gì hơn.
– Trong đó tối quá, - Amaia nói. - Tôi cần một cái thang.
Một phu đào huyệt tiến tới chỗ chị.
– Señora, nếu chị muốn vào bên trong, chỉ cần một…
– Phải, - chị nói và giơ phù hiệu của mình ra.
Anh ta nhìn qua và lùi lại. Họ đặt thang. Sau khi xỏ găng tay, Amaia đi xuống hầm mộ.
– Cẩn thận nhé, - bà bác gọi với từ bên rìa.
Jonan theo sau. Hầm mộ rộng rãi hơn từ bên ngoài nhìn vào. Trong một góc trần thấp hơn, họ trông thấy cỗ quan tài. Nó đúng như các bác của chị nhớ: nhỏ, màu trắng, trên nắp có một dấu vết, nơi là cây thập giá trước khi bị nậy đi.
Amaia bất ngờ dừng lại, không chắc lý do mình ở đó. Chị có thực sự sắp mở nắp quan tài của người chị song sinh, mà chị vừa khám phá ra sự tồn tại? Chị có thực sự muốn làm việc này không?
Lúc đó, bộ mặt giống mình như tạc lóe lên trong trí chị, ẩn trong nỗi đau và nỗi buồn vô tận, những giọt nước mắt đen sì, nặng trĩu, triền miên. Chị cảm thấy một bàn tay đặt lên vai.
– Chị có muốn làm việc này không, sếp? - Jonan hỏi.
– Không - chị nói và quay nhìn anh, thầm nghĩ Jonan hiểu mình biết bao. - Tôi sẽ làm, nhưng tôi cần cậu giúp. Mang nó ra ánh sáng giúp tôi.
Khi họ mỗi người khiêng một đầu, họ cảm thấy trọng lượng của thứ bên trong. Lúc Jonan thở dài to, Amaia nhìn anh lần nữa, cảm kích sự có mặt và sự giúp đỡ của anh.
– Đưa tôi cái xà beng - chị nói với người phu đào huyệt đang ngó vào trong hầm mộ.
Lùa các ngón tay xuống dưới nắp quan tài tìm mép, chị định vị cái xà beng. Những cái đinh trượt ra thành tiếng rít của kim loại siết vào gỗ. Đưa đầu xà beng vào xa hơn một chút, chị nhẹ nhàng cậy nắp. Jonan đưa cả hai tay nắm lấy nó, anh liếc nhìn Amaia trước khi nhấc lên. Chị gật đầu.
Một thứ có vẻ là cái khăn mặt trắng quấn quanh một khối kềnh càng. Amaia chằm chằm nhìn nó vài giây. Rồi chị cầm một góc khăn và nhấc lên, để lộ cái túi nhựa rách tả tơi và một lượng lớn thứ trông giống sỏi.
Jonan há hốc miệng, trừng trừng nhìn Amaia. Chị thọc bàn tay vào trong cỗ áo quan và vốc một nắm đá nhỏ. Lúc ngắm những hòn sỏi đầy bụi rơi chầm chậm khỏi bàn tay, chị biết cuộc tìm kiếm của mình sẽ chẳng mang lại gì hơn.