Bốn rưỡi chiều, James đánh thức vợ bằng nhiều nụ hôn nhẹ lên trán chị. Chị cười toét lúc ngửi thấy mùi cà phê anh thường mang đến tận giường.
– Dậy đi, Người đẹp ngủ ơi, cơn sốt của em qua rồi. Em thấy thế nào?
Amaia nghĩ về việc đó. Môi chị khô khốc và cứng, tóc chị bết vào sọ như bị ướt, chân vẫn hơi ngứa, nhưng về mặt khác thì ổn. Chị mỉm cười, thầm biết ơn vì một giấc ngủ không mộng mị, không đem lại hồi ức nào.
– Em ổn, em đã nói rồi, em chỉ mệt thôi mà.
James chăm chú nhìn vợ vẻ dò hỏi nhưng không nói gì. Anh biết chị không thích anh nói phải cẩn thận, phải nghỉ nhiều hơn, ngủ nhiều hơn. Anh thở dài, đưa cốc cà phê cho vợ.
–Jonan gọi đấy.
– Cái gì? Sao anh không đánh thức em dậy?
– Thì anh đang làm đây! Cậu ấy nói mười phút nữa sẽ gọi lại.
Amaia ngồi trên giường, dựa vào đầu giường gỗ dù cái gối dày vẫn thúc vào xương sống chị. Chị nhấm nháp cà phê và bàn tay rảnh tìm số của Jonan.
– Sếp à, tôi đang chuyển để chị nói chuyện với tiến sĩ Takchenko, - anh nói ngay lúc cầm máy.
– Thanh tra Salazar, chúng tôi đã tìm thấy nhiều trùng khớp giữa mẫu tóc, nước bọt và mẫu xương số sáu và mười một của Guardia Civil. Với mẫu số sáu, trùng khớp 100%, vì thế chúng tôi khẳng định tóc và xương thuộc cùng một người. Trong trường hợp mẫu số mười một, sự trùng khớp gen đẳng vị cho thấy xương và nước bọt thuộc hai anh chị em ruột. Tôi mong chúng tôi đã giúp được ít nhiều, - chị nói, đưa điện thoại cho Jonan trước khi Amaia kịp đáp lại.
– Sếp à, chị nghe đây. Chúng ta có một trùng khớp. Markina đang gọi điện cho Chánh thanh tra lúc chúng ta nói chuyện. Tôi đang lái xe về Pamplona với ông ấy. Tôi hình dung Chánh thanh tra sẽ gọi chị ngay khi ông ngắt máy.
– Làm tốt lắm, Jonan. Tôi sẽ gặp cậu ở Pamplona… - Chị nói, lúc nghe thấy tiếng bíp của cuộc gọi đến.
– Thưa ngài?
– Thanh tra, thẩm phán Markina vừa gọi, thông báo cho tôi về những phát hiện của các vị. Chúng tôi đã bố trí cuộc họp ở đồn cảnh sát Pamplona khoảng hai tiếng rưỡi nữa.
– Tôi sẽ tới đó.
– Thanh tra… cô có thể đến sớm hơn một chút được không? Có một việc tôi muốn bàn với cô.
– Được ạ, một giờ nữa tôi sẽ tới đó.
Chị ôn lại thông tin đã có cho đến lúc này, đoán rằng Chánh thanh tra muốn cập nhật tin tức cho ông trước khi Markina tuyên bố chính thức mở vụ án. Kết quả xét nghiệm đã nhìn nhận mọi sự việc dưới một ánh sáng mới: thêm hai phụ nữ bị chồng giết trong những tội ác bạo lực gia đình, rõ ràng không liên quan, cả hai đều bị cắt cụt chi giống nhau và xương của họ đều xuất hiện trong một cái hang ở Arri Zahar. Cả hai kẻ tội phạm đều tự tử sau khi giết bạn tình, một việc không phải là hiếm thấy. Các chi bị cắt đều bị đưa khỏi hiện trường gây án, một vài cái xương có vết cắn như trong vụ Johana Márquez. Xương của các nạn nhân xếp thành đống trước cửa hang, bắt chước gã khổng lồ trong thần thoại, mà tên hắn được thủ phạm sử dụng công khai, kỷ tội ác của hắn bằng máu của nạn nhân, do các môn đệ hiến tế cho hắn. “Tarttalo” gào rú từ các bức tường một cách khiêu khích, trâng tráo. Sự càn rỡ của hắn đã đạt tầm cao mới với những thông điệp hắn gửi tới cảnh sát qua một đại diện như Markina hoặc khi hắn ép Quiralte đợi cho đến hết kỳ nghỉ sinh của chị, trước khi tiết lộ nơi chôn xác Lucía Aguirre. Cuối cùng, trong động thái táo bạo và khiêu khích hơn cả, hắn đã tiếp cận mẹ chị. Ý nghĩ cả hai cộng tác với nhau khiến Amaia rùng mình. Họ đã nói chuyện ư? Chị không biết chắc làm thế nào Rosario có thể nói năng dễ hiểu, hình như bà có đủ khả năng ưng thuận một danh sách khách thăm, hoặc yêu cầu chính người đó một cách cụ thể. Càng nghĩ, Amaia càng nhận ra vị khách ấy phải quen biết Rosario trước khi bà bị giam ở bệnh viện Santa María de las Nieves, vì từ khi có lệnh của tòa yêu cầu giam giữ bà ở đó cách đây bảy năm, liên hệ duy nhất của bà là với các nhân viên y tế hoặc các bệnh nhân.
Trên thực tế, họ có thể loại trừ một người làm công hoặc một người làm cũ, vì vị khách cải trang không phải để tránh bị những người quen biết nhận ra, mà chỉ làm cho khó nhận dạng. Không, đây phải là người ở ngoài bệnh viện. Một người nào đó biết Rosario. Nhưng từ bao giờ? Từ trước khi bà ốm và bị gửi tới hết bệnh viện tâm thần này đến bệnh viện khác? Từ đường về? Ở Baztán? Sự lựa chọn cái hang cho thấy hắn am hiểu khu vực, dẫu cho bất cứ một trong hàng trăm người đi bộ đường dài lang thang qua các khu rừng mỗi mùa hè đều có dịp qua đó, hoặc được hàng chục tấm biển chỉ đường hướng dẫn, nêu rõ đặc điểm trên nhiều website khác nhau về thung lũng, ngay cả ở tòa thị chính Baztán.
Còn nữa, một cái gì đó trong cách dàn dựng, chữ ký của các tội phạm, cùng sự lựa chọn cái tên gợi lên một liên quan độc hại với thung lũng. Ban đầu, giống như Padua, chị đã ngỡ hắn liên tưởng tới một sinh vật hoang đường nên tự xưng “Tarttalo” chỉ là một cách thu hút sự chú ý tới những hành động của hắn trong việc khuấy động vụ basajaun. Amaia không bao giờ hiểu nổi vì sao các nhà báo lại tặng cho bọn sát nhân những cái tên ngớ ngẩn ấy, không thể tùy hứng hơn trong vụ basajaun. Chị chợt nghĩ có thể nói tương tự về cách cảnh sát gán cho các vụ của họ. Basajaun không chỉ tùy tiện, mà còn sai nữa. Một hình ảnh của cánh rừng đến với chị, sống động và mãnh liệt đến mức sự có mặt bình thản và uy nghi của người vệ sĩ rừng sâu gần như cảm thấy được rõ ràng. Amaia mỉm cười, cách chị thường có mỗi khi nhớ tới hình ảnh ấy, và bao giờ cũng đem lại cho chị cảm giác yên bình.
Sau khi chào hỏi vài người quen biết ở lối vào, Amaia lên thẳng văn phòng Chánh thanh tra và đợi một cảnh sát mặc đồng phục báo tin chị đến. Giống lần cuối cùng, sếp của chị có bác sĩ San Martín tháp tùng. Sự có mặt của ông khiến chị cảnh giác. Chị chào thượng cấp, bắt tay bác sĩ và ngồi vào chỗ Chánh thanh tra chỉ định.
– Thanh tra, chúng tôi đang đợi thẩm phán Markina tới để xác nhận điều chúng ta đã biết: xét nghiệm chứng tỏ các xương tìm thấy trong hang ở Baztán thuộc hai nạn nhân nữ của các tội ác bạo lực mang cùng một chữ ký. - Chánh thanh tra đeo kính, ngả người và đọc to. - TARTTALO. Thẩm phán đã thông báo cho tôi qua điện thoại rằng ông ấy định mở vụ án. Xin chúc mừng, cô đã làm việc rất cừ, nhất là xét đến những khó khăn khi điều tra các vụ bị bỏ ngỏ mà không xù lông xù cánh.
Ông ngập ngừng. Amaia nghĩ: Nhưng… chị biết sự ngập ngừng đến trước từ “nhưng”, song dù cố đến mấy Amaia vẫn không thể hình dung điều tiếp theo là gì. Chính Chánh thanh tra vừa nói Markina đang mở vụ án, chị chịu trách nhiệm đội điều tra án mạng, không ai có thể hất chị khỏi cuộc điều tra, và họ đã có bằng chứng nhiều hơn đủ - thực ra là quá mạnh. Các gia đình đòi hỏi công lý, nhưng…
– Thanh tra… - Chánh thanh tra lưỡng lự. - Còn một việc nữa, một thứ không liên quan đến vụ đặc biệt này.
– Không liên quan? - Chị đợi, nóng lòng chờ ông nói.
San Martín hắng giọng, bất chợt chị hiểu ra.
– Liên quan đến các xương tìm thấy tại hiện trường mạo phạm Arizkun sao?
– Phải, - San Martín đáp.
– Chúng thuộc gia tộc tôi? - Chị hỏi, hình ảnh những cái hố bé tí bị đào bới chợt lóe lên trong đầu chị.
– Thanh tra, trước khi tôi tiếp tục, hãy để tôi nói rõ rằng dù trong bất cứ tình huống nào ở bộ xương thứ nhất, tôi đã đích thân tiến hành các xét nghiệm và không cần phải nói, tôi tuân theo các trình tự rất nghiêm ngặt.
– Chúng thuộc một người thân của tôi chăng? - Chị hỏi, cố giục ông nhanh lên.
San Martín liếc nhìn Chánh thanh tra trước khi nói tiếp:
– Thanh tra, cô có biết phần trăm ADN xác lập sự kết nối di truyền của chúng ta với một gia đình, nói lên một người thân là ruột thịt hay họ hàng không?
Amaia nhún vai.
– Tôi nghĩ thế này: chúng ta có 50% gen tương ứng của cha mẹ, 25% của ông bà và cứ thế…
– Đúng vậy, - San Martín đáp. - Gen của mỗi người là độc nhất vô nhị. Mặc dù ADN của những người thân trực tiếp là rất gần về mặt di truyền, sự sắp xếp trọn vẹn của những thứ xác định chúng ta là các cá thể.
Amaia thở dài: Mọi thứ này dẫn đến đâu?
– Salazar, kết quả xét nghiệm ADN tôi đã thực hiện hôm qua trên các xương tìm thấy ở Arizkun chứng tỏ trùng khớp với ADN của cô 100%.
Chị ngồi, nhìn ông trừng trừng.
– Nhưng đó là điều không thể. - Tâm trí chị rối loạn. - Tôi không thể làm hỏng các mẫu này, tôi chưa bao giờ chạm vào chúng.
– Tôi không nói về việc chuyển ADN, Salazar, mà đang nói đến vấn đề xương có thật kia.
– Chắc là có nhầm lẫn gì đó. Có ai đó đã làm hỏng.
– Tôi đã nói với cô: tôi đích thân tiến hành các xét nghiệm. Khi có kết quả, tôi đã lặp lại quy trình và đạt được kết quả giống hệt. Đó là ADN của cô.
– Nhưng… - Amaia mỉm cười, hoài nghi. - Rõ ràng đây không thể là cánh tay của tôi, - chị nói và cười to, bứt rứt.
– Cô có biết liệu cô có một người chị khác không?
– Tôi có hai chị, không người nào mất một cánh tay. Hơn nữa, ông vừa nói với tôi rằng mỗi cá thể là độc nhất vô nhị, có thể trông giống tôi nhưng không thể là tôi.
– Trừ phi là chị em sinh đôi giống hệt nhau.
Amaia nghĩ câu trả lời, rồi ngập ngừng. Cuối cùng chị nói, rất chậm rãi:
–Tôi không có người sinh đôi.
Lúc nói xong, chị thấy mọi vật quanh mình tan thành một màu đen sì, trơn như dầu, đặc quánh, thấm qua các bức tường và nuốt hết ánh sáng phủ kín các bề mặt và rỏ từ mắt chị vào đôi bàn tay đang để mở trên lòng. Một bé gái khóc.
Bé gái rỏ những giọt nước mắt chất nặng sợ hãi, giơ cánh tay bị cắt cụt từ vai và hét lên: “Đừng để Ama ăn thịt chị!” Bé gái chỉ có một cánh tay lắc lư cái nôi giống hệt ở Juanitaenea, bé gái không bao giờ nín khóc.
Một ngàn hình ảnh hồi tưởng từ các giấc mơ lướt qua đầu chị. Trong đó, bé gái mà chị cứ tưởng là minh, đứng lặng lẽ cạnh chị, giống chị như hình ảnh phản chiếu trong tấm gương đen của cơn ác mộng. Một bản sao u uất hơn chị, vì dưới bề ngoài ảm đạm đau đớn, Amaia có ý chí để tiếp tục sống: sự nổi loạn chống lại số phận tỏa sáng như mặt trăng mùa đông trong đôi mắt xanh thẳm của chị. Không như bé gái kia. Ánh sáng duy nhất tỏa trong mắt bé là từ những giọt lệ không ngừng, đen nhánh đến nỗi trào ra quanh bé như một vũng màu huyền hấp dẫn. Sự lặng lẽ thụ động của em ứa ra nỗi thất vọng và chấp nhận số phận, khiến em khắc họa nên một dáng vẻ thê thảm, tuy nhiều lúc em khóc dữ dội như thể không chịu được nữa. Có lần, bé gái nức nở, thở hổn hển từ nơi sâu thẳm trong người, trên lòng em là khẩu Glock của Amaia, vũ khí của cảnh sát, thứ khiến chị cảm thấy an toàn. Bé gái gí khẩu súng vào đầu mình, dường như cái chết là một cách giải thoát. “Đừng làm thế!” - Amaia quát bé gái mà chị ngỡ là mình, cùng lúc đó bóng ma giơ cánh tay bị cắt cụt, chỉ cho chị: “Chị không thể để Ama ăn thịt mình”.
Một lần nữa, Amaia nhận ra văn phòng, sự có mặt của hai người đàn ông đang nhìn chị. Ngay lập tức, chị lo họ có thể nhận thấy sự bất an của mình, sợ mọi ý nghĩ đang quay tròn trong đầu phản chiếu lên mặt chị. Chị nắm bắt mạch sự việc mà San Martín đang giải thích, lúc ông chỉ cây bút vào một đồ thị trên bàn:
– Không có khả năng sai sót. Theo yêu cầu của Chánh thanh tra, mọi thứ đều xét nghiệm hai lần, và được gửi đến Nasertic lần nữa. Ngày mai chúng ta sẽ có kết quả từ đó gửi về, nhưng đó chỉ là thủ tục, tôi có thể bảo đảm với cô rằng những phát hiện của họ không có gì khác biệt.
– Thanh tra ạ, việc cô không biết mình có chị, em sinh đôi đã chết khi cô ra đời không còn ý nghĩa tất yếu nữa, có lẽ cha mẹ cô bối rối vì cái chết đó nên quyết định không cho cô biết, hoặc có khi họ không muốn gây chấn thương cho cô nên không kể. Hơn nữa, cho đến năm 1979, các sổ khai tử đều viết tay, theo luật không ghi những đứa trẻ chết khi chưa sinh ra - trong phần lớn các trường hợp, người ta ghi là “trẻ đẻ non”, không nhắc đến giới tính hoặc tuổi ước đoán của bào thai. Ở một số xứ đạo, người ta dọn dẹp sạch sẽ những trở ngại của đứa trẻ chưa rửa tội bằng cách chôn cất bí mật, và lót tay hậu hĩ cho các phu đào huyệt. Điều hiển nhiên là dù kẻ nào làm việc này cũng quen biết cô và gia đình cô, đã biết tường tận sự việc. Như bác sĩ nói với cô, hiện trạng của xương cho thấy chúng chưa bao giờ tiếp xúc với đất và chắc phải giữ trong môi trường kín và khô ráo. Cô cần kể với chúng tôi những người thân của cô được chôn cất trong nghĩa trang nào, để chúng tôi có thể xem xét kỹ việc này.
Amaia lắng nghe, choáng váng. Chị suy nghĩ một lát, rồi chậm rãi gật đầu.
Một cảnh sát mặc đồng phục báo thẩm phán Markina tới. Dường như tuân theo một quyết định không nói ra lời, Chánh thanh tra và San Martín thu nhặt các biên bản trên bàn trước khi đưa thẩm phán vào, Cuộc họp kéo dài chưa đầy mười lăm phút. Markina thông báo các kết quả xét nghiệm, tất nhiên lặp lại qua các kênh chính thức, và tiết lộ ý định mở cuộc điều tra. Ông ca ngợi tính thận trọng, suy xét chín chắn của Chánh thanh tra và sự kín tiếng của Amaia, chị chỉ gật đầu đáp lại. Khi cuộc họp kết thúc, chị vội đi ngay, thầm cảm kích vì Markina không nhìn chị lấy một lần. Jonan đợi chị ở hành lang và bắt đầu hào hứng chuyện trò lúc trông thấy chị.
– Sếp à, chẳng ngạc nhiên lắm sao? Chúng ta đã làm việc đó, họ sắp mở lại vụ án…
Amaia lơ đãng gật đầu vài lần, và anh cảm nhận sự lo lắng của chị.
– Ở đó mọi việc có ổn không?
– Có, ổn cả. Đây là việc khác.
Jonan im lặng một lúc rồi mới hỏi:
– Chị có muốn kể với tôi không?
Lúc tới xe, Amaia quay nhìn anh. Chị rất tôn trọng Jonan, anh chân thành quan tâm đến chị ngoài làm việc cùng nghề với nhau. Nụ cười yếu ớt nở trên môi chị song không thể lan tới mắt.
– Tôi cần suy nghĩ trước đã, Jonan ạ, rồi tôi sẽ kể với cậu.
Anh gật đầu.
– Tôi đưa chị về nhà nhé? Chúng ta không cần nói chuyện nếu chị không muốn, nhưng tôi nghĩ để chị lái xe là không khôn ngoan. Tuyết đang rơi và đường qua đèo Belate rất xấu.
– Cảm ơn Jonan, nhưng tôi nghĩ cậu nên về nhà, cậu thiếu ngủ quá nhiều rồi. Tôi sẽ cẩn trọng, việc lái xe sẽ làm tôi tỉnh táo.
Lúc ra khỏi bãi xe, chị thấy Jonan vẫn đứng nguyên chỗ cũ.
Nhiều đống tuyết ven đường đến tận đường hầm Belate. Ở phía bên kia chỉ có bóng tối mịt mùng và tiếng lách cách của đá sỏi dưới gầm xe. Hình ảnh những mô đất bị đào bới tung tóe quanh Juanitaenea ám ảnh chị, tấm phủ mục nát, cái nôi trên tầng áp mái - giống hệt nôi của Ibai - màu trắng của những cái xương mang ADN của chị, bằng chứng chúng không ở trong lòng đất. Sao dấu vết của một con người lại bị xóa sạch? Sao chị không hề nghe nhắc đến đứa bé ấy? San Martín nói đến một đứa trẻ mới sinh. Bé chết lúc sinh ra? Cánh tay chứng tỏ rằng bé đã chết ư? Có thể nó bị cắt cụt sau khi sinh, vì một bệnh nào đó chăng? Có thể bé vẫn còn sống? Nhận ra đang ở trên đường Santiago, Amata thấy mình lái xe trong cơn mê mụ như một hệ thống lái tự động. Chị chạy chậm lại lúc qua những đường phố vắng vẻ xuống cây cầu, đỗ lại ở Muniaetea lắng nghe tiếng nước gầm réo ở đập. Trời mưa suốt ngày và hơi ẩm vẫn còn vương vấn, thấm vào trong xe khiến chị nhớ lại ngôi mộ Baztán. Chị cảm thấy một cơn thịnh nộ bất ngờ, không kìm nổi với cái nơi đáng nguyền rủa này: nước, dòng sông những hòn đá cuội thời Trung cổ, những thế kỷ đau khổ để xây dựng nên nó. Chị đỗ xe, và lần đầu tiên chị nhận biết đầy đủ sự chào đón ân cần của ngôi nhà từ lúc bước qua ngưỡng cửa, bao bọc chị trong vòng ôm ấm áp của nó.
Mọi người đã đi nằm. Chị cầm laptop và mải mê nhấn bàn phím. Được vài phút, chị ngước nhìn những dữ liệu và danh sách khác nhau, rốt cuộc, chị cáu tiết đóng màn hình và đi lên gác. Nhận thấy tiếng ủng cồm cộp, chị lùi xuống, tháo ủng và trèo lên cầu thang bằng đôi chân đi bít tất. Chị dừng lại bên ngoài phòng ngủ của bà Engrasi trước khi gõ cửa. Giọng nói dịu dàng của bà đáp lại từ bên trong.
– Cô ơi, cô có thể xuống dưới nhà được không ạ? Cháu cần nói chuyện với cô.
– Được chứ, cháu yêu của cô. - Bà đáp, giọng lo âu. - Cô xuống ngay đây.
Amaia cũng dừng lại bên ngoài phòng Ros, nhưng cho rằng chị gái cũng không biết gì hơn mình.
Trong lúc đợi bà cô, Amaia đứng giữa phòng khách, đăm đăm nhìn vào lò sưởi, dường như ngọn lửa đang cháy là thứ duy nhất có thể thấy. Có thời, chị không có lò sưởi để nhóm.
Chị đợi đến lúc bà Engrasi yên vị mới quay người lại, nói với bà:
– Cô à, cô có nhớ gì vào khoảng thời gian cháu ra đời không?
– Cô nhớ nhiều thứ, song về Elizondo thì ít lắm. Hồi ấy cô đang sống ở Paris. Cô không liên hệ gì với ai ở đây. Lúc cô trở về, cháu đã lên bốn.
– Nhưng Amatxi Juanita không kể với cô những chuyện xảy ra khi cô đi vắng sao?
–Có chứ, bà kể nhiều chuyện lắm, chủ yếu là những chuyện tầm phào trong làng, ai kết hôn với ai, ai có con hoặc ai chết.
– Cháu có bao nhiêu chị hở cô?
Bà Engrasi nhún vai dường như chuyện này là hiển nhiên:
– Hai: Flora và Ros.
– Amatxi Juanita có kể với cô cháu có chị sinh đôi không ạ?
– Chị sinh đôi ư?
– Sinh đôi giống hệt nhau.
– Không, bà chưa bao giờ kể với cô chuyện đó. Sao cháu lại nghĩ thế?
Amaia không đáp và hỏi tiếp:
– Mẹ cháu có bị sảy thai hoặc có đứa trẻ nào chết lúc mới sinh không?
– Cô không biết, Amaia, nhưng chuyện đó cũng chẳng có gì lạ. Hồi ấy, sảy thai là điều kiêng kỵ và phụ nữ tránh nói đến, giả vờ như không xảy ra.
– Cô có nhớ cái nôi giống hệt nôi của Ibai trên tầng áp mái của bà nội Juanita không? Bé gái đó có tồn tại, cô ạ. Hoặc bé chết lúc mới sinh ra hoặc là bị sảy thai.
– Amaia, cô không hiểu cháu lấy đâu ra chuyện này…
– Cháu có bằng chứng không thể bác bỏ, cô ạ, cháu không thể giải thích vì nó thuộc loại việc cháu không được phép bàn bạc, nhưng cháu biết đã có chị ấy, sinh ra cùng lúc với cháu, là chị sinh đôi giống hệt cháu và có chuyện gì đó xảy ra với chị ấy.
Trông bà cô đầy ngờ vực.
– Cô không biết, Amaia. Cô tin rằng nếu cháu có chị sinh đôi, kể cả chết lúc mới ra đời, cô cũng sẽ biết, bà nội cháu phải biết, nhất là bé ấy chết lúc mới sinh, phải có giấy chứng tử hoặc tang lễ chứ.
– Đấy là việc đầu tiên cháu kiểm tra. Không còn gì nữa ạ.
– À, cháu sinh ra ở nhà cha mẹ cháu, như các chị cháu. Hồi ấy là chuyện bình thường, rất ít phụ nữ sinh nở tại bệnh viện. Bác sĩ trong làng đỡ đẻ. Chắc cháu nhớ ông ấy, bác sĩ Manuel Hidalgo, giờ ông ấy mất rồi. Em gái bác sĩ là người giúp ông ấy. Bà ta là y tá, trẻ hơn ông anh một chút. Theo cô nhớ, bà ấy vẫn còn sống ở thung lũng. Vài tháng trước cô gặp bà ấy ở nhà thờ, trong lễ kỷ niệm ca đoàn của nhà thờ. Hồi trẻ bà ấy hát rất hay.
– Cô có nhớ tên bà ấy không?
– Có, Fina. Fina Hidalgo.
Amaia buột một tiếng thở dài, dường như nó xác nhận tình trạng kiệt sức của chị. Chị sụp xuống sofa cạnh bà cô, mệt lả.
– Từ khi còn bé, cháu luôn mơ thấy chị ấy, cô ạ. Cháu vẫn còn mơ thấy, cháu ngỡ chị ấy là mình, nhưng bây giờ biết là chị của cháu, bé gái ra đời cùng với cháu. Người ta bảo chị em sinh đôi cùng trứng giống nhau như hai giọt nước, gắn bó bằng một mối ràng buộc đặc biệt khiến họ có thể trông thấy và cảm thấy các sự việc như nhau. Suốt đời, cháu trải nghiệm nỗi đau của chị ấy, cô ạ.
– Ôi, Amaia, - bà Engrasi kêu lên, đưa bàn tay yếu đuối, nhăn nheo lên miệng rồi dang tay về phía Amaia, chị cuộn tròn và rúc vào lòng bà.
– Chị ấy nói với cháu, cô ơi, nói với cháu trong các giấc mơ và kể cho cháu nhiều việc kinh khủng.
Bà Engrasi vuốt ve những món tóc mềm mượt của cháu gái, như bà vẫn thường làm khi Amaia còn bé. Ngay sau đó, bà nhận ra Amaia đã thiếp đi, song bà vẫn lùa những ngón tay vào tóc cháu gái, cảm nhận vết lõm nhỏ xíu trên đầu Amaia và đường nét cái sẹo giấu kín mà bà có thể tìm ra dù có bị bịt mắt.
– Họ đã làm gì cháu? Họ đã làm gì cháu, cháu yêu của cô?
Nỗi buồn và cơn giận khiến bà lại nghẹn ngào, làm tay bà run run và mắt bà mờ thêm một chút.