Sáng hôm ấy rét buốt, sương mù dày đặc, bay la đà, nặng trĩu vì ẩm ướt. Nắng rực rỡ đang thiếu từ vài ngày trước hình như chiếu sáng sương mù từ bên trong, làm nó lấp lánh, như thể chứa vô vàn hạt thủy tinh bé li ti. Amaia lái chầm chậm trên đường cao tốc, theo vạch trắng chỉ thoáng thấy qua cửa bên. Mắt chị nhức nhối vì căng thẳng, khiến chị vừa giận dữ vừa thất vọng. Chị thức dậy từ rất sớm vì một giấc mơ, đầy những giọng nói quấy rầy, nhiều người nói, một cuộc hội thoại không sao hiểu nổi, vọng tới chị từ trong bóng tối, giống như radio vặn nhầm vào chương trình quảng cáo từ cõi âm. Những lời nhắn gửi, những từ ngữ hòa với những lời cầu khẩn, những tiếng khóc và những đòi hỏi nghẹn ngào. Lúc tỉnh dậy, Amaia không thể giữ sạch cảm giác vô vọng và bối rối. Chị thức dậy trên chiếc sofa, nơi chị đã thiếp đi. Bà Engrasi đắp cho chị tấm chăn, đặt cái nệm dưới đầu chị. Chị lê lên gác, tới phòng họ, nơi Ibai xòe rộng tay chân trên giường, đẩy James ra rìa đệm.
– Con ngủ giống hệt ba vậy, chị thì thầm, và nằm xuống cạnh con vài phút.
Vẻ bình thản, mãn nguyện của Ibai lúc ngủ truyền sang chị, khôi phục niềm tự tin của chị, rót đầy chị cảm giác mọi việc sẽ suôn sẻ. Hoàn toàn tĩnh lặng, nó ngủ với vẻ yên bình, tin cậy, cánh tay dang rộng như cánh cối xay gió, đôi môi hơi hé, yên ả đến nỗi vài lần chị phải ghé gần để nghe tiếng nó thở. Lúc chị cúi xuống hít hà mùi thơm dịu của da nó, đứa trẻ thức giấc như trả lời tiếng gọi của mẹ. Nụ cười hoàn hảo xuất hiện trên mặt con trai có tác dụng ngay lập tức, nhưng ma lực không kéo dài, đứa trẻ bắt đầu gào khóc đòi ăn, mò mẫm nắm tay bé xíu trên bộ ngực không còn cho nó bú được nữa. Chị đưa con cho James, anh bế nó xuống dưới nhà trong lúc chị lại lần nữa tự mắng mình là một người mẹ tệ hại.
Amaia vào phòng họp và thấy Jonan chưa tới. Bật máy tính, chị thấy hai thư khiến chị chú ý. Một thư quen thuộc của bác sĩ Franz, cái kia của Lược vàng do Jonan chuyển. Chị mở thư.
“Đức Mẹ đang đợi lễ vật của bạn”
– Đức Mẹ có thể đợi tiếp, - chị nói và ấn phím Xóa.
Email của bác sĩ Franz có vẻ dài hơn mọi thư trước, ngoài một phần khiến chị quan tâm. “Có lẽ cô nên xem xét kỹ vì sao bác sĩ Sarasola biết nhiều đến thế về trường hợp của mẹ cô, những chi tiết chữa trị cho bà, đặc biệt là hành vi của bà là đề tài bí mật giữa bác sĩ-bệnh nhân. Chuyện này có vẻ càng “kỳ dị” hơn vì ông ấy chưa bao giờ điều trị cho mẹ cô, tôi biết điều đó vì tôi đã kiểm tra”.
Amaia đọc lại bức thư hai lần, nhưng lần này chị không xóa đi. Chị tin rằng Tarttalo biết mẹ mình trước khi bà bị giam lỏng ở Santa María de las Nieves. Chị cân nhắc khả năng Sarasola và vị khách đến thăm mẹ chỉ là một người, nhưng loại bỏ ngay giả thuyết đó. Bác sĩ Franz biết Sarasola quá rõ nên không thể bị lừa vì cặp kính đen và bộ râu giả. Ngoài ra, chiều cao và vóc dáng cũng không phù hợp với hình người thoáng thấy trong các băng ghi hình. Tuy nhiên, chị không thể loại ý nghĩ đó ra khỏi đầu.
Amaia đứng dậy và đến văn phòng chung. Zabalza đang làm việc, màn hình máy tính che khuất nửa người và không nhận ra chị có mặt, cho đến khi chị ngồi xuống ngay cạnh anh ta.
– Chào thanh tra.
– Chào sếp.
Amaia nhận thấy anh ta hạ thấp giọng khi nói từ “sếp”, để không thể nghe thấy.
– Tôi có việc cho anh đây. Ghi lại tên này: Rosario Iturzaeta Belarrian. Tôi muốn anh tìm kiếm trong sổ đăng ký của các bệnh viện: Virgen del Camino, Comarcal de Irún, Clínica Santa María de las Nieves và bệnh viện Universitario, Tôi cần danh sách tất cả những người chữa trị cho bà ấy trong các bệnh viện đó, hoặc tương tác với bà hoặc đến thăm bà tại nơi cấp cứu.
Zabalza ghi xong và ngước nhìn:
– Nhiều thông tin đấy.
– Tôi biết. Khi làm xong, tôi muốn anh kiểm tra chéo các danh sách, và cho tôi biết cái tên nào xuất hiện hơn một lần.
– Thế thì mất nhiều ngày, - anh ta phản đối.
– Vậy tốt hơn hết là anh bắt đầu ngay lập tức.
Chị quay gót rời văn phòng, cười một mình lúc cảm thấy cái nhìn của Zabalza đốt một lỗ vào lưng mình.
– À, còn việc nữa, - chị nói và bất ngờ quay lại, nén cười lúc Zabalza cụp mắt xuống như một cậu học trò hư. - Tôi cần anh tìm ra địa chỉ của một người tên là Fina Hidalgo. Tôi không biết tên rút gọn có phải là Rufina hoặc Josefina không, tôi chỉ biết bà ta đang sống trong thung lũng. Xem trong sổ đăng ký ở tòa thị chính. Việc gấp đấy.
Zabalza gật đầu mà không nhìn lên.
– Anh có làm được hết không? - Chị hỏi, chế giễu.
– Có, - anh ta cằn nhằn.
– Xin lỗi, tôi nghe chưa rõ.
– Có, tôi làm hết, sếp.
Chị mỉm cười nhận ra một lần nữa anh ta không nuốt trôi được từ “sếp”.
Trên đường ra, chị tình cờ gặp Jonan đang chuyện gẫu với Iriarte trong hành lang.
Fina Hidalgo sống trong một tòa nhà bằng đá đường bệ ở trung tâm Irurita, thị trấn lớn thứ hai ở Baztán. Nhà hai tầng, một tầng có cửa sổ nhô ra ngoài, kiểu dáng gần với thế kỷ XVIII. Nhưng nổi bật nhất là một khu vườn lạ lùng. Một cây liễu rủ đứng bên lề con đường lát đá phiến màu đỏ, viền những cây anh thảo vàng nhạt và những bụi oải hương cắt tỉa hoàn hảo. Thứ đập vào mắt là màu sắc lộn xộn, từ xanh lá cây nhạt tới màu đỏ sẫm, được nhấn mạnh bằng những cây hoa anh thảo màu đỏ trang hoàng cửa sổ. Hàng triệu giọt nước li ti lấm tấm bên trong một nhà kính rộng rãi kế bên ngôi nhà. Một phụ nữ ở ô cửa chào đón họ.
– Xin chào, mời theo lối này, tôi chắc cô không muốn bỏ lỡ cái này, - bà ta nói và trở vào trong nhà kính.
Mặc dù cây cối thừa thãi và độ ẩm áp đảo, nơi này thật dễ chịu, mùi bạc hà thơm phức tỏa khắp không trung, ấm hơn bên ngoài.
– Con người là nô lệ của thói quen, - bà nói và cúi xuống vặt mấy chồi non ở vài bụi cây. Bà Fina chỉ dùng một móng tay để làm, trông nó khá bẩn và dây vết xanh xanh của diệp lục ứa ra từ cây. Rồi bà ném những chồi ấy vào một chậu hoa rỗng.
Amaia quan sát bà. Bà đi ủng cao su tới đầu gối, có họa tiết cánh hoa, quần cưỡi ngựa và áo choàng màu hồng. Tóc bà màu đỏ phai, có lẽ là tự nhiên, túm thành đuôi ngựa và buộc chặt bằng sợi chun. Cuối cùng, khi người đàn bà ngước mắt lên nói, Amaia nhận ra một vết màu đỏ nhạt trên môi bà. Bà trạc sáu mươi lăm, vẫn rất đẹp, - Amaia nghĩ. Zabalza đã thông báo với chị Fina Hidalgo vừa nghỉ hưu, và nhìn khu vườn, chắc đây là sở thích chính của bà.
– Tôi đang đợi cô. Đồng nghiệp của cô báo cô sắp tới. Tôi làm xong việc này, chúng ta sẽ vào nhà uống trà. Nếu tôi không vặt các chồi non này đi, chúng sẽ hút hết nhựa của cây, - Fina nói, khẽ tặc lưỡi. Bên trong ngôi nhà hồ hởi không kém khu vườn. Rõ ràng phong cách thời Victoria phát huy tác dụng, rất nhiều đồ trang trí hầu hết là gốm sứ, ngay lập tức gây ấn tượng và áp đảo. Fina Hidalgo pha trà vào chiếc tách và đĩa lót cực đẹp và tinh tế, rồi ngồi xuống đối diện với chị.
– Anh trai tôi mất cách đây vài năm. Anh ấy mua ngôi nhà này, nhưng may mắn là cho phép tôi trang trí nó theo ý mình. Nhà kính là ý tưởng của anh ấy, khởi đầu tôi không thích lắm, nhưng làm vườn như một thí nghiện, khi đã bắt đầu thì…
– Tôi biết bà là trợ lý cho ông ấy.
– Thực ra tôi không được lựa chọn. Anh trai tôi là một người tốt, nhưng có phần nệ cổ. Anh ấy hơn tôi hai mươi tuổi. Với gia đình, tôi là người đến muộn và là người thêm thắt bất ngờ. Cha mẹ tôi mất khi tôi mười bốn tuổi, người nọ tiếp sau người kia. Họ bắt anh tôi hứa luôn luôn trông nom tôi. Cứ làm như phụ nữ chúng ta không thể tự chăm sóc mình vậy! Tôi chắc cha mẹ tôi có ý tốt, nhưng anh tôi hiểu theo nghĩa đen. Chính vì thế tôi học làm y tá, xin lưu ý tôi nói y tá chứ không phải y khoa, và trở thành trợ lý cho anh ấy.
– Tôi hiểu, - Amaia nói.
– Tôi tiếp tục làm việc với anh ấy cho đến lúc anh tôi nghỉ hưu, rốt cuộc tôi có thể làm việc trong các bệnh viện ở ngoài thung lũng, với các bác sĩ khác. Hiện giờ tôi cũng đã nghỉ hưu và ngạc nhiên thay, tôi phát hiện ra đây chính là nơi tôi muốn sống!
Amaia mỉm cười thông cảm.
– Bà giúp anh bà đỡ đẻ?
– Đương nhiên rồi. Tôi cũng có bằng bà đỡ mà.
– Cuộc sinh nở tôi quan tâm diễn ra vào tháng Sáu năm 1980.
– Ồ, chắc nó có trong hồ sơ. Đi với tôi, - Fina nói và đứng lên.
– Bà có hồ sơ y tế ở đây?
– Vâng, anh tôi điều hành hai phòng khám: một ở Elizondo, một ở đây. Hầu hết các bác sĩ nông thôn đều thế. Khi nghỉ hưu, anh ấy đóng cửa phòng khám ở Elizondo và chuyển mọi thứ về đây.
Họ vào một phòng làm việc trông giống như phòng hút thuốc lá tại một câu lạc bộ của các quý ông nước Anh: một bộ sưu tập tẩu rất đẹp chiếm toàn bộ một bức tường, cạnh tranh với một bộ sưu tập ống nghe và ống nghe cho người khiếm thính. Chị nhớ lại San Martín nói về các bác sĩ thường sưu tập các đồ vật liên quan đến nghề nghiệp của họ.
– Vô nói là năm 1980 à?
– Đúng thế.
Fina ghi nhanh ngày tháng lên một mảnh giấy.
– Tên bệnh nhân?
– Rosario Iturzaeta.
Bà ngước lên, ngạc nhiên:
–Tôi nhớ người này, bà ấy bị rối loạn thần kinh, ngày nay gọi là loạn thần kinh chức năng.
Không biết vì sao, Amata cảm thấy khó chịu.
– Tôi không quan tâm đến bệnh của bà ấy. Tôi chỉ muốn biết thông tin về các lần sinh nở. Tôi có cần lệnh của tòa án không?
– Theo tôi biết thì không. Anh tôi mất rồi, và chắc bệnh nhân của anh ấy cũng thế. Cô là sĩ quan cảnh sát, nếu không có vấn đề gì thì tại sao lại phí phạm thời giờ như vậy? - Bà ta nhún vai nói.
– Cảm ơn bà.
Fina Hidalgo mỉm cười rồi cúi xuống các hồ sơ. Một lần nữa, Amaia lại nghĩ chắc hẳn bà ta phải là một đại mỹ nhân.
– Đây rồi, - Fina nói và giơ một hồ sơ dày cộp. - Bà ấy có bệnh án rất dài. Để xem nào, thứ chúng ta cần đây… đứa con đầu lòng sinh năm 1973, đẻ thường, không biến chứng, một bé gái nhìn bên ngoài khỏe mạnh tên là Flora. Lần thứ hai năm 1975, cũng đẻ thường, không biến chứng, một bé gái nhìn bên ngoài khỏe mạnh tên là Rosaura. Lần thứ ba năm 1980, sinh đôi, đẻ thường không biến chứng hai bé gái nhìn bên ngoài khỏe mạnh, chưa đặt tên.
Cách người phụ nữ thản nhiên báo rằng chị có một người chị sinh đôi khiến mạch Amaia đập rộn. Chị giật lấy tờ giấy đã ố vàng khỏi bàn tay bà ta.
– Nhìn bên ngoài khỏe mạnh ư? Nếu một trong hai bé gái bị ốm hoặc chết thì sao? Hồ sơ không ghi điều đó ư?
– Không. Ngày ấy, sinh nở ở nhà rất thô sơ, đứa trẻ không được cân hoặc đo, chỉ được trắc nghiệm Apgar13 và kiểm tra thông thường. “Nhìn bên ngoài mạnh khỏe” chỉ là một cách nói. Ví dụ sự khiếm khuyết về tim sẽ không được phát hiện, trừ khi đứa trẻ có những triệu chứng hiển nhiên lúc ra đời.
– Nếu một trong hai đứa trẻ bị phẫu thuật thì sao, bị cắt cụt chi chẳng hạn?
– Hầu như phẫu thuật nhỏ nhất cũng phải làm tại bệnh viện.
– Nếu một trong hai đứa trẻ chết?
– Nếu nó chết ở đây, trong thung lũng, chắc chắn sẽ có giấy chứng tử ở đâu đó. Anh tôi ký mọi giấy chứng tử ở bệnh viện Pamplona.
– Bà có thể tìm được không?
– Tất nhiên rồi, mặc dù có thể khó khăn hơn vì những đứa trẻ chưa có tên.
Amaia đọc lại biên bản và xác nhận tên của hai bé gái đều bỏ trống. Chị nhớ đã khó khăn biết chừng nào để chọn một cái tên cho Ibai trước khi bé ra đời. Đây là điều chung của chị và mẹ chăng?
Fina Hidalgo mở một tủ khác và lấy một hộp hồ sơ khác với ngày tháng phù hợp đề trên.
– Bé chết cùng năm ấy ư?
– Phải, chúng tôi nghĩ bé gái ấy chết sau khi ra đời chưa lâu.
Người phụ nữ rút ra một tờ giấy.
– Đây rồi: đứa trẻ mới sinh, bố mẹ là Juan Salazar và Rosario Iturzaeta. Nguyên nhân tử vong, ôi trời đất, ở đây ghi: Hội chứng đột tử.
Amaia nhìn bà, dò hỏi.
– Hội chứng đột tử là cách gọi cũ cho Hội chứng trẻ sơ sinh chết bất ngờ, gọi tắt là SIDS, - bà ta nói và đưa tờ giấy cho Amaia. - Chắc chắn nó có nghĩa là đứa trẻ có vấn đề.
– Ý bà là nó bị ốm?
– À, không nhất thiết phải ốm; một số tình trạng chỉ biểu hiện sau khi sinh vài giờ.
– Tôi không hiểu.
– Là những khiếm khuyết nào đó, ví dụ những khuyết tật lúc sinh. Phần lớn trẻ sơ sinh có đầu méo mó, mặt chúng bẹp dúm lúc trong đường dẫn sinh, thậm chí còn hơi lác mắt. Nhưng chỉ sau vài giờ, nhiều triệu chứng khác mới dễ nhận thấy.
– Ra vậy… - Amaia nói chậm rãi. - Nhưng chẳng có lý do gì mà những thứ đó dẫn đến cái chết…
Người đàn bà đứng yên, trừng trừng nhìn Amaia, một bàn tay để lên cạnh kia của chiếc hộp, miệng uốn cong thành một nụ cười.
– Vậy cô là một người trong bọn họ, - bà ta nói.
Tóc gáy Amaia dựng đứng. Ngay lập tức chị có cảm giác khiếp sợ, có thể so với việc phát hiện ra một chậu hoa phong lữ tuyệt đẹp bị sâu ăn tan nát.
– Một trong cái gì? - Chị hỏi tuy biết mình sẽ không thích câu trả lời.
– Một trong những người quá chú ý đến những việc mà họ chẳng hiểu gì. Tuy nhiên, tôi chắc cô không phản đối việc nạo bỏ một bào thai nếu nó bị bại não.
– Một đứa trẻ mới sinh và một bào thai không như nhau.
– Thế ư? Là một bà đỡ, tôi đã nhìn thấy hàng ngàn trẻ mới sinh và hàng trăm bào thai bị nạo bỏ. Tôi thấy chúng chẳng có gì khác biệt.
– Có một thứ, dựa trên thực tế rằng một trẻ mới sinh độc lập với người mẹ, luật đã nói rõ như thế.
– Phải, luật ư, - Fina nói và lùa bàn tay vào tóc. - Luật chỉ là thứ ngu ngốc. Cô có biết một cặp vợ chồng đã có ba hoặc bốn con lại phải đối mặt với một đứa nữa thì luật có ý nghĩa gì không, nhất là khi đứa trẻ bị khuyết tật?
– Khoan đã, bà đang nói với tôi rằng bà và anh trai của bà… đã giết những đứa trẻ khuyết tật lúc chúng mới được sinh ra ư?
– Ồ, không phải là anh tôi. Anh ấy giống hệt cô: một nhà đạo đức ngây thơ, hèn nhát. Nhưng tôi chẳng việc gì phải thừa nhận việc này - những vi phạm ấy có thời hiệu của nó. Hầu hết các gia đình tự làm, thỉnh thoảng tôi giúp khi họ không thể tự hủy cái kết quả trong bụng, hoặc một số thứ vô nghĩa nào đó. Nhưng họ sẽ phủ nhận cũng như tôi vậy. Thông báo chính thức là những đứa trẻ ấy bị “Hội chứng đột tử”. Hơn nữa, vị bác sĩ ký giấy chứng tử cho chúng, một người danh tiếng không tì vết cũng đã chết rồi.
– Những vi phạm ư? - Amaia nói, giận dữ. - Bà gọi là thế sao? Theo Kinh Thánh thì đó là tội giết người.
– Ôi, vì Chúa! - Fina Hidalgo kêu lên, vẻ bực tức của bà nhanh chóng biến thành khinh thị. - Cô đang đùa đấy à?
Amaia săm soi bà ta kỹ càng. Với chiếc áo choàng màu hồng và đôi ủng, người phụ nữ có tuổi đầy quyến rũ này đã dành cả đời trồng hoa và đưa những đứa trẻ đến với thế giới này hóa ra là một người bệnh tâm thần tàn nhẫn. Cơn tức giận trào lên thế chỗ cho cảm giác khó chịu lúc trước. Chị thầm ôn lại trong đầu những khả năng pháp lý để bắt giữ người đàn bà này, trước khi nhận ra Fina Hidalgo nói đúng: Chẳng có cách nào chứng minh một tội ác đã hết thời hiệu của nó. Với sự phủ nhận giản dị, ngay một luật sư hạng tầm tầm cũng có thể gỡ cho bà ta thoát mọi tội.
– Tôi sẽ mang giấy chứng tử này theo, - Amaia nói và xoáy vào bà ta cái nhìn chằm chằm, lạnh lùng.
Người đàn bà nhún vai:
– Cô cứ lấy bất cứ thứ gì cô muốn. Tôi luôn sẵn lòng hợp tác với cảnh sát.
Amaia rẽ đường qua khu vườn, không khí tươi mát giúp xua tan cảm giác ngột ngạt của ngôi nhà. Lúc sải bước tới cổng, chị nghe thấy tiếng người đàn bà ở đằng sau, giễu cợt:
– Cô có thích mang một bó hoa theo không, thanh tra?
Amaia quay gót và nhìn thẳng vào bà ta, rồi không hiểu vì sao, chị nói:
– Cút đi một mình!
Nụ cười đông cứng trên mặt Fina. Bà ta bắt đầu run như chợt phơi ra trước gió lạnh. Cố nặn ra một nụ cười, nhưng miệng bà méo đi thành một tiếng gầm gừ, để lộ răng và lợi, mọi nét xinh đẹp biến mất.
Amaia rảo bước trong lúc tim đập thình thịch. Chị trèo vào xe và cứ thế lái đi, cho đến lúc rời khỏi thị trấn. Chỉ đến lúc đó, Amaia mới nhận ra chị vẫn nắm chặt tờ giấy đã ngả vàng trong tay, nhàu nát vì ép vào tay lái.
– Cút đi một mình! - Chị nhắc lại, hoài nghi.
Đây là một câu thần chú, một loại phù phép dùng chống lại phù thủy, đã gần ba chục năm nay chị không nghe thấy. Một hồi ức sinh động lóe lên trong trí, Amatxi Juanita dặn: “Khi cháu biết mình ở trước mặt một mụ phù thủy, cháu bắt chéo các ngón tay như thế này - bà đẩy ngón cái vào giữa ngón trỏ và ngón giữa - và nếu mụ ta hỏi cháu gì đó, nhớ đáp lại: “Cút đi một mình!” Đó là lời nguyền với phù thủy: chúng luôn luôn đơn độc. Chúng không bao giờ được nghỉ ngơi, kể cả sau khi chết”. Làm sống lại hồi ức đã lãng quên suốt từng ấy năm khiến chị mỉm cười, chị rất hoang mang lúc thốt ra câu đó, song người đàn bà đáng sợ này đã làm chị nhớ ra. Chị lái xe vào lề đường và gọi đến tòa thị chính Baztán, hỏi thăm trụ sở của các phu đào huyệt rồi lái tới nghĩa trang Elizondo.
Trụ sở là một phòng ngủ nhỏ bằng bê tông, từ xa không thể trông thấy giữa những lăng mộ có mái ở đầu nghĩa trang, nhắc chị nhớ tới những ngôi mộ ở New Orleans. Bên trong chỉ có một cái bàn nhỏ, một cái ghế, xung quanh là dây thừng, chão, chổi, xô, nhiều mảnh vật liệu làm giàn giáo, thanh giằng, chốt, xẻng với một cái xe ngựa nhỏ. Trong góc phòng có hai tủ bằng kim loại đựng hồ sơ, khóa được, và một cuốn lịch treo tường in hình một con mèo cuộn tròn trong cái giỏ, chẳng ăn nhập gì với các thứ xung quanh. Một người đàn ông cao tuổi mặc bộ áo liền quần cúi khom trên bàn; ông ta thẳng người lên khi nghe tiếng chị tới gần. Amaia nhận thấy cái radio trên bàn và cạnh đó là đôi pin đã tháo rời.
– Xin chào, cô là người đã gọi điện về các hồ sơ:
Chị gật đầu.
– Nếu là năm 1980 và trước đó thì chúng ở đây, ông nói và tiến tới, gõ ngón tay vào cái tủ kim loại. - Mọi thứ sau đó nạp vào máy tính, nhưng thế thì mất thời gian lắm… - Ông ta nhún vai. Vẻ mặt ông nói lên tất cả.
Ông ta lấy ra cuốn sổ cái đề ngày tháng phù hợp và đặt nó lên bàn. Ông rón rén mở tờ giấy chứng tử Amaia đưa và ngón tay lần tìm, lướt qua danh sách viết tay trong cuốn sổ.
– Ở đây không có hồ sơ ấy, - ông nói lúc ngẩng đầu.
– Có lẽ vì bé gái chưa có tên nên khó khăn hơn chăng?
– Ngày tháng và nguyên nhân tử vong là đủ. Nó không có ở đây.
– Có thể nó ở trong cuốn sổ cái khác không?
– Mỗi năm chỉ có một cuốn, nhưng chúng không bao giờ kín, - ông ta nói và giở qua các trang trắng ở cuối cuốn sổ. - Cô có chắc bé gái ấy được chôn ở nghĩa trang này không?
– Còn ở đâu nữa? Gia đình ấy ở Elizondo mà.
– Phải, nhưng nếu một trong các ông bà ở làng khác, đứa trẻ có thể chôn ở đó…
Amaia rời trụ sở, gấp tờ giấy chứng tử lại. Chị nhét nó vào túi trong của áo khoác, rồi tới thẳng mộ Amatxi Juanita. Chị thấy nhiều cây thập giá kim loại nhỏ xíu, một cái mang tên bà nội chị. Bên trái là ông nội mà chị chưa bao giờ biết mặt, và đằng sau là tên cha chị, nhiều năm nay chị tránh nhìn vào đó. Thật lạ là chị nhớ từng chi tiết ngày cô Engrasi gọi điện báo cha chị qua đời. Chị đã cảm thấy điều đó nhiều giây trước khi điện thoại reo, và ngay lập tức toàn bộ sự lạnh lùng, toàn bộ sự im lặng chia tách cha và con gái nhấn chìm chị giống như một bản án vô tận, và thời gian đã hết. Chị liếc nhìn cái tên khắc trên cây thập giá và cảm thấy đau nhói khi một câu hỏi cũ lại nổi lên: “Tại sao cha để chuyện này xảy ra?”
Lùi lại một bước, Amaia nhìn kỹ mặt đất đầy cỏ, song không hề có dấu hiệu đào bới. Chị lên đỉnh đồi, đi qua gần mộ Ainhoa Elizasu - cô gái bị sát hại đã đưa chị trở về Baztán để điều tra một vụ tồi tệ nhất trong sự nghiệp của mình. Chị thấy có người đặt hoa trên đó cùng một con búp bê nhồi bằng vải vụn. Xa hơn, ở cuối dãy, chị thấy hầm mộ cổ của gia tộc, nơi mai táng các cụ cùng các bác, các cô của chị đã mất từ trước khi chị ra đời. Những vòng sắt tô điểm hầm mộ để lại nhiều vết han gỉ qua bao năm tháng dầu dãi nắng mưa, tạo thành những vệt dài màu cam. Chỉ tấm bia mộ là nguyên vẹn.
Chị quay đi và cất bước về phía con đường nhỏ trung tâm. Lúc tới ngã tư, chị bắt gặp Flora đứng bất động trước mộ Anne Arbizu, đầu hơi nghiêng. Ngạc nhiên, chị gọi to:
– Flora!
Flora nhìn quanh, và Amaia trông thấy những giọt lệ trong mắt chị ta.
– Chào Amaia, em làm gì ở đây thế?
– Chỉ đi dạo một vòng thôi, - Amaia nói dối và tiến đến ngang hàng với chị gái.
– Chị cũng thế, - Flora nói, tránh cái nhìn chăm chú của Amaia lúc bước ra con đường mòn, Amaia theo sau.
Hai chị em đi vài mét không nói năng gì hoặc nhìn nhau.
– Flora, chị có biết gia tộc mình có hầm mộ khác hoặc ngôi mộ nào khác trong nghĩa trang này hoặc nghĩa trang khác không, ngoài mộ các cụ và những ngôi mộ dưới kia?
– Không, nếu em hỏi chị, thật xấu hổ khi các cụ ở đó còn ông bà nội và Aita lại mòn mỏi, tiều tụy ở dưới kia, những cái chấm rải rác trong nghĩa trang như những kẻ ăn mày.
– Em không bao giờ hiểu vì sao cha mẹ không tậu hầm mộ cho mình. Đó là loại việc Ama phải nghĩ chứ. Thật lạ là mẹ không nghĩ đến sau này chôn cất cạnh Amatxi Juanita.
– Em nhầm rồi, mẹ để Aita nằm cạnh Amatxi vì cha muốn thế, nhưng Ama không bao giờ cảm thấy mình thuộc về nơi này. Mẹ đã dự liệu sẽ được chôn trong hầm mộ gia tộc của mẹ ở nghĩa trang Polloe tại San Sebastián.
Amaia dừng lại giữa đường.
– Chị chắc thế chứ?
– Phải. Chị có bản viết tay của mẹ để nhiều năm trước, dặn dò về tang lễ và nơi chôn cất mẹ.
Amaia suy nghĩ giây lát rồi hỏi:
– Flora, khi em ra đời chị lên bảy, chị có nhớ gì về hồi đó không?
– Hỏi gì mà lạ thế! Em muốn chị nhớ gì kia?
– Em không biết, chị không còn quá bé, chắc chị phải nhớ gì đó.
Flora ngẫm nghĩ.
– Chị nhớ Ros và chị cho em ăn. Cha thường để mặc bọn chị. Cha pha sữa, đặt em vào tay bọn chị lúc các chị ngồi trên sofa, lần lượt thay nhau bế em. Chị đoán bọn chị nghĩ là trò vui.
– Còn Ama thì sao?
– Ờ, vào khoảng thời gian đó mẹ bị bệnh tâm thần, mẹ đã trải qua một thời gian khó khăn, tội nghiệp mẹ.
– Vâng, - Amaia lạnh nhạt đáp.
Flora chợt quay ngoắt lại:
– Này, nếu em muốn trò chuyện thì ta trò chuyện, nhưng nếu em cứ tiếp tục kiểu ấy thì chị đi đây, - chị ta nói và tiến thẳng tới lối ra.
– Flora, đợi đã.
– Không, chị không đợi.
– Em cần biết chuyện gì đã xảy ra trong thời gian đó.
Không ngoảnh lại, Flora giơ tay, cử chỉ chào tạm biệt trước khi mất hút qua cổng nghĩa trang.
Amaia thở dài. Rẽ đường tới mộ Anne Arbizu, chị nhặt một đồ vật nhỏ, sáng bóng vừa thoáng thấy. Một quả hồ đào. Amaia biết chị gái mình đã cầm nó trong tay trước khi chị gọi. Một quả hồ đào. Chị để nó lại và ra về theo đúng lối Flora vừa đi. Đúng lúc đó, điện thoại của chị reo. Chị nhìn chằm chằm vào màn hình, và giật mình. Là Flora.
– Mẹ có một bà bạn tên là Elena Ochoa. Bà ấy ở trong ngôi nhà quét vôi trắng cạnh chợ. Chị không biết liệu bà ấy có muốn nói chuyện với em không, bà ấy và Ama đã không trò chuyện nhiều năm nay, từ khi họ cãi nhau. Chị chắc bà ấy biết nhiều chuyện trong thời gian đó hơn bất kỳ ai. Chị chỉ mong em tỏ ra tôn trọng và cố nhịn nói xấu mẹ, để chị không ân hận gọi cuộc này.
Flora ngắt ngay máy, không đợi trả lời.
– Tôi biết cô là ai, - người đàn bà nói ngay khi trông thấy Amaia. - Mẹ cô và tôi là bạn, nhưng từ nhiều năm trước kia. Sao cô không vào nhà? - Bà ta nói và tránh sang bên để Amaia đi qua.
Một cái tủ ly đồ sộ làm vướng lối đi trong hành lang hẹp. Amaia đợi bà ta chỉ đường.
– Vào bếp đi, - bà nói dịu dàng.
Amaia vào cánh cửa đầu tiên bên trái, rồi đợi Elena theo sau và mời chị ngồi xuống cái ghế dựa vào tường.
– Cô thích cà phê không? Tôi định pha đây.
Amaia nhận lời tuy không thực sự thích lắm. Mặc dù cố tỏ ra thân thiện, song rõ ràng bà ta không thoải mái. Cử chỉ của bà hầu như để lộ phải kiềm chế thần kinh đang căng thẳng, khiến bà có vẻ bất an và mong manh. Bà đặt cà phê lên khay, mang tới bàn bếp và để ở một đầu bàn. Bà xúc ít đường vào tách của mình làm tràn cà phê lên khăn trải bàn.
– Ôi, vì Chúa! - Bà kêu lên, quá kịch tính.
Amaia giả vờ tập trung uống cà phê, đợi bà ta ngồi xuống sau khi lau bàn.
– Ngon quá, - chị nói.
– Phải, - Elena đáp tự nhiên, rồi ngước lên, nhìn thẳng vào chị. - Cô là Amaia phải không? Cô út.
Amaia gật đầu.
– Lúc cô ra đời, mẹ cô và tôi đã mỗi người một nơi. Nó làm tôi khó chịu vì tôi rất mến bà ấy. - Bà dừng lại. - Tôi yêu quý Rosario và tổn thương sâu sắc khi tình bạn của chúng tôi chấm dứt. Tôi không có bạn gái, và khi mẹ cô chuyển tới đây, chúng tôi hầu như không thể tách rời. Chúng tôi cùng nhau làm mọi việc, cùng đi dạo, chăm sóc các con gái nhỏ; tôi cũng có một con gái cùng tuổi với chị lớn nhất của cô. Chúng tôi cùng đi mua sắm, đi công viên, nhưng phần lớn thời gian là trò chuyện. Thật dễ chịu khi có người để chuyện trò.
Amaia gật đầu, khuyến khích bà nói tiếp.
– Thế nên khi chúng tôi chia lìa… Ờ, nó khiến tôi rất buồn. Tôi tưởng thời gian sẽ làm Rosario đổi ý, và… Nhưng lẽ tất nhiên bà ấy không làm thế.
Elena giơ cái tách như để che mặt.
– Chuyện gì khiến hai người bạn thân bất hòa vậy?
– Thứ duy nhất có thể xen vào giữa hai người phụ nữ là một người đàn ông, bà Elena nói, nhìn chị và gật đầu.
Amaia cố lần theo càng xa càng tốt để xác định hành vi của mẹ mình. Chị có thực sự mù quáng không? Liệu chị có thành kiến như một cô con gái không thấy mẹ mình như một phụ nữ với những nhu cầu riêng? Rosario đã mất trí vì một người đàn ông, vì trong một xã hội bảo thủ và hẹp hòi như Baztán, bà không cảm thấy thoải mái chạy trốn cùng ông ta?
– Mẹ cháu có người tình ư?
Mắt người đàn bà mở to, kinh ngạc.
– Ồ không, tất nhiên là không. Sao cô lại nghĩ thế? Không, đó không phải loại quan hệ mà…
Amaia xòe hai bàn tay, yêu cầu giải thích.
– Một nhóm tin vào cách thức truyền đạt cảm xúc và thể xác - loại những người trái khoáy vào những năm 70, cô biết rồi đấy: vui chơi giải trí, đọc kinh Mật giáo, tập yoga, thiền định. Chúng tôi thường họp mặt ở một ngôi nhà trong nông trại. Người đàn ông dạy các khóa học đó rất có duyên, hấp dẫn, ăn vận lịch sự, khéo nói. Ông ta là nhà tâm lý học hay đại loại thế, tôi không biết chắc ông ta có bằng cấp gì. Hồi mới bắt đầu rất vui. Chúng tôi trò chuyện về nhìn thấy đĩa bay, những vụ bắt cóc, lừa bán phụ nữ và trẻ em, sự dịch chuyển của các ngôi sao và những thứ linh tinh như thế. Rồi dần dà, chúng tôi thôi nói đến những đề tài đó và tập trung vào những cách phù phép, yêu thuật, các biểu tượng huyền bí và lịch sử phép phù thủy trong thung lũng. Tôi không quan tâm lắm đến những thứ này, nhưng mẹ cô bị mê hoặc hoàn toàn. Tôi phải thú thật rằng chúng có sức hấp dẫn nhất định. Bà ấy thích những cuộc gặp bí mật thuộc một hội kín…
Elena nhìn xuống, im bặt. Amaia đợi vì rõ ràng tâm trí bà ta ở tận đâu đâu.
– Bà Elena, - chị nhẹ nhàng nói. Người đàn bà ngẩng đầu và mỉm cười yếu ớt. - Rồi đã xảy ra chuyện gì? Điều gì khiến bà rời bỏ nhóm?
– Những lễ hiến tế.
– Những lễ hiến tế ư?
– Tế lễ bằng gà trống non, mèo, cừu…
– Họ giết gia súc?
– Không, họ tế chúng, dùng nhiều cách thức khác nhau. Họ thu máu vào các bát gỗ, đựng trong các chai thủy tinh cùng vài hợp chất ngăn máu vón cục. Máu mang một ý nghĩa rất vô lý. Nhưng tôi không muốn là một phần của nhóm nữa, cứ cảm thấy sai trái thế nào ấy… Tôi lớn lên trong nông trại, chúng tôi giết gà và thỏ, thậm chí giết cả lợn nhưng không như thế này. Sau đó, tôi gặp nhiều nhóm khác. Giáo viên của chúng tôi - chúng tôi gọi ông ta như thế - kể rằng có nhiều nhóm khác giống như chúng tôi ở khắp Navarre, ông ta thường đến thăm họ và đi vắng nhiều ngày. Một hôm, ông hãnh diện tuyên bố một nhóm ở Lesaka sắp tới gặp chúng tôi. Họ được cho là đến giúp chúng tôi hoàn tất việc đào tạo để chúng tôi có thể tiến lên trình độ tiếp theo. Mười hai người cả nam lẫn nữ, họ sẽ tiến hành những lễ hiến tế, cứ như là một việc đặc biệt vậy. Vì chúng tôi đã tế những gia súc nhỏ - xin Chúa tha tội cho con - nên cuộc nói chuyện này khiến tôi căng thẳng, nên tôi hỏi thẳng họ. Một người đàn ông nhìn tôi chòng chọc, cái nhìn như xuất thần. Ông ta nói: “Một con mèo hay một con cừu là một vật tế thần, nhưng lễ hiến tế phải là con người”. Tôi không phải kẻ nhát gan, tôi đã nghe ông bà tôi kể nhiều chuyện về các mụ phù thủy hiến tế trẻ con và ăn thịt chúng, nhưng tôi cứ ngỡ chỉ là chuyện hoang đường. Rồi vài tuần sau, giáo viên của chúng tôi tới, nụ cười nở rộng trên mặt và kể với chúng tôi rằng nhóm ở Lesaka đã thực hiện lễ hiến tế. Tôi tưởng ông ta nói thế chỉ để tạo dựng vẻ huyền bí cho mình, ý tôi là tôi không thật tin chuyện đó. Tuy nhiên, tôi lùng sục báo chí tìm những bài viết về trẻ em bị giết hoặc mất tích. Tôi không tìm thấy gì nhưng cảm thấy bứt rứt. Tôi nói với mẹ cô rằng chúng tôi nên rời khỏi nhóm, nhưng Rosario nổi cơn thịnh nộ. Bà nói tôi không hiểu tầm quan trọng của những việc chúng tôi đang làm, sức mạnh mà chúng tôi được truyền thụ. Đó là lúc tôi nhận ra Rosario đã bị người ta tẩy não. Bà buộc tội tôi là kẻ phản bội, và chúng tôi cãi nhau. Tôi không bao giờ gặp lại nhóm nữa, nhưng nhiều tháng sau, tôi bị họ nhắc nhở.
– Nhắc nhở ư?
– Nhiều việc mà người khác không để ý, nhưng tôi biết rõ là họ làm.
– Ví dụ như?
– Những việc như… rỏ máu bên ngoài nhà tôi, một hộp đựng thảo dược quấn với một túm lông súc vật. Một hôm, con gái tôi về nhà cầm vài quả hồ đào, nó kể một người phụ nữ trên phố cho nó.
– Quả hồ đào? Chúng có ý nghĩa gì? - Amaia hỏi và nhớ lại quả hồ đào Flora đặt trên mộ Anne Arbizu.
– Hồ đào tượng trưng cho quyền lực của phù thủy. Phù thủy tập trung mọi sức mạnh vào bộ óc bé xíu đó. Nếu một đứa trẻ được cho quả hồ đào và ăn, đứa trẻ đó nhất định bị ốm nặng.
Amaia nhận thấy bà ta siết chặt hai bàn tay trên lòng, bỗng xúc động.
– Tại sao bà cho rằng họ gửi những thứ đó để “nhắc nhở”?
– Để nhắc tôi không được nói chuyện về nhóm.
– Mẹ tôi vẫn tham dự những cuộc họp ấy sao?
– Tôi chắc thế, tuy tôi không gặp Rosario nữa. Nhưng riêng việc bà ấy không bao giờ nói chuyện với tôi là đủ bằng chứng.
– Bà có thể cho tôi danh sách những người tham gia không?
– Không, - Elena nói, bình tĩnh. - Tôi sẽ không làm thế.
– Bà có biết nhóm còn tồn tại không?
– Không.
– Bà có thể cho tôi địa chỉ nơi hội họp không?
– Cô sẽ không nghe được đâu. Nếu tôi làm thế, sẽ có chuyện khủng khiếp xảy ra với gia đình tôi.
Săm soi mặt Elena, Amaia kết luận rằng bà thực sự tin việc này.
– Thôi được, bà Elena, xin bà đừng lo lắng. Bà đã giúp tôi rất nhiều, - chị nói, đứng dậy và ngay lập tức cảm thấy bà ta nhẹ cả người. - Còn một việc nữa…
Elena lại cứng người lúc chờ nghe câu hỏi.
– Nhóm của bà đã bao giờ có ý định tiến hành hiến tế người chưa?
Người đàn bà nổi đóa.
– Cô đi đi, xin cô, - bà ta nói và đúng ra là đẩy Amaia xuống hành lang. - Đi đi. - Bà ta mở cửa, và đẩy vội chị ra khỏi nhà mình.