Mối Bất Hòa Truyền Kiếp

Lượt đọc: 86 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 15

❊ ❊ ❊

Zarautz là nơi chị muốn sống khi còn bé. Đại lộ viền cây rợp bóng mát, những ngôi nhà thanh lịch trên con đường nhìn ra biển, nơi họp chợ cũ duyên dáng, có nhiều cửa hàng và quán rượu, dân chúng thơ thẩn trên phố ngay cả khi trời mưa, mùi biển cả thô tháp, chưa được thuần dưỡng, phun những giọt nước nhỏ vào không khí. Và ánh sáng ở biển khác hẳn với ánh sáng trong khe núi, như mắt xanh so với mắt nâu vậy. Amaia không thừa nhận điều này hơn nữa, vì mới gần đây thôi, chị tin rằng mình ghét nơi mình ra đời và sẽ không bao giờ trở lại Elizondo, vậy mà chỉ trong vòng mười hai tháng mọi sự đã thay đổi, chẳng còn gì là thứ trước kia chị coi là đúng, chẳng còn những thứ chị tin chắc, còn lại vẫn y như cũ. Cội nguồn kêu gọi chị, gọi trở về với những người sinh ra ở đó, ở chỗ rẽ vào dòng Baztán. Amaia đã nghe thấy tiếng gọi, nhưng vẫn có sức mạnh cưỡng lại. Thứ chị không thể bỏ qua là tiếng gọi của người chết. Chị biết, chị hiểu rằng có một hiệp ước mạnh hơn chị, một thế lực thúc ép chị đương đầu với thời gian và những kẻ muốn làm ô uế danh tiếng của thung lũng lần nữa. Nhưng đó là nơi những tin chắc của chị kết thúc.

Những đám mây tích dày, trắng muốt lơ lửng ở bầu trời trên biển không hoàn toàn xanh, đập vào bờ những đợt sóng trắng xóa, vang lên nhịp nhàng giữa buổi sáng mùa đông trong sáng của Zarautz. Một nhóm nhỏ những người lướt sóng mang ván ra biển - nhờ thủy triều đưa ra một quãng xa - nhập vào nhóm lớn đã ở trong nước. Hai con ngựa uy nghi chạy nước kiệu trên nền cát rắn chắc. Chị ngước nhìn cửa sổ của các ngôi nhà trên đường đi dạo, ngẫm nghĩ chắc tuyệt vời lắm khi sáng sáng thức dậy với phong cảnh trên vịnh Biscay, có tiền là có mọi thứ đó. Liếc qua giá cả ở một hãng kinh doanh bất động sản trong vùng, cho thấy chẳng có gì thay đổi từ một trăm năm mươi năm trước, khi những doanh nhân đầu tiên từ Basque Country và Madrid bắt đầu xây dựng những biệt thự tuyệt đẹp của họ dọc theo bờ biển: nơi này vẫn dành riêng cho người giàu. Amaia định vị tòa nhà chị đang tìm và theo con đường nhỏ vòng sang bên sườn, nơi có lối vào nhìn xuống khu vườn. Một người gác cửa mặc chế phục báo tin chị tới và bảo chị phải lên tầng nào. Lúc ra khỏi thang máy, một cánh cửa mở sẵn chờ chị. Tiếng Flora vọng ra từ bên trong, hòa lẫn tiếng nhạc.

–Vào đi Amaia, em pha cà phê lấy nhé, chị mặc quần áo sắp xong.

Nếu Flora muốn gây ấn tượng với em gái thì đã thành công. Có thể trông thấy biển từ ô cửa mở vào một phòng khách rộng mênh mông. Các cửa sổ lớn màu cam nhạt kéo dài suốt chiều dài căn hộ, từ sàn tới trần: tác động thật ngoạn mục. Amaia dừng lại giữa phòng, choáng ngợp vì vẻ đẹp và ánh sáng. Đây là sự xa xỉ đáng đồng tiền.

Flora vào phòng và mỉm cười khi thấy em gái.

– Ngạc nhiên phải không? Lần đầu tiên bước vào đây chị cũng cảm thấy thế. Sau đó, người ta cho chị xem vài nơi nữa, nhưng suốt đêm chị không thể gạt hình ảnh này ra khỏi đầu. Ngày hôm sau chị mua ngay.

Amaia cố rời mắt khỏi phong cảnh để nhìn chị gái đứng ở khoảng cách thận trọng và có vẻ không muốn đến gần hơn.

– Trông chị tuyệt lắm, Flora, - Amaia chân thành khen.

Flora mặc bộ đầm đỏ và trang điểm đậm, song vẫn duyên dáng và thanh lịch.

Chị ta quay tròn để Amaia có thể ngắm bộ trang phục của mình từ phần lưng.

– Chị không hôn em đâu, vì chị sắp trưng cái mặt này lên tivi. Bọn chị sẽ quay phim trong một tiếng rưỡi.

Tất nhiên đây chỉ là lý do, Amaia nghĩ.

Thoát khỏi thủ tục thể hiện tình thương mến, Flora gõ gót giày khắp phòng, để lại vệt dài vô hình của loại nước hoa đắt tiền lúc đi lướt qua Amaia.

– Chắc chắn là mọi việc với chị đều tốt đẹp, Flora. Chị có ngôi nhà đẹp quá, - Amaia nói và đưa mắt nhìn khắp trang trí lộng lẫy mà chị vừa nhận ra, - và trông chị thật tuyệt.

Flora trở lại, bưng khay đựng hai tách cà phê.

– Chị không thể nói thế với em, em gầy dễ sợ. Chị tưởng ai làm mẹ lần đầu cũng béo ra, em có thể tăng vài ki lô.

Amaia cười mỉm.

– Làm mẹ mệt lắm, Flora ạ, nhưng rất bõ để cố gắng. - Đây là một nhận xét bâng quơ, nhưng Amaia nhận thấy chị mình nhăn mặt. - Chương trình đang quay thế nào ạ? - Amaia đổi chủ đề.

Mặt Flora rạng lên.

– À, cho đến nay bọn chị đã phát bốn mươi chương trình trên truyền hình địa phương, trước đó có mười đoạn nhận được nhiều lời mời của các kênh quốc gia. Tuần trước, bọn chị đã ký một hợp đồng, sẽ bắt đầu lên sóng vào mùa xuân. Bọn chị đã mua trước hai mùa, có nghĩa là mỗi ngày chị sẽ quay hai hoặc ba chương trình. Một công việc vất vả, nhưng vô cùng đáng xem.

– Chị Ros cũng đang làm việc ở xưởng bánh rất cừ. Thậm chí chị ấy còn tăng doanh thu.

Flora nói khinh khỉnh:

– Hiện giờ Ros chỉ thu hoạch phần thưởng mọi công lao khó nhọc của chị. Thế em tưởng mọi thứ này diễn ra một sớm một chiều chắc?

– Không. Em chỉ kể là chị ấy đang làm tốt thôi.

– Ờ, đây là thời điểm cho Ros biết đến mọi thứ.

Amaia im lặng trong lúc thưởng thức cà phê và vui thích ngắm nhìn đường bờ biển Guetaria hình con chuột kỳ lạ, cảm thấy sự căng thẳng của Flora tăng dần lúc ngồi đối diện với chị. Flora đã uống xong cà phê và liên tục kéo gấu bộ đầm hoàn hảo của mình.

– Chị có vinh dự gì mà được em tới thăm thế? - Cuối cùng, Flora cất tiếng.

Amaia đặt cái tách xuống khay và nhìn thẳng vào chị gái.

– Một cuộc điều tra, - Amaia nói.

Nụ cười của Flora hơi nhạt đi.

– Hãy kể cho em về Anne Arbizu, - Amaia nói, vẫn lướt nhìn khắp mặt chị gái.

Vẻ bình tĩnh hiển hiện của Flora bị phản bội bởi quai hàm chị ta run nhẹ. Amaia tưởng chị mình sẽ từ chối, nhưng một lần nữa Flora lại làm chị ngạc nhiên.

– Vậy em muốn biết gì?

– Tại sao chị không nói với em chị và cô ấy là bạn bè?

– Em chưa bao giờ hỏi, em gái ạ, hơn nữa việc đó chẳng có gì lạ. Chị sống cả đời ở Elizondo, chị quen biết gần như tất cả, ít nhất là biết mặt. Trên thực tế, chị biết mọi phụ nữ ở đó, trừ cô gái Domician, tên cô ta là gì nhỉ?

– Nhưng chị không chỉ biết mặt Anne Arbizu, hai người là bạn.

Flora vẫn im lặng trong lúc cố đoán cô em gái biết đến đâu. Amaia làm chị ta thoát khỏi khổ sở.

– Có người nói với em họ đã nhìn thấy cô ta ra khỏi cửa sau của xưởng bánh.

– Cô ấy có thể tới đó gặp một công nhân được chứ?

– Không, Flora, cô ta tới gặp chị. Chị đã chào tạm biệt Anne rất trìu mến ở cửa.

Flora đứng dậy và đi tới bên cửa sổ để Amaia không nhìn thấy vẻ mặt của chị ta.

– Cứ cho là đúng sự thật đi nữa, chị không thấy tại sao việc này lại liên quan.

Amaia cũng đứng lên, nhưng vẫn ở tại chỗ.

– Flora, Anne Arbizu chết bất đắc kỳ tử; Anne Arbizu ngoại tình với Freddy, em rể của chị; Anne Arbizu là nguyên nhân mọi đau khổ của Ros, Anne Arbizu là bạn bè đủ thân với chị để hai người ôm hôn nhau thắm thiết lúc chào tạm biệt. Anne Arbizu bị người chồng đã ly thân của chị dìm chết ở dòng sông. Còn chị, Flora, chị giết người đàn ông chị đã kết hôn suốt hai chục năm và bất chấp lời khai cùng sự khoe khoang khoác lác của chị, em không tin chị làm thế để tự vệ, vì em biết một sự thật là Víctor đã làm những việc đó chỉ vì anh ta không có khả năng đối đầu với chị. Anh ta thà chết ngoạn mục còn hơn là đe dọa chị.

Flora nghiến răng và vẫn nhìn chằm chặp qua cửa sổ, nhất quyết im lặng.

– Em hiểu chị, Flora. Em biết chị nghĩ gì về các nạn nhân, coi chúng chỉ là một lũ con gái hư hỏng. Em nhớ từng lời biện hộ của chị cho người bảo vệ đức hạnh, trừng phạt những con đĩ bé bỏng, vô liêm sỉ. Chị chẳng màng đến họ. Em không tin chị đặt dấu chấm hết cho Víctor vì anh ta để lại một chuỗi những cô gái bị giết trong thung lũng, mà vì anh ta đã giết Anne. Đó là sai lầm của Víctor.

Flora từ từ quay lại, mỗi cử động đều chỉ rõ chị ta phải nỗ lực biết mấy để kiềm chế bản thân.

– Đừng nói năng nhảm nhí. Tôi đã nói tất cả những gì kích động anh ta. Tôi nghi ngờ anh ta, tôi hiểu người đàn ông này - như cô vừa nói, chúng tôi đã kết hôn hai chục năm - và anh ta phản ứng bằng cách đe dọa tôi. Cô đã ở đó, cô đã thấy anh ta quát mắng tôi và rít lên rằng sẽ giết tôi.

Amaia cười phá.

– Chị đang đùa đấy ư, Flora! Đó không phải là sự thật. Nếu Víctor làm theo cách đó là vì anh ta ở trong vòng quyền lực của chị. Víctor tha thiết yêu chị, thờ phụng và kính trọng chị - chỉ minh chị thôi. Chị nói đúng, em đã ở đó, nhưng em không nhớ như thế. Em nghe thấy phát súng đầu tiên, và khi chạy tới em thấy chị bắn phát thứ hai… Bây giờ em nghĩ mình đã thực sự trông thấy chị cho anh ta một phát kết liễu.

– Cô không thể chứng minh được gì hết, - Flora gào lên tức tối và lại quay ra cửa sổ.

Amaia mỉm cười.

– Chị nói đúng, em không thể, nhưng thứ mà em có thể chứng minh là Anne Arbizu phức tạp hơn và nham hiểm hơn hẳn bề ngoài thiên thần của cô ta. Gần như người bệnh tâm thần, cô ta là một kẻ mưu mô, có khả năng điều khiển mọi người đã gặp. Em muốn biết chị có quan hệ gì với cô ta, cô ta đã tác động gì đến chị, chị có yêu quý Anne đến mức trả thù cho cái chết của cô ta không?

Ép đầu vào kính, Flora vẫn không nhúc nhích trong vài giây, rồi buột ra một tiếng rền rĩ trong cổ, chị ta xòe hai bàn tay áp chặt vào cửa sổ để giữ vững. Lúc quay lại, mặt Flora đầy những vệt nước mắt, làm hỏng lớp trang điểm cẩn thận. Chị ta lảo đảo tới sofa, lún sâu vào đó trong lúc khóc. Những tiếng nức nở từ sâu thẳm trong lòng cùng những tiếng hổn hển nghẹn ngào tuyệt vọng dường như không bao giờ ngừng. Kiệt sức vì đau buồn và chua xót, Flora đắm mình trong nước mắt khiến Amaia mủi lòng. Chị nhận ra đây là lần đầu tiên thấy người chị cả khóc; Từ khi họ còn bé, Amaia chưa bao giờ thấy Flora rơi một giọt nước mắt. Chị phân vân tự hỏi liệu mình có nhầm không. Những người như Flora suốt đời mang trên mình cái mai bằng thép khiến họ trơ trơ, song dưới bề ngoài bền chắc đó vẫn có da thịt, máu và một trái tim. Phải, có lẽ mình nhầm, có lẽ sự đau đớn của Flora là kết quả việc ép phải bắn Víctor, người đàn ông chị ấy đã yêu theo cách của riêng mình.

– Flora… tha thứ cho em.

Flora ngẩng đầu và Amaia thấy bộ mặt nhợt nhạt của chị ta, trong mắt Flora không hề có vẻ đau buồn mà chỉ có giận dữ và oán hận. Lúc Flora cất tiếng, giọng chị ta lạnh lùng và thận trọng theo cách khiến Amaia rùng mình.

– Đừng thò mũi vào chuyện này, Amaia Salazar, hãy dừng theo đuổi vụ Anne Arbizu, quên cô ta đi. Cô đã vượt quá tầm của mình rồi, em gái ạ, cô không hề có chút manh mối thứ cô đang đào bới, hoặc thứ cô đang nói tới. Các phương pháp phát hiện của cô sẽ chẳng đưa cô tới đâu trong vụ này. Bây giờ, tôi đề nghị cô kết thúc vụ này trong lúc cô còn có thể.

Flora đứng dậy và tiến tới buồng tắm.

– Giờ cô đã thỏa mãn chưa? - Flora nói, rồi bồi thêm. - Đi ra nhớ khép cửa lại.

Trên đường tới cửa, Amaia nhận ra tấm ảnh Ibai đang chăm chú nhìn chị trong cái khung cổ bằng bạc rất đẹp. Chị dừng lại ngắm nghía và với lấy tay cầm ở cửa, Amaia nghĩ chị gái mình là người lạ lùng nhất chị biết.

Zuriñe Zabaleta sống trên đường Alameda Mazarredo ở Bilbao, từ đó có tầm nhìn hoàn hảo ra bảo tàng Guggenheim. Lối vào lát đá hoa đen-trắng cho thấy tòa nhà theo phong cách Pháp, với những chi tiết tỉ mỉ lặp lại bên trong: cửa kiểu Pháp cao tới trần, những đường phào, những ván gỗ ốp. Amaia nhận ra nhiều tác phẩm của các nghệ sĩ nổi tiếng. Trong góc có pho tượng của James Wexford khiến chị mỉm cười, và điều đó không thoát khỏi con mắt của vị chủ nhân khi chị ta tiến ra chào đón Amaia:

– Ồ, đó là tác phẩm của một nhà điêu khắc Mỹ. Cô nghĩ có phải là nguyên bản không?

– Rất đẹp, - Amaia đáp và ngay lập tức nhận được sự tán thành.

Zuriñe ăn vận toàn màu sẫm, quần áo đắt tiền nhưng màu sắc khiến chị ta trông già hơn tuổi. Chị dẫn Amaia tới một vòng tròn những ghế, sắp xếp để nhìn thấy Guggenheim rõ nhất, bề mặt bảo tàng lấp lánh với độ sáng không chói khác lạ. Chị ta mời Amaia ngồi.

– Hôm qua, một sĩ quan cảnh sát nói cô muốn hỏi tôi vài câu về vụ giết chị gái tôi. - Zuriñe nói bằng giọng dè dặt, có giáo dục, nhưng Amaia nhận thấy một thoáng ngại ngần trong giọng nói khi nhắc tới vụ án. - Tôi không bao giờ tưởng tượng được rằng sau mọi thứ, lần này…

– Gia đình chị có gốc gác ở Baztán phải không?

– Mẹ tôi là người Ziga, gia tộc bố tôi là các thương gia nổi tiếng Neguri. Mẹ tôi thường nghỉ hè ở Getxo và họ gặp nhau ở đó.

– Nhưng chị gái của chị sinh ở Baztán phải không?

– Hồi đó mọi sự khác hẳn. Mẹ tôi muốn về nhà sinh con. Mẹ luôn nói việc đó là một thử thách kinh khủng: cứ hình dung có đứa con đầu lòng ở nhà. Bà sinh tôi ở đây, trong bệnh viện.

– Tôi muốn chị kể về quan hệ giữa chị gái và anh rể chị.

– Anh rể tôi là một ủy viên quản trị ở Telefónica. Tôi thường nghĩ anh ấy là người khá buồn tẻ, nhưng chị tôi yêu anh ấy và họ cưới nhau. Họ sống ở Deusto trong một khu rất đẹp.

– Chị gái chị có đi làm không?

– Bố mẹ tôi qua đời khi tôi mười chín tuổi, sau khi Edurne kết hôn chưa bao lâu. Họ để lại cho chúng tôi một số bất động sản cũng như quỹ tín thác, đủ cho cả hai chị em tôi sống theo ý mình. Trong hoàn cảnh của Edurne, chị ấy là chủ tịch Unicef ở Basque Country.

– Trước kia không có đơn kiện về việc bị bạo hành, nhưng có thể chị đã chứng kiến điều gì đó…

– Chưa bao giờ. Như tôi đã nói, anh rể tôi là người khá nhạt nhẽo, một người nhàm tẻ chỉ biết nói về công việc. Họ không có con, nên thường ra ngoài nhiều - đi xem hát, đến rạp opera, ăn tối với những người khác, thỉnh thoảng với vợ chồng tôi. Họ là một trong những cặp có vẻ như chung sống vì quán tính, không người nào sẵn sàng đi bước đầu tiên… Nhưng tôi chưa bao giờ nghe thấy một lời gợi ý dù xa xôi nhất rằng anh ta có thể làm bất cứ việc gì như thế. Ngoại trừ… vài tháng trước khi sự việc xảy ra, chị tôi kể anh ta bắt đầu ra ngoài nhiều hơn, về nhà muộn, vài lần chị tôi bắt gặp anh ta nói dối về nơi đã ở. Chị tôi ngờ anh ta gặp gỡ người phụ nữ khác, tuy không có bằng chứng. Trong mọi tình huống, chị tôi chưa sẵn sàng đối phó với việc ấy. Tất nhiên tôi hỏi anh ta có đánh chị ấy không. Chị tôi nói không, nhưng khi đó chị tôi đã quấy rầy anh ta quá nhiều bằng nhiều câu căn vặn, thỉnh thoảng anh ta trút giận vào đồ đạc, quăng ném bất cứ thứ gì trong tầm tay. Một hôm, trong lúc đang uống cà phê, chị tôi bỗng nói đến chuyện ly hôn, một chiều hướng chị đang dự tính hơn là một quyết định. Tất nhiên là tôi ủng hộ chị ấy, tôi nói sẽ đứng về phía chị ấy nếu chị quyết định làm thế. Đó là lần cuối cùng tôi gặp chị còn sống. Lần sau là ở nhà xác, mặt chị biến dạng đến mức chúng tôi phải tổ chức lễ vọng với quan tài đóng kín. - Zuriñe ngừng một lát lúc nhớ lại hình ảnh ấy. - Nhà bệnh lý học nói chị tôi chết vì những vết thương, hắn đã đánh chị ấy đến chết. Cô có tưởng tượng nổi có kẻ tàn bạo đến mức đánh một phụ nữ đến chết không?

Amaia nín lặng, chăm chú nhìn người phụ nữ.

– Sau khi giết chị ấy, hắn phá hủy toàn bộ ngôi nhà, đập nát đồ đạc, xé quần áo của chị ấy thành nhiều mảnh, sau đó định đốt nhà nhưng không thành. Trong lúc nổi điên, hắn bị gẫy gần hết các ngón tay và vài ngón chân. Máu từ người hắn chảy ra nhiều không kém từ chị tôi; và khi xong việc, hắn nhảy qua cửa sổ tầng tám. Hắn chết trước khi xe cấp cứu tới.

– Hàng xóm có nghe thấy gì không?

– Đó là một tòa nhà riêng biệt, giống như tòa nhà này, mỗi căn hộ chiếm trọn một tầng. Hình như hồi đó chẳng có ai sống ở tầng trên và tầng dưới.

Amaia ngập ngừng rồi đưa ra câu hỏi cốt yếu:

– Hắn có cắt một chi của chị ấy không?

– Nhà bệnh lý học bảo chúng tôi việc đó được tiến hành sau khi chị ấy chết. Thật vô nghĩa, - người phụ nữ rên rỉ. - Tại sao hắn phải làm thế?

Zuriñe nhắm mắt vài giây, rồi nói tiếp:

– Người ta không bao giờ tìm thấy cánh tay đó, mặc dù dùng cả chó trinh sát lùng sục toàn bộ căn nhà. Họ chắc chắn hắn không rời khỏi tòa nhà, người gác cửa thề chưa bao giờ rời khỏi vị trí, và sẽ trông thấy hắn đi ra rồi lại vào, đầy máu chứ. Hơn nữa, tòa nhà có CCTV, cảnh phim đã chứng thực lời khai của người gác cửa. Mặc dù có một điểm mù, nơi hắn có thể lẻn qua, song không tìm thấy dấu vân tay trên lối vào, hoặc trong thang máy hoặc trên cầu thang, vì thế hắn không thể đi ra theo cách nào khác, còn dấu vân tay của hắn ở khắp căn hộ, và giày hắn ướt sũng máu.

Zuriñe thở dài, dựa lưng vào tấm nệm, trông mệt mỏi nhưng vẫn tiếp tục:

– Tôi không biết một kẻ đáng khinh như hắn lấy đâu ra can đảm, có đến cả triệu năm tôi cũng không thể hình dung sinh vật không xương sống ấy lại có gan làm những điều đó.

– Còn vài câu hỏi nữa, rồi tôi sẽ để chị nghỉ.

– Tất nhiên rồi.

– Hắn có để lại một bức thư, một thông điệp nào không?

– Hắn để lại cùng một thông điệp hàng chục lần, viết nguệch ngoạc bằng máu của hắn lên tường.

Tarttalo, - Amaia nói.

Zuriñe gật đầu. Amaia ngả người trên ghế, gần chị ta hơn.

– Chị phải hiểu rằng cuộc nói chuyện riêng này là một phần trong cuộc điều tra đang tiến hành. Tôi không thể nói với chị nhiều hơn, nhưng tôi nghĩ với sự giúp đỡ của chị, chúng tôi có thể tìm thấy dấu tích bị mất của chị gái chị.

Zuriñe mỉm cười, cố kìm nén vẻ nhăn nhó vì nỗi đau làm mặt chị ta méo mó. Amaia đưa ra một ống tuýp đựng nùi bông.

– Chị hãy chà xát bên trong má bằng nùi bông này, một thủ tục thôi mà.

GPS chỉ Entrambasaguas ở Burgos: cách Bilbao bốn mươi ba cây số, hay mười lăm phút chạy xe, dân số là ba mươi bảy người. Amaia thở dài, những cái làng bé tí tẹo này làm chị cảm thấy tù túng, tuy không biết vì sao. Ngược đãi và bạo hành gia đình không gắn liền với cuộc sống thôn dã hơn là với các nhóm xã hội hoặc các nơi khác, và chị luôn thấy khắc khoải vì những hồi ức tuổi thơ, cảm giác bị mắc kẹt ở nơi mình ra đời. Thật ngớ ngẩn, nhiều sự việc không khác đi khi sống ở một thành phố lớn - chắc là với Edurne ở Bilbao thì không thế, mãi mãi xoắn bện với người phụ nữ kia ở Entrambasaguas, với người chị ta chưa bao giờ trao đổi một lời.

Amaia tập trung vào con đường trước mặt, càng khó hơn khi vượt lên, trước hết vì mưa tuyết không ngừng làm con đường nặng trĩu những tuyết lúc chị băng qua cầu vào Entrambasaguas. Chị chạy chậm lại lúc tới quảng trường chính nhỏ bé, cố xác định phương hướng, sửng sốt vì hình ảnh tràn đầy không khí Giáng sinh của nơi giặt giũ công cộng cũ bằng đá vẫn còn tốt nguyên, đứng ở trung tâm, cạnh một cái máng ăn cho ngựa và một đài phun nước đen nhánh chơ vơ.

– Nước nhiều thế! - Chị tuyên bố lúc lái xe tìm ngôi nhà.

Một cánh đồng rộng bao quanh, ngôi nhà đầy đủ ánh sáng, trông giống một ngôi nhà ở Thuỵ Sĩ hơn, với mái có mép bờ và cầu thang dẫn lên lối vào bên sườn, có nhiều chậu to trồng cây cảnh. Mưa tuyết làm tăng thêm hiệu quả của tấm thiệp Giáng sinh đã quyến rũ chị ở nơi giặt giũ công cộng. Chị đỗ xe ở rìa cánh đồng và đi bộ lên con đường nhỏ lát những phiến đá hung đỏ đang biến mất nhanh chóng dưới tuyết.

Người đàn bà ra mở cửa trạc tuổi bà cô của chị, vóc người cao, gần ngang tầm Amaia song khá mập mạp; tuy vậy, bà vẫn vững chân dẫn Amaia vào phòng khách, nơi có ngọn lửa cháy rực trong lò sưởi.

– Cả hai chúng tôi đều biết cuối cùng hắn sẽ giết con bé, - bà nói đều đều.

Amaia cảm thấy dễ chịu, hiếm khi nói chuyện riêng với người thân của nạn nhân mà không gặp những cơn xúc động bột phát. Trong phần lớn các vụ, chị chọn một khoảng cách nghề nghiệp, gây được lòng tin nhưng không xác lập mối ràng buộc về tình cảm. Cách tốt nhất là đi thẳng vào việc như chị đã làm ở Bilbao, hỏi thẳng, những câu hỏi ngắn gọn và cố tránh nhắc đến những khía cạnh ghê tởm của vụ án: xác chết, máu me, những vết thương, vết rạch dài và sâu… mọi thứ có thể gợi lên những hình ảnh sinh động khiến người thân đau đớn hoặc mất tinh thần, và có thể gây trở ngại cho cuộc điều tra. Nhưng thỉnh thoảng chị may mắn gặp được một nhân chứng như thế này. Theo kinh nghiệm của chị, họ thường là người độc thân, gắn bó chặt chẽ với nạn nhân và có nhiều thời gian suy ngẫm. Chị chỉ cần để mặc họ nói. Bà già đưa cho chị chén trà rồi nói tiếp:

– Hắn là một tên xấu xa, một con sói đội lốt cừu, cho đến khi hắn cưới cháu gái tôi. Từ đó trở đi, hắn lộ nguyên hình. Hắn ghen tuông và ích kỷ, không bao giờ cho phép vợ làm việc ở ngoài, mặc dù con bé đã học ở trường đào tạo thư ký và trước khi lấy chồng đã là thư ký cho một cửa hàng ở Burgos. Dần dà, hắn bắt con bé cắt đứt mọi quan hệ với bạn bè và hàng xóm. Hắn chỉ bằng lòng cho tôi gặp con bé vì như thế, hắn có thể để mắt đến nó và tôi là người thân duy nhất của vợ nó, ngoài một bà dì sống ở Navarre nhưng đã mất từ hai năm trước. Hắn không đánh đập vợ, nhưng bắt nó ăn vận như một mụ thộn nhà quê. Hắn không cho vợ đi giày cao gót hoặc trang điểm, không được đến hiệu làm tóc, con bé phải bện tóc thành một bím dài cho đến ngày nó chết. Nó không được đến bất cứ nơi nào một mình, vì thế tôi phải đi cùng nó đến cửa hàng, hiệu thuốc hoặc đi khám bệnh. Sức khỏe của con bé tội nghiệp chẳng bao giờ khá lên, nó bị tiểu đường mà. Nhiều năm ròng, tôi cố thuyết phục nó bỏ chồng, nhưng tôi hiểu nó làm đúng khi nói với tôi rằng nếu làm thế, hắn sẽ không chịu từ bỏ, sẽ tìm ra và giết chết nó mất.

Bà già ngừng lại, đăm đăm nhìn lò sưởi.

– Tôi chỉ còn biết ở bên nó, ra sức ngăn chặn điều tồi tệ nhất. Có nhiều nhóm cưu mang những phụ nữ chạy trốn… Một hôm, tôi đã xem chương trình về việc đó…

Một giọt nước mắt lăn xuống má, bà vội vã đưa mu bàn tay quệt đi lúc chỉ tấm ảnh lồng khung để trên cái bàn sát tường. Một phụ nữ xanh xao, mắt thâm quầng đang cười vui vẻ trước máy ảnh, giơ chân trước của con cún, làm ra vẻ khiêu vũ với nó.

– Đó là María với con cún nhỏ… Cô biết không, mọi việc bắt đầu từ con cún ấy. Con chó lai xuất hiện ở đây vào cuối hè. Cháu tôi quá đỗi vui mừng, tôi cho là vì vợ chồng nó không có con, mà con cún là một sinh vật có tình. Chồng nó không nói gì, còn tôi chưa bao giờ thấy cháu tôi mãn nguyện đến thế, và lẽ tất nhiên hắn không cho phép điều đó. Hắn để vợ gắn bó với con cún khoảng ba hoặc bốn tháng, sau đó hắn treo cổ con cún lên cây ở ngay lối vào nhà. Lúc nhìn thấy thế, con bé gào khóc thảm thiết đến nỗi tôi ngỡ nó phát điên vì đau buồn. Hắn ngồi bên bàn và đòi ăn tối, thay vào đó con bé vào bếp lấy một con dao. Hắn quát vợ, , nhưng từ cách con bé nhìn trừng trừng, hắn biết mình đã đi quá xa. Cháu tôi chạy ra ngoài, cắt dây hạ con cún xuống, rồi cứ ôm nó trên tay mà đu đưa và khóc cho đến khi kiệt sức. Rồi nó vào ga-ra kiếm cái xẻng, đào hố dưới gốc cây và chôn con vật ở đó. Lúc làm xong, hai bàn tay nó phồng rộp. Hắn ngồi, mặt lạnh tanh, không nói một lời. Cháu tôi vào nhà, quăng sợi dây lên bàn và lên giường nằm suốt hai ngày liền. Sau chuyện đó, María mất hết nhiệt tình, nó trở nên ủ rũ, trầm ngâm. Nó nhìn thấu qua hắn, dường như hắn không có ở đấy. Hắn cáu kỉnh chưa từng thấy, nhưng không dám nhìn vào mắt vợ. Lúc đó, tôi tin cháu tôi sẽ bỏ chồng, và tôi giục nó đến ở với tôi. Tôi còn cho nó tiền để đến bất cứ nơi nào khác. Nhưng nó bình tĩnh một cách kỳ quặc và nói không muốn đẩy tôi vào nguy hiểm nếu nó dọn đến nhà tôi, và nếu có người nên đi thì phải là hắn. Nhà này là của cháu tôi và mang tên María, bố nó mua cho nó khi chúng đính hôn.

Không lâu sau đó, một buổi sáng tôi ghé qua và mặc dù biết con bé rất yếu, song tôi ngạc nhiên thấy nó không xuất hiện… Tôi có chìa khóa nên vào được. Ngôi nhà ngăn nắp, và tôi lên thẳng phòng ngủ. Lúc đầu tôi tưởng nó nằm ngủ, nhưng nó không ngủ mà đã chết. Người ta nói hắn đã dùng gối đè con bé chết ngạt. María không có vết thương nào khác, ngoài mất một cánh tay, chúng tôi không phát hiện ra cho đến khi cảnh sát kéo tấm chăn xuống.

Amaia hồi hộp lắng nghe bà già kể tiếp.

– Họ nói hắn làm thế sau khi con bé chết nhưng tại sao chứ? Hắn cắt cả tóc nó. Lúc vào, tôi không nhận ra nhưng khi họ chuyển xác đi, tôi thấy một vệt trọc lóc ở gáy con bé, - bà nói và chỉ ngón tay vào gáy mình. - Họ tìm thấy hắn cách đây hai cây số, treo cổ trên cây trong vườn quả của bố mẹ hắn. Cô có thấy mỉa mai không hắn treo cổ trên cây giống như con cún vậy?

Bà già lặng im, mỉm cười chua xót lúc đăm đăm ngắm tấm ảnh. Amaia liếc nhìn bà.

– Chị ấy để lại ngôi nhà này cho bà?

Bà già gật đầu.

–Tôi hình dung bà vẫn giữ đồ đạc của chị ấy…

– Chính xác là nó để chúng lại.

– Có lẽ bà vẫn có một bàn chải răng hoặc cái lược của chị ấy?

– Để xét nghiệm ADN phải không? Tôi đã xem hàng loạt xét nghiệm pháp y trên tivi, Tôi nghĩ cô có thể hỏi; tôi có một thứ cô có thể sử dụng.

Bà cầm cái hộp gỗ trên bàn và đưa cho Amaia.

Mở hộp, Amaia không thể ngăn tâm trí trở lại cái ngày mẹ đặt chị lên cái ghế đẩu trong bếp rồi cắt tóc chị, sau đó tết thành một bím dài. Chị đưa tay lên đầu một cách máy móc, rồi nhận ra việc mình làm và hạ tay xuống. Amaia cố lấy lại bình tĩnh. Một bím tóc màu hạt dẻ cuộn tròn ở đáy hộp như một con vật bé xíu đang ngủ. Amaia đóng nắp lại để không phải nhìn nó nữa.

– Tôi e rằng nó không sử dụng được. Chúng tôi có thể chiết ADN từ nang tóc chứ không phải từ tóc đã cắt.

Đây hoàn toàn là thực tế: kỹ thuật tiên tiến có thể chiết xuất ADN từ tóc đã cắt nhưng chi phí rất cao và phức tạp, còn nang tóc thì dễ hơn nhiều.

– Cô nhìn kỹ hơn xem, - bà già đáp lại. - Phần tóc này bị cắt, nhưng tôi đã nói, ở gáy nó có một vệt trọc lóc, tóc bị dứt tận gốc. Hắn để lại cái này dưới gốc cây hắn treo cổ cùng một bức thư.

Amaia mở hộp lần nữa và bứt rứt nhìn món tóc.

– Hắn để lại một bức thư sao? - Chị hỏi, mắt nhìn xoáy vào bím tóc dày.

– Vâng, nhưng cảnh sát lấy đi rồi. Nó viết một từ ngớ ngẩn, chẳng có nghĩa gì. Tôi không nhớ chính xác, chỉ nhớ vẻn vẹn có một từ, khá giống với tên một loại bánh.

Tarttalo.

– Vâng, đúng thế, là Tarttalo.

Tuyết rơi dày lúc Amaia rời Entrambasaguas. Chị dừng lại giây lát cạnh chỗ giặt giũ bằng đá trong quảng trường để bật GPS tìm Elizondo. Chị tập trung lái xe xuyên qua tuyết trên quãng đường hai trăm cây số, liếc nhìn vào cái túi đựng hai mẫu ADN: bao đựng mẫu nước bọt của em gái Edurne Zabaleta và bím tóc của María Abásolo. Chị cần xác lập mối liên quan càng sớm càng tốt: nếu xuất hiện liên quan rõ rệt giữa các nạn nhân và xương tìm thấy trong hang, ít ra họ có bằng chứng rằng hắn tồn tại. Chỉ nghĩ đến kẻ sát nhân đầy quyền lực và quỷ quyệt đủ để thuyết phục người khác (người đó hoặc hung bạo hoặc liều lĩnh) thực hiện một tội ác được dàn dựng khác thường. Và nó không phải là hiếm. Trong mấy năm qua, FBI coi tình trạng xúi bẩy giết người là ưu tiên tại một đất nước - không như Tây Ban Nha - mà kẻ tòng phạm và xúi bẩy người khác giết người cũng bị kết án nghiêm như chính thủ phạm. Kẻ chủ mưu bị coi là loại sát nhân có khả năng khiến nhiều người thuộc mọi tầng lớp xã hội răm rắp tuân theo kế hoạch tổng thể của hắn, như những nô lệ trung thành. Vài vụ đã được công bố rộng rãi về những lãnh tụ của các giáo phái giả tín ngưỡng, đã xúi bẩy các môn đồ tự tử tập thể, bọn chúng có sức mạnh và quyền năng điều khiển mọi người đáng khiếp sợ.

Điện thoại của Amaia reo, cắt ngang trạng thái trầm ngâm của chị. Chị trả lời cuộc gọi của bác sĩ San Martín qua tai nghe.

– Chào thanh tra. Bây giờ có tiện không?

– Tôi đang lái xe nhưng không sao, tôi có thể nói chuyện.

– Chúng tôi đã có kết quả xét nghiệm xương tìm thấy trong vụ mạo phạm nhà thờ ở Arizkun. Tôi muốn thảo luận với cô.

– Mời ông cứ nói.

– Không nói trên điện thoại được. Tốt nhất là cô đến Pamplona. Bảy giờ tôi sẽ gặp Chánh thanh tra ở văn phòng của ông ấy, cô có thể đến vào lúc đó được không?

Amaia liếc nhìn đồng hồ trên màn hình điện thoại.

– Có lẽ phải bảy rưỡi, tôi đang lái xe trong mưa tuyết.

Amaia ngắt máy, bực bội với viễn cảnh phải đỗ lại Pamplona trên đường về nhà. Chị đã đi vắng suốt ngày, nhưng có thể đoán cuộc họp về vấn đề gì. Những hành động báng bổ ngớ ngẩn ấy làm mọi người lo lắng: thị trưởng, Tổng giám mục, phái viên của Vatican, và tất nhiên là cả Chánh thanh tra, ông phải lắng nghe tất cả - kể cả chị - mặc dù chị chẳng biết sẽ nói gì với ông. Lần theo những manh mối trong làng chẳng đi đến đâu, và từ khi nhà thờ được giám sát chặt chẽ, không có thêm sự mạo phạm nào. Chị chắc thủ phạm thuộc một nhóm thanh niên thờ cúng quỷ Xa tăng, chúng đã mất can đảm vì sự có mặt của cảnh sát. Vấn đề có thể giải quyết dễ dàng nếu nhà thờ lắp đặt CCTV hoặc thuê an ninh mật. Nếu họ mong chị cung cấp ai đó để họ đóng đinh câu rút, chắc họ sẽ thất vọng.

Amaia đỗ xe bên ngoài đồn cảnh sát, co duỗi tay chân, cảm thấy tê dại và hơi váng vất sau khi chăm chú lái xe qua mưa tuyết. Chị leo lên tầng một, không báo trước, và gõ cửa phòng sếp.

– Vào đi, Salazar. Cô khỏe không?

– Ổn ạ, thưa sếp.

San Martín đã ngồi trên ghế, đứng dậy và bắt tay chị.

– Cô ngồi đi, - Chánh thanh tra nói và ngồi xuống.

Nhiều hồ sơ khác nhau và biên bản pháp y trải trên bàn, cho thấy họ đang thảo luận. Amaia thầm tập hợp báo cáo trong lúc đợi Chánh thanh tra nói.

– Thanh tra, tôi triệu tập cô tới đây vì vụ mạo phạm xoay ra chiều hướng bất ngờ và đáng ngạc nhiên, sau khi có kết quả xét nghiệm ADN trên các xương tìm thấy ở nhà thờ Arizkun. Cô sẽ thấy chúng hơi dài hơn thường lệ. Vì khi bác sĩ San Martín thông báo cho tôi về các kết quả, tôi đã đề nghị ông ấy làm lại các xét nghiệm, hiện giờ đã lặp lại tất cả là ba lần.

Bất chợt, Amaia cảm thấy bối rối. Cuộc họp không như chị mong đợi chút nào. Mắt chị lướt qua các cặp hồ sơ đựng kết quả; chị nôn nóng, tò mò muốn biết. Nhưng chị giữ bình tĩnh, lắng nghe và đợi xem mọi chuyện này dẫn tới đâu.

San Martín hơi ngọ nguậy trên ghế trước khi nói với chị:

– Salazar, tôi muốn cô biết rằng tôi đã giám sát và kiểm tra tỉ mỉ các phân tích lần thứ hai và thứ ba; tôi có thể bảo đảm rằng các kết quả là xác thực.

Amaia bắt đầu cảm thấy bứt rứt.

– Tôi không hề nghi ngờ trình độ chuyên môn của ông, thưa bác sĩ, - chị vội nói.

San Martín nhìn Chánh thanh tra, ông ta nhìn Amaia rồi gật đầu để bác sĩ tiếp tục.

– Các xương ở trong tình trạng tốt, mặc dù đầu xương bị đốt thành than, nhưng điều đó không làm trở ngại các phân tích. Chúng tôi kết luận rằng chúng thuộc bào thai con trai chín tháng tuổi, hoặc của một đứa trẻ mới sinh xấp xỉ một trăm năm mươi năm, cộng trừ năm năm.

– Khớp hoàn toàn với giả thuyết của phó thanh tra Etxaide, đây là một mairu-beso, một cánh tay trẻ con.

– Như tôi vừa nói, phần bên trong của các xương trong tình trạng khá tốt, có thể cho chúng tôi tiến hành các xét nghiệm ADN thông thường như một phần trong các xét nghiệm. Chúng tôi đã tự động chạy tất cả ADN chưa biết qua dữ liệu của CODIS. - Bác sĩ thở dài. - Đây mới là phần đáng ngạc nhiên. Nó có một trùng khớp.

– Nhưng bác sĩ vừa bảo tôi các xương thuộc một đứa trẻ mới sinh cách đây một trăm năm mươi năm. Sao ADN của nó có thể có trong CODIS?

– Nó không thể, nhưng một người họ hàng của nó có thể. Chúng tôi đã tìm thấy 25% khớp với ADN của cô.

Amaia ngẩn người, trừng trừng nhìn Chánh thanh tra.

– Đúng thế, ông nói. - Bác sĩ báo cho tôi ngay lập tức, và tôi bảo ông ấy phải tiến hành lại toàn bộ quá trình với sự thận trọng tối đa. Các xét nghiệm lần đầu do Nasertic - phòng thí nghiệm thông thường của chúng ta thực hiện, nhưng khi có kết quả đó, chúng tôi quyết định dùng Zaragoza và San Sebastián, cả hai đều cho kết quả giống hệt.

– Có nghĩa là… .

– Có nghĩa là các xương trong vụ mạo phạm nhà thờ ở Arizkun thuộc một đứa trẻ là họ hàng của cô. Tổ tiên bốn hoặc năm đời của cô.

Amaia mở bìa hồ sơ và đọc kỹ các kết quả. Các nhà bệnh lý học ở Zaragoza và San Sebastián ký biên bản đều là những người có uy tín trong lĩnh vực của mình.

Bao ý nghĩ của chị chạy lồng lên lúc chị so sánh các sự việc, một dòng ý tưởng tranh nhau tìm chỗ đứng, trong lúc San Martín và Chánh thanh tra tiếp tục trò chuyện. Giọng nói duy nhất chị có thể nghe thấy rõ ràng là tiếng nói trong đầu đang an ủi: Không có sự trùng khớp ngẫu nhiên như thế, nhiều sự việc không xảy ra gần đây.

Sự lựa chọn nạn nhân không bao giờ là hú họa, nó bắt đầu từ đâu? Chị chỉ còn nghe thấy tiếng Dupree.

– Tôi cần gọi một cuộc điện thoại, - Amaia nói, ngắt lời San Martín.

Chánh thanh tra nhìn chị, ngạc nhiên thực sự. Chị nhìn lại ông, kiên quyết.

– Chúng ta sẽ nói chuyện tiếp, nhưng tôi cần gọi một cuộc trước đã.

Chánh thanh tra gật đầu ưng thuận, và chị đứng dậy, rút điện thoại lúc đã ra ngoài hành lang. Etxaide nhấc máy ngay lập tức.

– Chào sếp, công việc thế nào rồi?

– Tốt, Jonan ạ. Tôi muốn hỏi cậu một câu. Nếu cậu cần thêm thời gian để tìm câu trả lời cứ nói, nhưng chúng tôi cần biết chắc chắn.

– Nhất định rồi, anh nói, long trọng.

– Về mairu-beso. Cậu bảo tôi chúng là xương cánh tay của trẻ con chết trước khi được rửa tội. Liệu có tài liệu nào nhắc đến việc dùng cánh tay người lớn không? Nam hay nữ?

– Không cần xem, tôi cũng nói ngay với chị là không thể. Các đặc tính thần bí kỳ diệu của mairu-beso xuất phát từ một loạt các quy định nghiêm ngặt. Trước hết, chúng phải là người chưa được rửa tội. Việc này không loại trừ người trưởng thành nhưng vô cùng không chắc chắn trong thời kỳ mà rửa tội là một nghi thức tôn giáo cũng như một nghĩa vụ với xã hội và văn hóa, một biểu hiện thuộc về một nhóm. Bất cứ người nào không là tín đồ Cơ đốc thì hoặc là theo đạo Do Thái hoặc theo đạo Hồi. Trên thực tế, từ mairu xuất phát từ Moor một cách miệt thị, để chỉ người theo đạo Hồi và đồng nghĩa với không phải là tín đồ Cơ đốc. Thứ hai là, có vấn đề về tuổi tác: các xương phải lấy từ bào thai bị sẩy hoặc nạo, hoặc của đứa trẻ chết trong lúc sinh nở hoặc chết ngay sau khi ra đời. Nhà thờ có những quy định nghiêm ngặt về việc này: họ từ chối rửa tội cho những đứa trẻ ốm yếu hoặc đang hấp hối, vì tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh cao nên những đứa trẻ thường được vội vàng rửa tội, giải thoát chúng khỏi nỗi ô nhục phải chôn ở ngã tư đường hoặc bên ngoài tường nghĩa trang cùng những người tự tử hoặc những kẻ giết người. Một lý do nữa vì sao chúng không thuộc về người trưởng thành: người ta tin rằng linh hồn của trẻ sơ sinh lang thang dọc đường, lơ lửng giữa hai cõi, và đây là thứ đánh thức những đặc tính thần bí kỳ diệu của mairu-beso. Mạo phạm xác trẻ em và sử dụng cánh tay của chúng, nhưng trong những tình huống bình thường, chúng cũng thấm đẫm những quyền năng kỳ diệu. Linh hồn của trẻ chưa rửa tội có thể không lên thiên đường hoặc xuống địa ngục, hoặc trở lại tình trạng lấp lửng chúng phải trốn thoát, nên chúng trở thành người bảo vệ ngôi nhà của cha mẹ mình. Nhiều trường hợp dẫn chứng trong tài liệu về các gia đình giữ nôi của đứa trẻ đã chết hoặc dành một chỗ cho chúng ở bàn ăn, thậm chí còn dọn cả đồ ăn cho chúng. Những đứa trẻ sinh ra sau đó không mặc quần áo của anh chị đã chết hoặc không được đặt tên trùng vì sợ chúng đòi lại đồ của mình cùng sự sống của các em trai hoặc em gái. Đồng thời, với ý nghĩa tôn trọng, mairu - linh hồn của đứa trẻ đã chết là một phúc lành, đem lại niềm vui cho gia đình, kể cả chơi đùa với anh chị em ruột. Cứ nghĩ từ lúc ra đời cho đến lúc hai đứa trẻ này có sức mạnh của mairu khi chúng đang lang thang Nó giải thích tiếng ríu rít vui vẻ và những nụ cười của trẻ dường như đi thẳng tới con người mà không ai có thể trông thấy.

Amaia thở dài thật sâu.

– Lạy Chúa tôi…

– Trong các nền văn hóa khác nhau, sự xuất hiện của linh hồn trẻ em lan rộng hơn chúng ta hình dung. Ví dụ ở Nhật Bản, chúng được gọi là zashiki warashi hay bóng ma trẻ em, và được coi là đem lại niềm vui cho ngôi nhà chúng trú ngụ… Tôi mong rằng đã giúp được gì đó, - phó thanh tra Etxaide nói.

– Cậu lúc nào cũng có ích, Jonan ạ. Chỉ vì tôi vừa có một ý tưởng, song… à, mà tôi không thể nói với cậu ngay bây giờ. Nửa giờ nữa tôi sẽ gọi cho cậu.

Amaia ngắt máy và trở vào văn phòng Chánh thanh tra, hai người đàn ông ngừng ngay cuộc trò chuyện.

– Ngồi xuống đi, - vị Chánh thanh tra nói. - Bác sĩ, ông hãy giải thích cho cô ấy điều ông vừa nói với tôi…

– Phải, tôi nói với Chánh thanh tra rằng có vài việc chúng ta nên ghi nhớ. Cô xuất thân từ một vùng tương đối ít dân. Tôi không biết một trăm năm mươi năm trước dân số ở đây là bao nhiêu, nhưng chắc là rất ít, nên tính dễ biến đổi của xã hội hạn chế hơn ngày nay. Tôi muốn nói rằng trong một cộng đồng nhỏ như thế, đương nhiên những trùng khớp gen một phần dễ xảy ra vì các gia đình là cá biệt và vẫn thế, là họ hàng có vẻ thích hợp hơn.

Amaia ngẫm nghĩ rồi lắc đầu.

– Tôi không tin có sự trùng khớp ngẫu nhiên, - chị đáp dứt khoát.

Chánh thanh tra tán thành:

– Tôi cũng không tin.

– Hắn để lại nó cho tôi như một sự khiêu khích. Hắn biết chúng ta tìm ra sự trùng khớp. Đây là cách hắn gửi thông điệp cho tôi.

– Thượng đế toàn năng, Salazar! - Chánh thanh tra kêu lên. - Tôi không thích thấy cô bị dính líu như thế này, bị một kẻ tội phạm khiêu khích luôn là một thử thách. Cô sẽ làm gì mọi chuyện này đây?

Amaia tập hợp ý nghĩ một lát rồi mới trả lời:

– Như tôi đã nói, tôi không tin vào bất cứ sự trùng khớp ngẫu nhiên nào. Tôi nghĩ những hành vi mạo phạm ở nhà thờ Arizkun được sắp xếp cẩn thận với mục tiêu duy nhất là gửi cho tôi một thông điệp. Nếu tôi không được phân công vụ này, chắc chắn tôi sẽ theo đuổi khám phá sự trùng khớp ADN. Hắn thu hút sự chú ý của tôi vì tôi chỉ huy đội điều tra án mạng, nhưng cũng vì tôi đã hướng cuộc điều tra vào vụ basajaun. Sự nổi tiếng tôi đạt được trong vụ đó kích động sự chú ý của hắn. Hắn cho mình là người thông minh tuyệt đỉnh và muốn giao chiến trong một loại quyết đấu hoặc chơi trò mèo vờn chuột với một người hắn coi là ngang tầm. Có nhiều ví dụ dẫn chứng trong tài liệu về những kẻ tội phạm liên hệ với sếp cảnh sát bằng nhiều cách khác nhau, hoặc ai quyết định cảnh sát nào sẽ chỉ huy cuộc điều tra bằng cách nhằm vào họ dai dẳng, như trong vụ Ripper. Tôi cần thêm thời gian để hấp thụ thông tin mới này và phát triển một miêu tả sơ lược.

Chánh thanh tra gật đầu:

– Tôi sẽ thông báo cho sếp cảnh sát Baztán và thanh tra Iriarte. Chúng ta sẽ mở một cuộc điều tra song song với việc cố tìm ra một hoặc nhiều ngôi mộ đã bị lấy mất xương của họ hàng cô.

– Xin ngài đừng bận tâm, đây là mairu-beso, cánh tay của một đứa trẻ chưa rửa tội. Ngày đó, trẻ con chết mà chưa rửa tội không được chôn trong các nghĩa trang.

Amaia đợi đến lúc ra khỏi đồn cảnh sát mới gọi cuộc điện thoại nữa. Liếc đồng hồ, chị thấy đã gần tám giờ. Chị nhớ James và Ibai, chị đã di chuyển suốt ngày và trước mắt vẫn còn nửa giờ lái xe mới về tới Elizondo. Tuyết đã ngừng rơi, và buổi tối giá lạnh tiếp sinh lực cho chị, làm chị rùng mình, giúp đầu óc sáng sủa, chia ra thành ngăn những điều chị vừa nghe trong văn phòng Chánh thanh tra và vạch ra chiến lược. Chị dừng lại cạnh xe, bấm số của trung úy Padua ở trụ sở Guardia Civil, rồi giải thích mình cần gì.

– Tôi đã có mẫu ADN của hai nạn nhân trong các vụ giống hệt vụ Johana Márquez, Lucía Aguirre và người phụ nữ ở Logroño. Tôi cần tiếp cận với các xương tìm thấy trong hang để so sánh.

– Chị thừa hiểu ngoài các mẫu do kỹ thuật viên pháp y lấy, chúng không được chấp nhận trước tòa.

–Tôi không lo việc đó, đây là cuộc điều tra không chính thức và nếu cần, tôi có thể lấy thêm nhiều mẫu nữa: tôi đã xác định được vị trí của hai người họ hàng gần. Thứ tôi cần là có thể so sánh hai mẫu tôi có với các xương tìm thấy trong hang. Sự trùng khớp sẽ xác lập mẫu gốc và có thể cho tôi lệnh khai quật. Cho đến nay, việc cắt xẻo vẫn quy cho các ông chồng. Trừ khi tôi xác lập mối liên quan giữa các nạn nhân với các xương trong hang ở Baztán, tôi vẫn không có gì hết.

– Thanh tra, chị biết là tôi muốn giúp chị, vả lại chính tôi đã kéo chị vào vụ này, nhưng không cần tôi nhắc, chị cũng biết sự kình địch giữa các lực lượng cảnh sát, họ không chịu lộ thông tin nếu không có lệnh của tòa.

Amaia ngắt máy và đứng nhìn trân trân vào điện thoại, như cân nhắc nên bấm số hay quẳng nó vào không khí.

– Chết tiệt! - Chị tuyên bố rồi bấm số của thẩm phán Markina.

Giọng nói lịch thiệp, mạnh mẽ của Markina trả lời ở đầu dây bên kia:

– Chào thanh tra, - ông nói.

Nghe thấy tiếng ông, chị ngạc nhiên thấy mình đang nghĩ đến khuôn miệng ông, đôi môi đầy đặn, ẩm ướt và có đường nét như tạc. Tràn ngập bối rối, chị cảm thấy cơn thôi thúc đột ngột, trẻ con, muốn ngắt ngay máy.

– Xin chào, - chị cố đáp lại.

Markina vẫn im lặng, nhưng chị cảm nhận hơi thở của ông ở đầu dây, và không thể không hình dung hơi ấm lướt qua da mình. Dù trời rét tái tê, chị đỏ bừng đến tận chân tóc.

– Thưa ngài, cuộc điều tra vụ mà tôi đã trình bày với ngài đang đi theo chiều hướng tôi mong đợi. Tôi đã có mẫu ADN những người thân của hai nạn nhân, và tôi cần so sánh với các xương tìm thấy ở Baztán, hiện Guardia Civil đang giữ.

– Cô đang ở Pamplona?

– Vâng.

– Tốt. Nửa giờ nữa tôi sẽ gặp cô ở nhà hàng Europa.

– Thưa ngài, - chị phản đối. - Tôi nghĩ tôi đã nói rất rõ khi chúng ta gặp nhau lần cuối rằng động cơ của tôi là được quan tâm trong vụ này.

Hình như ông lúng túng khi đáp lại:

– Tất nhiên cô đã làm thế, thanh tra. Tôi vừa trở về từ một chuyến đi, và định ăn tối ở Europa. Đó là nơi tôi có thể gặp cô sớm nhất, nhưng nếu có thích hơn thì đến văn phòng tôi vào sáng mai, từ tám giờ trở đi. Hãy gọi cho thư ký và thu xếp với cô ta.

Bỗng nhiên, chị thấy mình thật ngu xuẩn và tự đắc.

– Không, không đâu, tôi xin lỗi, nửa giờ nữa tôi sẽ tới đó.

Chị ngắt máy, tự rủa mình vụng về.

Chắc ông ta nghĩ mình là một con ngốc, chị nghĩ lúc vào xe.

Trước khi lái đi, chị gọi cuộc khác cho phó thanh tra Etxaide, báo tin cho anh về chuyến đi Bilbao và Burgos cũng như cuộc họp với Chánh thanh tra. Rốt cuộc, chị hàm ơn anh rất nhiều.

Lối vào quầy rượu ở Europa xuyên suốt tòa nhà bên cạnh tới nhà hàng. Bất chấp trận mưa tuyết chiều nay, lúc này đã tan, vài khách quen đứng chuyện gẫu bên ngoài, để cốc lên những cái bàn cao ở cạnh lối vào.

Vừa bước qua ngưỡng cửa, Amaia đã nhận ra Markina ngồi một mình ở cuối quầy rượu. Khó mà nhầm được. Bộ com lê xám và sơ-mi trắng muốt, không thắt cà-vạt tạo cho ông vẻ nghiêm nghị, tương phản với những món tóc đen xõa xuống vầng trán. Ông ngồi trên ghế quầy bar với vẻ thanh lịch thường lệ của một người mẫu trên tạp chí thời trang.

Một nhóm phụ nữ vui vẻ ở độ tuổi khó xác định ném những cái liếc nhìn tán thưởng và những lời bình luận về phía Markina trong lúc ông ngồi, bình thản đọc một tờ báo đã sờn. Môi ông thoáng cười khi trông thấy Amaia vào, khiến một nửa số phụ nữ quay nhìn đối tượng chú ý của ông và hầm hầm nhìn chị.

– Cô uống vang nhé? - Markina hỏi thay lời chào, chỉ vào cốc của mình và ra hiệu cho người hầu.

– Không, tôi sẽ uống Coca-Cola, - chị đáp.

– Trời quá lạnh để uống Coca-Cola, nên uống vang đi. Loại này ngon tuyệt, một Rioja.

– Được ạ, - chị ưng thuận.

Trong lúc người phục vụ rót vang, chị tự hỏi tại sao mình không thể cứng rắn hơn với Markina, tại sao rốt cuộc mình luôn luôn chấp nhận lời mời của ông ta. Markina mời chị ngồi ghế của ông, rồi tiến tới nhóm phụ nữ, họ đứng lên và sẵn sàng để ông lấy một ghế. Ông đặt nó cạnh Amaia, ngồi quay lưng lại đám phụ nữ kia, họ vẫn giữ ông trong tầm mắt mình.

Markina đăm đăm nhìn Amaia suốt năm giây rồi mới ngoảnh đi, lúng túng.

– Tôi hy vọng ở đây cô sẽ thấy dễ chịu hơn ở nhà hàng hôm nọ.

Amaia không đáp. Lúc này đến lượt chị nhìn xuống, cảm thấy mình không ngay thẳng một cách ngượng ngập và ngớ ngẩn.

– Vậy là cô đã đến Bilbao? - Markina hỏi, lấy lại giọng nghề nghiệp.

–Vâng, tôi cũng tới một làng nhỏ ở Burgos, chỉ có bốn chục dân. Cả hai nạn nhân đã chết hai và hai năm rưỡi trước theo thứ tự, cả hai đều bị chồng giết và thủ phạm tự tử sau khi gây án mạng. Cả hai đều sinh ở Baztán, nhưng lớn lên ở nơi khác, trong cả hai vụ, cẳng tay của họ đều bị cắt cụt và không tìm thấy đâu.

Markina chăm chú lắng nghe, nhấp từng ngụm nhỏ. Amaia chỉ có thể tránh nhìn vào miệng ông và cách ông liếm môi.

–… Trong cả hai vụ đều có cùng chữ “Tarttalo” viết nguệch ngoạc bằng máu lên tường hoặc trong thư tuyệt mệnh. Chỉ có một từ.

– Cô muốn gì để cuộc điều tra tiến triển?

– Chúng tôi cần xác lập mối liên quan mà tôi ngờ là có giữa các vụ. Muốn làm việc này, tôi cần tiếp cận với các mẫu xương mà Guardia Civil đã phát hiện trong hang ở Baztán. Nếu có sự trùng khớp, chúng ta có thể mở cuộc điều tra chính thức và yêu cầu tái tạo xương nguyên bản, hoặc khám nghiệm tử thi lần thứ hai cho chắc chắn 100%.

– Cô đang nói đến việc khai quật xác chết? - Markina hỏi.

Chị biết ông không thích ý tưởng này, chẳng thẩm phán nào thích hết. Họ thường vấp phải sự từ chối quyết liệt của những người thân, với mọi hàm ý khó chịu. Vì thế, khi một thẩm phán bằng lòng cho lệnh khai quật, người đó chỉ làm như một phương kế cuối cùng. Thỉnh thoảng, sự từ chối cản trở nhiệm vụ của điều tra viên, họ đành tự hài lòng với các mẫu ADN thường xác lập một sự trùng khớp đương nhiên. Mọi luật sư trên đời đều biết rằng, nếu có thể biểu lộ sự nghi ngờ hợp lý, thân chủ của họ đành bỏ đi.

– Chỉ khi nào có sự trùng khớp giữa các xương và năm nạn nhân của chúng ta.

Chị nhấn mạnh từ “chúng ta”, cố để Markina cảm thấy vai trò của ông trong cuộc điều tra. Nếu như ông có một nửa tính lương thiện như lời đồn đại trong giới thẩm phán, ông sẽ thấy có bổn phận thực thi công lý cho các nạn nhân này, và đó là điều quan trọng nhất.

– Cô tự lấy mẫu sao?

– Vâng.

– Cô theo đúng trình tự chứ?

– Vâng, từng li từng tí. Nhưng dù sao thì đó không phải là vấn đề. Người thân của các nạn nhân đã tình nguyện cho mẫu và ký vào tài liệu.

– Tôi không muốn gây ra xáo động trước khi chúng ta thu được điều gì đó cụ thể hơn. Chẳng có gì lạ là tại các phòng xử án, sự suy xét thận trọng được chú ý vì thiếu hẳn nó.

Amaia mỉm cười. Ông đã nhắc lại từ “chúng ta”, chị tin chắc ông sẽ cấp giấy phép.

– Xin đảm bảo với ngài, tôi là người hết sức thận trọng, chỉ có một người đáng tin cậy nhất trong đội biết việc này và tôi dự định tiến hành các xét nghiệm tại một phòng thí nghiệm độc lập.

Markina vừa ngẫm nghĩ câu này, vừa lơ đãng xoa cằm, một cử chỉ mà Amaia thấy vừa rắn rỏi vừa gợi tình đến không ngờ.

– Việc đầu tiên, tôi sẽ cho lệnh của tòa, - Markina nói. - Cô cứ tiếp tục, cô đang làm một vụ quan trọng. Hãy nhớ thông tin cho tôi từng bước một, vì tôi ủng hộ lúc cô tiến hành… và…

Ông ngừng lời, nhìn chị rất đặc biệt.

– Mời cô vui lòng ăn tối với tôi, ông thì thầm.

Amaia sửng sốt, đăm đăm nhìn ông, vì mọi thứ chị được đào tạo từ miêu tả hành vi, ngôn ngữ cơ thể đến tính cách để xem một người nói dối hay không đang mách bảo chị rằng đây không phải là một thẩm phán đang sát hạch mà là một người đàn ông đang yêu.

Đúng lúc đó điện thoại của chị reo. Rút nó ra khỏi túi, chị bối rối thấy tên Flora trên màn hình; Flora chưa bao giờ gọi điện cho chị, kể cả trong dịp Giáng sinh hay sinh nhật. Flora thích gửi những tấm thiệp cứng nhắc và lịch sự như bản thân chị ta vậy.

Amaia khó xử nhìn Markina, ông đang háo hức đợi chị trả lời.

– Tôi xin lỗi, tôi cần nhận cuộc gọi này, - Amaia nói, đứng dậy và đi ra ngoài, vì không thể nghe nổi trong tiếng ồn của quầy bar đông đúc. - Flora à?

– Amaia, bệnh viện vừa gọi điện, là chuyện Ama. Hình như xảy ra một việc nghiêm trọng.

Amaia nín lặng.

– Em còn đấy không?

– Còn.

– Giám đốc báo với chị là mẹ lên cơn và làm một hộ lý bị thương.

– Tại sao chị gọi cho em, Flora?

– Ồ, hãy tin chị đi, chị sẽ không gọi nếu bọn ngu ấy không gọi cảnh sát trong vùng.

– Họ gọi cảnh sát ư? Cuộc tấn công nghiêm trọng đến mức nào? - Amaia hỏi, đồng thời lo lắng vì những hình ảnh chị ngỡ đã xua đuổi ra khỏi tâm trí mãi mãi.

– Chị không biết, Amaia, - Flora nói bằng giọng mỗi khi người ta thử sự kiên nhẫn của chị. - Họ chỉ nói với chị rằng cảnh sát đã tới, và chúng ta phải tới đó càng sớm càng tốt. Chị lên đường ngay, nhưng phải mất ít nhất hai tiếng đồng hồ.

Amaia thở dài, chịu thua.

– Thôi được, em đi đây. Chị nói với họ khoảng nửa giờ nữa em sẽ tới.

Trở lại quầy bar, Amaia len qua đám đông tới chỗ Markina.

– Thưa ngài, chị nói và cúi gần hơn để ông nghe thấy, tôi phải đi, có việc khẩn cấp xảy ra.

Chị bỗng cảm thấy họ quá gần gũi, và lùi lại một bước, cầm áo khoác trên ghế.

– Tôi sẽ đi với cô.

– Không cần đâu ạ, xe tôi đỗ ngay ngoài kia, - chị nói.

Nhưng Markina đã đứng dậy và đi ra cửa. Chị theo sau ông, và lúc đi ra, chị thấy tốp phụ nữ kia đang quan sát mình. Chị cúi đầu, rảo bước ngang hàng với Markina.

– Xe cô đâu?

– Ngay đây thôi, trên đường cái, - Amaia đáp.

Cười nhẹ, ông cầm áo khoác khỏi tay chị và giơ lên giúp chị mặc vào.

– Tôi sẽ phải cởi nó ra lần nữa để lái xe.

Markina khoác áo lên vai chị, cho phép bàn tay mình nấn ná một lúc, lâu hơn cần thiết. Ông không nói một lời cho đến khi họ tới xe. Amaia mở cửa, ném áo khoác lên ghế hành khách và vào xe.

– Tạm biệt, cảm ơn ngài vì tất cả, thưa ngài. Tôi sẽ tiếp tục thông tin với ngài.

Ông cúi xuống cửa mở và nói:

– Nếu cô không nhận được điện thoại, cô có nhận lời không?

Mất vài giây sau, chị mới trả lời:

– Không.

– Chào thanh tra Salazar, - ông nói và đóng cửa xe lại.

Xoay chìa trong ổ điện, chị nhìn quanh lúc lái ra đường cao tốc. Markina đã đi rồi, để lại cho chị cảm giác trống vắng lạ lùng.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.