Những kẻ ngây thơ viễn du

Lượt đọc: 165 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 52

❊ ❊ ❊

Cái thung lũng hẹp nơi Nablous, hay còn gọi là Shechem tọa lạc, được canh tác rất kỹ lưỡng; đất đai ở đây đen nhánh và vô cùng màu mỡ. Nơi này được tưới tiêu đầy đủ, và thảm thực vật trù phú càng trở nên nổi bật khi đặt cạnh những ngọn đồi cằn cỗi sừng sững hai bên. Một trong số những ngọn đồi ấy là Núi Chúc Phúc cổ xưa, ngọn còn lại là Núi Nguyền Rủa, và những bậc hiền triết nào mải miết đi tìm sự ứng nghiệm của lời tiên tri đều tin rằng họ đã tìm thấy ở đây một kỳ quan: đó là việc Núi Chúc Phúc thì lạ lùng thay lại màu mỡ, còn người bạn đồng hành của nó thì trớ trêu thay lại chẳng đơm hoa kết trái chút nào. Tuy nhiên, chúng tôi thì chẳng thấy giữa chúng có khác biệt gì đáng kể cả.

Shechem nổi danh là nơi cư ngụ của tổ phụ Jacob, cũng là đại bản doanh của những bộ tộc đã tự tách mình ra khỏi anh em Israel và truyền bá những giáo lý chẳng hề ăn nhập gì với đức tin Do Thái nguyên thủy. Suốt hàng ngàn năm, thị tộc này đã sống ở Shechem dưới những lệnh cấm nghiêm ngặt, gần như chẳng giao thương hay giao du gì với đồng loại thuộc bất kỳ tôn giáo hay quốc tịch nào khác. Qua bao thế hệ, con số của họ chẳng bao giờ vượt quá một hoặc hai trăm người, nhưng họ vẫn kiên trì giữ vững đức tin cổ xưa, duy trì những nghi lễ và nghi thức của tổ tiên mình. Đừng nói với tôi về chuyện dòng dõi gia tộc! Các bậc vương công, quý tộc thường tự hào về phả hệ kéo dài được vài trăm năm. Chút danh giá ấy thấm tháp vào đâu so với nắm người thuộc những gia đình gốc gác lâu đời ở Shechem này, những người có thể đọc vanh vách tên cha ông mình ngược lên tận hàng ngàn năm - ngược về một thời kỳ xa xôi đến mức những con người được nuôi dạy ở cái xứ mà người ta gọi hai trăm năm là thời “cổ đại” phải thấy choáng váng, bối rối khi cố gắng hình dung ra nó! Đấy mới là sự tôn kính cho các vị - đấy mới là “gia tộc” - đấy mới là dòng dõi cao quý đáng để nhắc tới. Tàn dư buồn bã mà kiêu hãnh của một cộng đồng từng hùng mạnh này vẫn giữ khoảng cách với cả thế giới; họ vẫn sống như cha ông họ từng sống, lao động như cha ông họ từng lao động, suy nghĩ và cảm nhận như họ, thờ phụng tại cùng một nơi, ngắm nhìn cùng những cột mốc cũ, và theo cùng một lối sống gia trưởng cổ quái như tổ tiên họ đã làm từ hơn ba mươi thế kỷ trước. Tôi thấy mình cứ dán mắt vào bất kỳ hậu duệ lạc loài nào của giống nòi kỳ lạ này với sự say mê khó tả, tựa như đang nhìn chằm chằm vào một con voi ma mút bằng xương bằng thịt, hay một con thú cổ đại megatherium đã từng tung hoành từ thuở bình minh của tạo hóa và được chiêm ngưỡng những kỳ quan của thế giới huyền bí trước cả thời đại hồng thủy.

Được lưu giữ cẩn thận trong kho lưu trữ thiêng liêng của cộng đồng tò mò này là một bản sao chép viết tay bộ luật Do Thái cổ, được cho là tài liệu lâu đời nhất trên trái đất. Nó được viết trên giấy da bê và đã chừng bốn, năm ngàn năm tuổi. Chẳng gì ngoài tiền "hối lộ" có thể giúp bạn được chiêm ngưỡng nó. Danh tiếng của bản thảo này đã hơi lu mờ trong những ngày gần đây, bởi sự nghi ngờ mà quá nhiều tác giả viết về du ký Palestine tự cho phép mình gán cho nó. Nhắc đến bản thảo này, tôi lại nhớ mình đã từng bỏ ra một khoản kha khá để mua từ tay vị giáo chủ của cộng đồng Samaritan cổ đại này một tài liệu bí mật có niên đại còn cao hơn và nội dung thú vị hơn gấp bội, mà tôi dự định sẽ công bố ngay khi dịch xong.

Joshua đã gửi gắm những lời trăn trối cuối cùng cho con cháu Israel tại Shechem, và cùng khoảng thời gian đó, ông cũng bí mật chôn giấu một kho báu quý giá dưới một gốc cây sồi. Những người Samaritan mê tín từ lâu đã không dám bén mảng đi tìm. Họ tin rằng kho báu ấy được canh giữ bởi những linh hồn hung dữ mà mắt thường chẳng thể trông thấy.

Cách Shechem khoảng một dặm rưỡi, chúng tôi dừng chân dưới chân núi Ebal trước một khuôn viên vuông vức nhỏ, được bao quanh bởi bức tường đá cao, quét vôi trắng tinh tươm. Chắn ngang một đầu khuôn viên này là một ngôi mộ được xây dựng theo kiểu người Hồi giáo. Đó là mộ của Joseph. Chẳng có sự thật nào được xác thực rõ ràng hơn điều này.

Khi Joseph sắp qua đời, ông đã tiên tri về cuộc di cư của dân Israel khỏi Ai Cập sẽ diễn ra bốn trăm năm sau đó. Cùng lúc đó, ông bắt dân chúng phải thề rằng khi họ hành trình đến vùng đất Canaan, họ phải mang theo hài cốt của ông và chôn cất tại nơi thừa kế xưa kia của cha ông mình. Lời thề ấy đã được giữ trọn.

“Và hài cốt của Joseph, mà con cháu Israel đã mang từ Ai Cập lên, được họ chôn cất tại Shechem, trên một mảnh đất mà Jacob đã mua lại từ các con trai của Hamor, cha của Shechem, với giá một trăm đồng bạc.”

Trên trái đất này, hiếm có ngôi mộ nào nhận được sự tôn kính từ nhiều chủng tộc và tín đồ của các tôn giáo khác nhau như mộ của Joseph. “Người Samaritan và người Do Thái, người Hồi giáo và Cơ đốc giáo đều tôn kính và bày tỏ sự thành tâm bằng những chuyến viếng thăm. Mộ của Joseph, người con hiếu thảo, người anh bao dung, nhân ái, người đàn ông đức hạnh, vị vương công và nhà cai trị khôn ngoan. Ai Cập đã cảm nhận được tầm ảnh hưởng của ông - cả thế giới đều biết câu chuyện về ông.”

Ngay trên chính “mảnh đất” mà Jacob đã mua lại từ các con trai của Hamor với giá một trăm đồng bạc ấy, chính là giếng nước nổi tiếng của Jacob. Nó được đục thẳng vào đá tảng, rộng chín bộ vuông và sâu chín mươi bộ. Cái tên của cái lỗ hổng không mấy bắt mắt dưới mặt đất này, thứ mà người ta có thể đi ngang qua mà chẳng buồn để ý, lại trở nên quen thuộc như những lời thường ngày đối với cả trẻ nhỏ lẫn những người nông dân ở bao đất nước xa xôi. Nó còn nổi tiếng hơn cả đền Parthenon; nó còn cổ xưa hơn cả các Kim tự tháp.

Chính bên cạnh cái giếng này, Chúa Jesus đã ngồi trò chuyện với một người phụ nữ thuộc cộng đồng Samaritan cổ quái mà tôi vừa nhắc tới, và kể cho bà nghe về dòng nước sự sống huyền bí. Cũng như hậu duệ của các nhà quý tộc Anh xưa kia vẫn luôn lưu giữ trong truyền thống gia đình câu chuyện về việc vị vua này hay vị vua nọ từng ghé thăm một tổ tiên được ưu ái của họ ba trăm năm về trước, không nghi ngờ gì nữa, con cháu của người phụ nữ Samaria, hiện đang sống tại Shechem đó, vẫn nhắc lại với niềm tự hào có thể tha thứ được về cuộc đối thoại của tổ tiên họ với Đấng Messiah của người Cơ đốc giáo, diễn ra từ thuở nào. Khó có khả năng họ lại xem nhẹ một sự vẻ vang như thế. Bản chất của người Samaritan cũng là bản chất con người mà thôi, và bản chất con người thì luôn ghi nhớ những cuộc tiếp xúc với những nhân vật lẫy lừng.

Vì một sự xúc phạm đến danh dự gia đình, các con trai của Jacob đã từng tiêu diệt toàn bộ dân Shechem một lần.

Chúng tôi rời Giếng Jacob và tiếp tục cuộc hành trình đến tận tám giờ tối, nhưng đi khá chậm, vì chúng tôi đã ở trên lưng ngựa suốt mười chín tiếng đồng hồ, và lũ ngựa đã mệt nhoài một cách tội nghiệp. Chúng tôi bỏ xa các lều trại đến mức phải dựng trại ngay tại một ngôi làng Ả Rập và ngủ trên đất. Chúng tôi đã có thể ngủ trong căn nhà lớn nhất, nhưng lại có vài bất tiện nho nhỏ: nó đầy rẫy côn trùng, sàn nhà thì đất cát, chẳng sạch sẽ chút nào, lại còn một gia đình dê trong phòng ngủ duy nhất và hai con lừa trong phòng khách nữa chứ. Bên ngoài thì không có bất tiện gì, ngoại trừ việc những người dân làng da ngăm, ăn mặc rách rưới, mắt sáng quắc, thuộc đủ mọi giới tính và lứa tuổi, ngồi xổm bao quanh lấy chúng tôi, rồi bàn tán, chỉ trích chúng tôi bằng những cái lưỡi không mệt mỏi cho đến tận nửa đêm. Chúng tôi chẳng bận tâm đến tiếng ồn vì đã quá mệt, nhưng hẳn độc giả cũng biết rằng thật khó mà chợp mắt nổi khi biết có người đang nhìn chằm chằm vào mình. Chúng tôi đi ngủ lúc mười giờ, rồi lại dậy lúc hai giờ sáng và tiếp tục lên đường. Cứ thế đấy, con người bị hành hạ bởi những gã dẫn đường, kẻ mà tham vọng duy nhất trong đời là phải đi trước những gã khác.

Khoảng lúc rạng đông, chúng tôi đi ngang qua Shiloh, nơi Hòm Bia Giao Ước từng được đặt suốt ba trăm năm, và cũng là nơi ông lão Eli tốt bụng từng ngã xuống và “gãy cổ” khi người đưa tin, phi ngựa hối hả từ chiến trường về, báo cho ông biết về thất bại của dân tộc mình, cái chết của các con trai ông, và hơn hết thảy, là sự thất thủ của niềm tự hào, hy vọng, nơi trú ẩn của Israel, cái Hòm Bia cổ xưa mà tổ tiên họ đã mang theo từ Ai Cập. Chẳng trách sao trong hoàn cảnh như thế, ông lại ngã xuống mà gãy cổ. Nhưng Shiloh chẳng có chút sức hút nào với chúng tôi. Chúng tôi lạnh đến mức chỉ còn cách vận động mới thấy dễ chịu, và buồn ngủ đến mức gần như chẳng ngồi vững trên lưng ngựa.

Một lúc sau, chúng tôi đến một khối tàn tích vô định hình, nơi vẫn còn mang cái tên Bethel. Chính tại đây, Jacob đã nằm xuống và có được khải tượng tuyệt vời về những thiên thần bay lên bay xuống trên một chiếc thang nối từ mây xuống đất, và thoáng thấy được ngôi nhà hạnh phúc của họ qua những cánh cổng Thiên đường rộng mở.

Những người hành hương thu gom những gì còn sót lại của tàn tích thiêng liêng ấy, rồi chúng tôi lại thúc ngựa hướng về mục tiêu của cuộc thánh chiến: thành Jerusalem lừng danh.

Chúng tôi càng đi, mặt trời càng gay gắt, phong cảnh càng trở nên nhiều đá sỏi, trơ trụi, chán ngắt và thê lương. Có lẽ không thể nào có thêm những mảnh đá vụn nào bị rải rác khắp nơi trên thế giới này, ngay cả khi cứ mỗi mười foot vuông đất lại bị chiếm dụng bởi một cơ sở cắt đá riêng biệt trong suốt cả một thời đại. Chẳng thấy nổi một cái cây hay bụi cỏ nào. Ngay cả cây ô liu và xương rồng, những người bạn thân thiết của thứ đất đai cằn cỗi, cũng gần như đã từ bỏ vùng đất này. Chẳng có phong cảnh nào gây mỏi mắt hơn cảnh vật bao quanh những lối vào Jerusalem. Có lẽ, điểm khác biệt duy nhất giữa những con đường và vùng đất xung quanh là trên đường có nhiều đá hơn mà thôi.

Chúng tôi đi qua Ramah, Beroth, và bên phía tay phải, chúng tôi trông thấy lăng mộ của tiên tri Samuel, nằm chênh vênh trên một đỉnh đồi sừng sững. Thế mà Jerusalem vẫn chưa xuất hiện. Chúng tôi nôn nóng rảo bước. Chúng tôi dừng lại một thoáng tại Suối Beira cổ xưa, nhưng những phiến đá của nó, vốn bị mòn vẹt bởi cằm của những con vật khát nước đã chết từ nhiều thế kỷ trước, chẳng khiến chúng tôi hứng thú - chúng tôi chỉ khao khát được nhìn thấy Jerusalem. Chúng tôi thúc ngựa vượt hết ngọn đồi này đến ngọn đồi khác, thường là vươn cổ ra ngóng chờ vài phút trước khi tới đỉnh - nhưng sự thất vọng luôn đi kèm theo sau: những ngọn đồi ngu ngốc khác lại hiện ra - phong cảnh càng thêm chướng mắt - chẳng thấy Thánh Thành đâu cả.

Cuối cùng, vào giữa ngày, những mảng tường gạch vụn và những vòm đá đổ nát bắt đầu xuất hiện dọc đường - chúng tôi vất vả leo thêm một ngọn đồi nữa, và mọi người hành hương cũng như kẻ tội đồ đều tung mũ lên cao! Jerusalem!

Nằm trên những ngọn đồi vĩnh cửu, trắng xóa, mái vòm vững chãi, quy tụ lại và bao bọc bởi những bức tường xám cao vút, thành phố cổ kính tỏa sáng dưới ánh mặt trời. Nhỏ bé quá! Chà, nó chẳng lớn hơn một ngôi làng bốn ngàn dân ở Mỹ, và cũng chẳng rộng hơn một thành phố Syria bình thường với ba mươi ngàn dân. Jerusalem chỉ có vỏn vẹn mười bốn ngàn người.

Chúng tôi xuống ngựa và lặng lẽ nhìn qua thung lũng rộng lớn trước mặt suốt hơn một giờ đồng hồ; rồi ghi nhận những nét nổi bật của thành phố mà tranh ảnh đã khiến cho bất kỳ ai cũng quen thuộc từ thời cắp sách đến tận cuối đời. Chúng tôi có thể nhận ra Tháp Hippicus, Nhà thờ Hồi giáo Omar, Cổng Damascus, Núi Olives, Thung lũng Jehoshaphat, Tháp David và Vườn Gethsemane - và từ những cột mốc này, có thể xác định khá chính xác vị trí của nhiều địa danh khác mà chúng tôi chưa thể phân biệt được.

Tôi ghi lại ở đây một sự thật đáng chú ý nhưng chẳng hề đáng xấu hổ là ngay cả những người hành hương của chúng tôi cũng không rơi lệ. Tôi nghĩ trong đoàn chẳng có ai mà trong đầu không đầy ắp những suy nghĩ, hình ảnh và ký ức được khơi gợi bởi lịch sử hào hùng của thành phố cổ kính đang nằm trước mắt, nhưng giữa tất cả bọn họ vẫn không hề có “tiếng than khóc”.

Chẳng có lý do gì để khóc. Nước mắt vào lúc này thật chẳng phù hợp. Những suy nghĩ mà Jerusalem gợi lên đầy chất thơ, sự cao cả, và hơn tất thảy, là sự uy nghiêm. Những suy nghĩ ấy không tìm thấy biểu hiện thích hợp trong những xúc cảm của trẻ thơ.

Ngay sau buổi trưa, chúng tôi tiến vào những con phố hẹp, ngoằn ngoèo này qua Cổng Damascus cổ xưa và nổi tiếng, và suốt vài giờ qua, tôi đã cố gắng hiểu rằng mình thực sự đang ở trong thành phố cổ lẫy lừng nơi Solomon từng sống, nơi Abraham từng trò chuyện với Đấng Tối Cao, và nơi những bức tường vẫn còn đứng đó, chứng kiến cảnh tượng Đóng Đinh năm nào.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.