Những kẻ ngây thơ viễn du

Lượt đọc: 165 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 56

❊ ❊ ❊

Chúng tôi ghé thăm nốt những thánh tích quanh Jerusalem mà chúng tôi còn bỏ sót trước chuyến hành trình tới sông Jordan. Rồi, vào khoảng ba giờ chiều hôm ấy, cả bọn dàn hàng, diễu qua cổng Damascus uy nghi, thế là những bức tường thành Jerusalem đóng sập lại sau lưng chúng tôi vĩnh viễn. Chúng tôi dừng chân trên đỉnh một ngọn đồi xa, ngoái lại nhìn lần cuối và nói lời từ biệt thành phố đáng kính, nơi đã làm một mái nhà thật tử tế với chúng tôi.

Suốt chừng bốn tiếng đồng hồ, chúng tôi cứ thế đổ đèo. Con đường mòn nhỏ hẹp dẫn chúng tôi luồn lách qua những hẻm núi; hễ tránh được các đoàn lạc đà và lừa thồ hàng dài dằng dặc thì tốt, còn không thì chúng tôi chỉ có nước khổ sở ép mình vào những vách đá dựng đứng, chịu cảnh chân cẳng bị hàng hóa của lũ thú đi ngang qua va đập bầm dập. Jack bị kẹt vài ba bận, còn Dan và Moult cũng chẳng khá hơn. Một con ngựa sẩy chân ngã dúi dụi trên những tảng đá trơn trượt, đám còn lại thì hú vía thoát nạn trong gang tấc. Tuy nhiên, đây vẫn là con đường tử tế nhất mà chúng tôi tìm thấy ở Palestine, có khi là nhất rồi ấy chứ, nên chẳng ai phàn nàn gì nhiều.

Thỉnh thoảng, trong những khe núi, chúng tôi bắt gặp những vườn sung, mơ, lựu sum suê xanh tốt, nhưng phần nhiều cảnh vật vẫn là đồi núi trơ trọi, khô cằn và gai góc. Đâu đó trên những con dốc gần như không thể leo tới, người ta lại xây mấy tòa tháp chót vót. Kiểu kiến trúc này đã có từ thuở hồng hoang của Palestine, được người xưa áp dụng để đề phòng kẻ thù.

Chúng tôi băng qua con suối đã cung cấp cho David viên đá hạ gục Goliah, và không nghi ngờ gì nữa, chúng tôi đang đứng ngay trên chính mảnh đất diễn ra trận chiến lừng danh ấy. Chúng tôi đi ngang qua một tàn tích kiến trúc Gothic cổ kính đầy vẻ hữu tình, nơi những phiến đá lát nền từng vang lên tiếng gót giày sắt của biết bao hiệp sĩ Thập tự chinh dũng cảm, và rong ruổi qua một vùng đất mà người ta bảo rằng từng có thời Samson là cư dân ở đó.

Chúng tôi nghỉ đêm cùng các vị sư tử tế tại tu viện Ramleh. Sáng ra, cả bọn phóng ngựa nước kiệu gần hết quãng đường đến Jaffa, hay còn gọi là Joppa, vì đồng bằng ở đây bằng phẳng như mặt sàn, chẳng một viên đá, vả lại đây cũng là chặng đường cuối của chúng tôi trên Thánh Địa. Chỉ vài ba tiếng đồng hồ nữa thôi, chúng tôi và lũ ngựa mệt nhoài có thể ngủ nghỉ thỏa thuê. Đây chính là vùng đồng bằng mà Joshua đã nói khi ông cất lời: “Hỡi mặt trời, hãy dừng lại trên Gibeon, và hỡi mặt trăng, trên thung lũng Ajalon.” Khi đến gần Jaffa, lũ nhóc thúc ngựa chạy đua, tận hưởng cảm giác phấn khích của một cuộc đua thực thụ—trải nghiệm mà chúng tôi gần như chưa từng có kể từ hồi đua lừa ở quần đảo Azores.

Cuối cùng, chúng tôi cũng tới được vườn cam trù phú, nơi thành phố phương Đông Jaffa đang nép mình ẩn dật; chúng tôi vượt tường thành, lại lầm lũi đi qua những con phố chật hẹp, len lỏi giữa đám đông xơ xác, chứng kiến những cảnh tượng và trải nghiệm quen thuộc bấy lâu. Chúng tôi xuống ngựa lần cuối, và ngoài khơi xa, đang thả neo đậu, chúng tôi thấy con tàu! Tôi đặt một dấu chấm than ở đó bởi lẽ chúng tôi cũng cảm thấy y như vậy khi nhìn thấy con tàu. Chuyến hành hương dài đằng đẵng đã kết thúc, và chẳng hiểu sao, chúng tôi cảm thấy mừng khôn xiết.

[Để biết mô tả về Jaffa, hãy xem Từ điển Địa lý Phổ quát.] Simon người thuộc da từng sống ở đây. Chúng tôi có ghé thăm nhà ông. Mọi khách hành hương đều ghé thăm nhà Simon người thuộc da. Peter đã thấy khải tượng về lũ thú vật được thả xuống trong một tấm khăn khi ông nằm trên mái nhà Simon người thuộc da. Chính từ Jaffa, Jonah đã ra khơi khi được lệnh đi tiên tri chống lại Nineveh, và hẳn là không xa thị trấn này mấy, con cá kình đã nhả ông ra khi nó phát hiện ông không có vé. Jonah là kẻ bất tuân, tính tình hay bắt bẻ, càm ràm, nên cũng gần như đáng bị người ta mỉa mai đôi chút. Những thanh gỗ dùng để xây Đền thờ Solomon từng được thả trôi về Jaffa trên các bè gỗ, và khe hở hẹp trên dạn san hô mà chúng phải đi qua để vào bờ thì chẳng rộng hơn hay bớt nguy hiểm hơn một li nào so với ngày xưa. Dân cư ở cảng biển tốt nhất của Palestine này từ trước đến nay đều có cái vẻ lờ đờ, buồn ngủ như vậy đấy. Jaffa có một lịch sử, và là một lịch sử đầy sóng gió. Nhưng bạn sẽ chẳng tìm thấy nó trong cuốn sách này đâu. Nếu độc giả có ghé qua thư viện cho mượn sách và nhắc tên tôi, bạn sẽ được cung cấp những cuốn sách cho bạn biết thông tin đầy đủ nhất về Jaffa.

Thế là chuyến hành hương kết thúc. Chúng ta nên lấy làm mừng vì đã không thực hiện nó với mục đích thỏa mãn nhãn quan bằng những cảnh sắc thiên nhiên mê hồn, nếu không thì hẳn chúng ta đã thất vọng tràn trề—ít nhất là vào mùa này trong năm. Một tác giả trong cuốn “Cuộc sống trên Thánh Địa” có nhận xét:

“Dù phần lớn Thánh Địa có vẻ đơn điệu và chẳng mấy lôi cuốn đối với những người đã quen với cây cối xanh tươi gần như quanh năm, những dòng suối dồi dào và địa hình đa dạng ở quê nhà chúng ta, nhưng ta phải nhớ rằng cảnh tượng nơi đây trong mắt người Israel sau cuộc hành trình mệt mỏi bốn mươi năm băng qua sa mạc hẳn đã rất khác.”

Tất cả chúng tôi đều sẵn lòng thừa nhận điều đó. Nhưng thực sự thì nó “đơn điệu và chẳng mấy lôi cuốn”, và chẳng có lý do gì xác đáng để miêu tả nó theo hướng khác đi cả.

Trong tất cả các vùng đất có phong cảnh ảm đạm, tôi nghĩ Palestine chắc phải là kẻ đứng đầu. Đồi núi thì trơ trọi, màu sắc xỉn nhạt, hình thù chẳng có gì bắt mắt. Thung lũng thì là những hoang mạc chướng mắt, viền bằng thứ thảm thực vật yếu ớt toát lên vẻ buồn bã, nản lòng. Biển Chết và Biển Galilee ngủ yên giữa một vùng đồi núi và đồng bằng mênh mông, nơi mắt chẳng thấy được tông màu nào dễ chịu, chẳng có vật thể nào nổi bật, chẳng bức tranh mềm mại nào đang mơ màng trong làn sương tím hay lốm đốm bóng mây. Mọi đường nét đều thô ráp, mọi chi tiết đều rành rành, chẳng có chiều sâu – khoảng cách chẳng tạo ra bất kỳ sự mê hoặc nào ở đây. Đây là một vùng đất tuyệt vọng, ảm đạm và tan nát cõi lòng.

Tuy nhiên, vài mảng miếng nhỏ xíu của nó chắc hẳn sẽ rất đẹp khi xuân về rộ, và càng đẹp hơn nhờ sự tương phản với cảnh hoang tàn trải dài bao quanh tứ phía. Tôi rất muốn được nhìn thấy những bờ sông Jordan vào mùa xuân, cả Shechem, Esdraelon, Ajalon và vùng biên viễn Galilee nữa—nhưng ngay cả khi ấy, những nơi này cũng chỉ như mấy khu vườn đồ chơi đặt rải rác giữa sa mạc hoang vu vô tận mà thôi.

Palestine đang khoác lên mình tấm áo tang tro bụi. Một lời nguyền đang bao trùm lấy nó, làm héo úa những cánh đồng và kìm hãm mọi sinh khí. Nơi Sodom và Gomorrah từng dựng lên những mái vòm và tháp cao, thì nay biển cả nghiêm nghị ấy lại tràn ngập thung lũng, trong làn nước đắng ngắt ấy chẳng còn sinh vật nào tồn tại—trên mặt nước phẳng lặng ấy, không khí oi bức đọng lại bất động và chết chóc—quanh bờ của nó chẳng thứ gì mọc nổi ngoài cỏ dại, mấy bụi lau sậy thưa thớt, và thứ trái cây dối lừa hứa hẹn sự mát lành cho đôi môi khô khát nhưng khi chạm vào lại hóa thành tro bụi. Nazareth thì tiêu điều; quanh khúc sông Jordan nơi đoàn quân Israel tiến vào Đất Hứa với những bài ca hân hoan, người ta chỉ tìm thấy một trại Bedouin nhếch nhác của sa mạc; Jericho bị nguyền rủa, ngày nay chỉ còn là đống đổ nát mục nát, y hệt như phép màu của Joshua đã để lại hơn ba ngàn năm trước; Bethlehem và Bethany, trong sự nghèo khó và tủi nhục, giờ đây chẳng còn gì để gợi nhắc cho người ta nhớ rằng chúng từng biết đến vinh dự cao quý khi có sự hiện diện của Đấng Cứu Thế; mảnh đất thiêng nơi những người chăn cừu canh giữ đàn cừu của họ trong đêm, và nơi các thiên thần hát khúc Hòa bình trên trái đất, thiện chí cho loài người, nay chẳng còn sinh vật sống nào cư ngụ, chẳng có nét gì ban phước lành hay đẹp đẽ cho đôi mắt nhìn. Bản thân Jerusalem lừng danh, cái tên uy nghi nhất trong lịch sử, đã đánh mất mọi vẻ hùng tráng cổ xưa, trở thành một ngôi làng nghèo khổ; của cải của Solomon không còn ở đó để khiến các nữ hoàng phương Đông viếng thăm phải trầm trồ; ngôi đền kỳ diệu từng là niềm tự hào và vinh quang của Israel đã mất, và vầng trăng khuyết Ottoman đã được nâng lên phía trên nơi, vào ngày đáng nhớ nhất trong biên niên sử thế giới đó, họ đã dựng lên Thánh Giá. Biển Galilee nổi tiếng, nơi hạm đội La Mã từng thả neo và các môn đồ của Đấng Cứu Thế từng dong buồm trên tàu, từ lâu đã bị những tín đồ của chiến tranh và thương mại bỏ rơi, và bờ cõi của nó là một vùng hoang dã lặng câm; Capernaum là đống đổ nát không hình thù; Magdala là nơi ở của những Ả Rập ăn xin; Bethsaida và Chorazin đã biến mất khỏi trái đất, và những “nơi hoang vắng” xung quanh chúng, nơi hàng ngàn người từng lắng nghe giọng nói của Đấng Cứu Thế và ăn chiếc bánh mì kỳ diệu, giờ ngủ yên trong sự tĩnh mịch mà chỉ có lũ chim săn mồi và những con cáo lén lút sinh sống.

Palestine hoang vắng và chẳng đáng yêu chút nào. Và tại sao nó lại có thể khác được chứ? Liệu lời nguyền của Thần linh có thể làm đẹp một vùng đất được sao?

Palestine không còn thuộc về thế giới bận rộn ngày thường này nữa. Nó thuộc về thi ca và truyền thuyết—nó là vùng đất của những giấc mơ.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.