Dưới uy lực khủng khiếp của cái trò "chữa trị gần" kết hợp với "chữa trị từ xa", xương cốt tao cứ thế mà tự rút vào trong rồi lặn mất tăm. Cái "lời hay ý đẹp" bắt đầu vận hành ro ro, nhanh phết. Thân xác tao thì cứ oằn lên, co duỗi tứ tung để mà thích nghi với cái quá trình phục hồi này, cứ tầm một hai phút là lại nghe tiếng "cạch" khô khốc ở bên trong, thế là biết ngay hai đầu xương gãy đã được nối lại thành công.
Mấy cái tiếng cạch cạch, ken két, rồi nghiến rồi rít đó kéo dài suốt ba tiếng đồng hồ, rồi dừng lại—mọi mối nối đã được xong xuôi. Chỉ trừ mấy cái khớp bị trật; có bảy chỗ tất cả: hông, vai, đầu gối, cổ; cũng nhanh thôi; từng cái một trượt vào ổ khớp nghe như tiếng rút nút chai ở đâu xa vọng lại, tao nhảy dựng lên, khung xương ngon lành cành đào như mới, rồi gọi ngay bác sĩ thú y tới.
Buộc lòng tao phải gọi ổng vì tao đang đau bụng với cả bị cảm nặng, mà tao thì đếch muốn phó mặc mấy cái món này nữa cho cái mụ đàn bà mà tao chẳng quen biết gì, cái mụ mà tao đã mất hết niềm tin vào cái khả năng chữa bệnh quèn của bả. Tao có lý do chính đáng để làm thế, vì cái cơn cảm với đau bụng đó nằm trong tay mụ ta ngay từ đầu, cùng với đám xương gãy kia, mà chẳng thuyên giảm tí ti nào; thậm chí cơn đau còn ngày càng tệ hơn, càng lúc càng buốt, chắc tại vì bị bắt nhịn ăn nhịn uống lâu quá.
Gã thú y tới, một tay dễ mến, đầy hy vọng và cực kỳ hứng thú với ca bệnh của tao. Về khoản mùi hương thì gã tỏa ra cái mùi khá nồng, nói thẳng ra là mùi y hệt mùi ngựa, tao cũng thử gạ gã dùng cái trò chữa trị từ xa, nhưng món đó không nằm trong "chuyên môn" của gã, nên vì nể nang nên tao cũng không ép. Gã nhìn răng tao rồi kiểm tra cả khớp khoeo, bảo là tuổi tác với thể trạng của tao rất hợp để áp dụng mấy biện pháp mạnh tay; thế nên gã sẽ cho tao một liều để biến cái bệnh đau bụng thành sán dạ dày, còn cảm cúm thì thành chứng chóng mặt; lúc đó thì đúng "sở trường" của gã rồi, gã sẽ biết phải làm gì. Gã pha một xô cám, bảo cứ mỗi hai tiếng làm một gáo, xen kẽ với một liều thuốc có pha nhựa thông và mỡ bôi trục xe, đảm bảo là hoặc là tống cổ bệnh tật ra khỏi người tao trong vòng hai mươi bốn tiếng, hoặc là làm tao bận tâm đến mấy thứ khác đến mức quên luôn là mình đang bị bệnh. Gã tự tay đút cho tao liều đầu tiên, rồi xin cáo từ, bảo là giờ tao có thể ăn uống bất cứ thứ gì tao thích, bao nhiêu tùy ý. Nhưng tao chả còn đói khát gì nữa, cũng chả thiết tha gì đến chuyện ăn uống.
Tao cầm cuốn sách "Khoa học Cơ Đốc" lên đọc được nửa, rồi nốc thêm một gáo thuốc nữa và đọc nốt nửa còn lại. Kết quả trải nghiệm thì ôi thôi, đầy rẫy những thú vị và phiêu lưu. Trong suốt cái quá trình ầm ầm, cọ xát, rung chuyển và sủi bọt khi cái cơn đau bụng biến thành sán dạ dày, còn cảm cúm thì chuyển thành chóng mặt, tao vẫn nhận thấy cái cuộc đấu tranh giành quyền kiểm soát giữa bát cám, liều thuốc và mớ văn chương đó; thường thì tao biết thằng nào đang thắng, và dễ dàng phân biệt được cái đống văn chương đó với mấy thứ kia khi chúng nó đứng riêng, còn khi trộn lẫn vào nhau thì chịu; vì khi cám với thuốc trộn lẫn vào nhau thì trông chả khác gì cái "Nguyên lý Hiển nhiên" đang dở quẻ, chẳng bố con thằng nào phân biệt nổi. Cuối cùng thì cũng xong xuôi, mọi diễn biến đều hoàn tất và thành công mỹ mãn; nhưng tao nghĩ kết quả này có thể đạt được với ít nguyên liệu hơn thế. Tao tin là bát cám thì cần thiết để biến đau bụng thành sán dạ dày, nhưng tao nghĩ người ta có thể tự phát triển bệnh chóng mặt chỉ bằng cái mớ văn chương kia; hơn nữa, cái chứng chóng mặt kiểu đó sẽ có "chất lượng" hơn và bền hơn bất kỳ thứ gì tạo ra bởi mấy cái phương pháp nhân tạo của gã thú y.
Bởi trong tất cả những cuốn sách kỳ quái, điên rồ, khó hiểu và chẳng thể giải mã nổi mà trí tưởng tượng con người từng đẻ ra, thì cuốn này chắc chắn là hàng độc nhất vô nhị. Nó được viết với cái sự tự tin và tự mãn vô biên, với sự hăng hái, xông xáo và nghiêm túc đến mức thường tạo ra hiệu ứng hùng biện, ngay cả khi chữ nghĩa trong đó chẳng có lấy một ý nghĩa gì có thể truy nguyên nổi. Có khối người tưởng rằng mình hiểu được cuốn sách; tao biết điều này, vì tao đã nói chuyện với họ rồi; nhưng trường hợp nào cũng vậy, họ đều là những kẻ tưởng rằng trên đời này không có cái gọi là đau đớn, bệnh tật, cái chết, và không có thực tại nào cả; chẳng có gì tồn tại thực sự ngoài cái "Tâm trí". Với tao thì điều đó làm giảm bớt giá trị lời khai của đám người đó. Khi đám người này nói về Khoa học Cơ Đốc, họ làm y hệt như mụ Fuller; họ không dùng ngôn ngữ của chính mình, mà toàn dùng từ trong sách; họ phun ra những câu chữ màu mè vô nghĩa trong sách, rồi để mặc cho mày sau này mới nhận ra là họ chẳng có sáng tạo gì cả, chỉ toàn là trích dẫn; họ dường như thuộc lòng cuốn sách đó, và tôn sùng nó như kinh thánh vậy—à mà có lẽ tao nên gọi nó là một cuốn kinh thánh khác thì đúng hơn. Rõ ràng là cuốn sách được viết dưới cái sự suy sụp tinh thần của "Cấp độ Ba", và tao tin chắc rằng chả ai ngoài đám hội viên thuộc cái cấp độ đó có thể tìm ra ý nghĩa trong đó. Khi đọc nó, mày sẽ có cảm giác như đang nghe một bài diễn văn sôi nổi, hung hăng và mang màu sắc sấm truyền được đọc bằng một thứ tiếng lạ hoắc, một bài diễn văn mà mày hiểu được cái hồn nhưng đếch nắm bắt được chi tiết; hoặc, đổi cách ví von khác, mày như đang nghe một nhạc cụ mạnh mẽ đang tấu lên cái tiếng ồn mà nó tưởng là giai điệu, nhưng với những ai không nằm trong ban nhạc thì đó chỉ là tiếng kèn trombone inh ỏi, chỉ tổ làm xao động tâm hồn bằng mớ âm thanh đó chứ chẳng truyền tải được cái ý nghĩa gì cả.
Cái sự thanh thản tự mãn của cuốn sách gần như mang hơi hướng từ thiên đường—chẳng có chút họ hàng thân thích nào ở dưới trần gian này cả. Phải là cái kiểu phi nhân loại mới có thể tự tin một cách bình thản như thế về mọi thứ, tỏ ra bề trên một cách tinh vi như thế, và tự mãn một cách nhẹ tênh về màn trình diễn của chính mình như thế. Chẳng bao giờ đưa ra được cái gì có thể gọi đúng nghĩa là "Bằng chứng", đôi khi thậm chí chẳng thèm nêu lý do cho một kết luận nào cả, vậy mà nó cứ sấm sét gầm lên những lời kinh ngạc: "Ta đã Chứng minh" cái này cái nọ! Phải huy động cả Giáo hoàng và tất cả các đại thụ của giáo hội họp lại mới có thể thẩm định và xác lập ý nghĩa của một đoạn Kinh thánh duy nhất còn mơ hồ, và phải tốn bao nhiêu thời gian, nghiên cứu và suy ngẫm, vậy mà tác giả của cái tác phẩm này còn trên cơ tất cả bọn họ: bà ta thấy cả cuốn Kinh thánh đều ở trạng thái mơ hồ, và chẳng tốn mấy thời gian, cũng chẳng tốn tí nơ-ron thần kinh nào, bà ta làm sáng tỏ nó từ trang đầu tới trang cuối, tổ chức lại và cải thiện ý nghĩa, rồi xác lập và khẳng định chúng bằng những công thức mà mày không sao phân biệt nổi với câu "Hãy có ánh sáng!" và "Đây, cho ngươi đây!". Đây là lần đầu tiên kể từ buổi bình minh của Sáng thế, có một Tiếng nói vang dội khắp không gian với cái sự tự tin, tự mãn và uy quyền bình thản đến thế.