Cái toà thị chính chưa bao giờ trông hoành tráng đến thế. Sau bục phát biểu ở cuối khán phòng là một bức phướn cờ quạt rực rỡ; dọc các bức tường cứ một đoạn lại giăng dây cờ; phía trước khán đài tầng trên cũng phủ đầy cờ; đến mấy cái cột chống cũng được quấn cờ chặt nêm. Tất cả cái trò mè nheo này là để lòe mắt người ngoài, vì hôm nay dân tứ xứ đổ về đông như quân Nguyên, mà phần lớn trong số đó lại là lũ nhà báo. Trong hội trường không còn lấy một chỗ trống. 412 ghế cố định đã kín nấc; 68 chiếc ghế phụ kê thêm dưới lối đi cũng chật nức; mấy bậc thang lên bục phát biểu bị chiếm sạch; vài vị khách khứa cộm cán được ưu ái ngồi ngay trên bục; còn tại dãy bàn hình cánh cung quây quanh bục thì lũ phóng viên đặc nhiệm từ khắp nơi kéo về đang ngồi chật nát. Đây đúng là buổi tụ họp ăn bận sang chảnh nhất cái thị trấn này từng thấy. Không ít bộ trang phục đắt tiền lấp lánh xuất hiện, dù vài bà cô khoác chúng lên người nhìn tơ lơ mơ như lần đầu được chạm vào nhung lụa. Ít nhất thì dân trong vùng nghĩ thế, nhưng cái suy đoán ấy chắc cũng từ sự thật chề chề ra đấy: mấy mụ này trước giờ làm quái gì có cửa khoác lên mình mấy bộ đồ xịn mịn như vậy.
Túi vàng chễm chệ trên cái bàn nhỏ ngay đằng trước bục phát biểu, nơi toàn bộ khán phòng có thể dán mắt vào. Phần lớn đám đông thèm thuồng nhìn nó với ánh mắt nóng rực, chảy cả dãi, vừa thèm khát lại vừa chua xát; duy chỉ có một nhóm nhỏ gồm mười chín cặp vợ chồng là ngắm nghía nó bằng vẻ âu yếm, đắm đuối như thể đồ của nhà mình, còn các ông chồng trong nhóm này thì liên tục lẩm nhẩm trong đầu mấy bài phát biểu cảm ơn bộc phát đầy cảm động để tẹo nữa bước lên nhận pháo tay cùng lời chúc tụng của thiên hạ. Thỉnh thoảng, vài gã lại móc từ túi áo giile ra một mảnh giấy nhỏ, lén nghía qua một phát để xốc lại trí nhớ.
Dĩ nhiên là không khí vẫn rù rì tiếng bàn tán—chuyện thường ở huyện; nhưng cuối cùng, khi Mục sư Burgess đứng dậy và đặt tay lên bao tải vàng, cả cái hội trường im phăng phắc tới mức đến tiếng vi trùng đang gặm nhấm cũng nghe thấy được. Ông ta bắt đầu kể lại cái lịch sử quái gở của bao tải vàng, rồi chuyển sang dùng những lời có cánh để bốc phét về danh tiếng trung thực tuyệt đối mà Hadleyburg đã dày công gây dựng, cùng niềm tự hào chính đáng của thị trấn về danh tiếng ấy. Ông tuyên bố danh tiếng này là một kho báu vô giá; rằng nhờ ơn Trên, giá trị của nó giờ đây đã được nâng tầm lên gấp bội, bởi cái vụ việc mới đây đã vang xa khắp bốn phương, khiến cả cái nước Mỹ phải dõi mắt về cái làng này, và biến tên tuổi của nó mãi mãi—như ông hằng hy vọng và tin tưởng—thành biểu tượng của sự liêm chính trong kinh doanh. (Pháo tay vang dội.) “Và ai sẽ là người canh giữ danh tiếng cao quý này—toàn thể cộng đồng ư? Không! Trách nhiệm này thuộc về từng cá nhân, chứ không phải tập thể. Kể từ ngày hôm nay, từng người và mọi người trong các vị chính là một vệ sĩ đặc nhiệm của danh tiếng đó, và phải tự chịu trách nhiệm không để bất kỳ gã nào vấy bẩn nó. Các vị—từng người trong các vị—có chấp nhận trọng trách lớn lao này không? (Tiếng gầm rú đồng tình náo nhiệt.) Vậy thì mọi sự tốt đẹp rồi. Hãy truyền lại nó cho con cháu các vị. Ngày hôm nay, sự trong sạch của các vị là miễn chê—hãy giữ cho nó mãi như thế. Ngày hôm nay, không một ai trong cộng đồng này có thể bị dụ dỗ để đụng vào một xu không phải của mình—hãy nhớ kỹ điều đó mà sống. (‘Chúng tôi sẽ giữ! Chúng tôi sẽ giữ!’) Đây không phải là chỗ để so đo giữa chúng ta với các cộng đồng khác—vài nơi trong số đó vốn chẳng ưa gì chúng ta; họ có lối sống của họ, ta có cách của ta; cứ thế mà bằng lòng. (Pháo tay.) Tôi xin hết. Dưới tay tôi lúc này, thưa các chiến hữu, là sự công nhận đầy sức nặng của một kẻ xa lạ dành cho giá trị của chúng ta; thông qua gã, cả thế giới từ nay sẽ biết chúng ta là ai. Ta không biết gã là ai, nhưng thay mặt các vị, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất và mời đại gia đình cất cao tiếng hát để ủng hộ!”
Toàn thể hội trường đứng bật dậy, hò reo vang trời khiến các bức tường rung chuyển bần bật suốt một phút dài. Sau đó mọi người ngồi xuống, và ông Burgess móc từ túi ra một phong bì. Cả hội trường nín thở nhìn ông ta xé phong bì và rút ra một mảnh giấy. Ông ta đọc nội dung—rất chậm rãi và hùng hình—trong khi đám đông như bị thôi miên, dán mắt nghe từng từ một của cái tài liệu thần kỳ mà mỗi chữ đều đáng giá một thỏi vàng:
“‘Lời tôi đã nói với gã người lạ gặp nạn là thế này: “Anh còn lâu mới là một kẻ xấu; đi đi và làm lại cuộc đời.”’ Sau đó gã viết tiếp:—‘Chỉ một lát nữa thôi chúng ta sẽ biết liệu câu nói được trích dẫn ở đây có khớp với câu giấu trong bao tải hay không; và nếu đúng là như vậy—mà chắc chắn là vậy rồi—thì bao tải vàng này thuộc về một vị đồng bào, người mà từ nay về sau sẽ đứng trước toàn quốc như một biểu tượng của đức hạnh đặc biệt đã làm nên danh tiếng cho thị trấn ta—ông Billson!’”
Cả hội trường đã chuẩn bị sẵn tinh thần để bùng nổ một trận bão pháo tay kịch liệt; nhưng thay vì thế, tất cả như bị trúng gió liệt toàn thân; không khí lặng đi trong giây lát, rồi một làn sóng thầm thì to nhỏ cuộn qua khắp hội trường—đại loại kiểu: “BILLSON á! Ôi dào, nghe XẠM LẠI VỒ-LÂU! Hai mươi đô cho một gã người lạ—hay BẤT KỲ AI—BILLSON ư? Đi mà bốc phét với ma ấy!” Và ngay lúc đó, cả hội trường lại đột ngột nín thở trong một cơn kinh ngạc mới, vì họ phát hiện ra rằng trong khi ở một góc phòng, Chưởng bạ Billson đang đứng dậy cúi đầu nhún nhường, thì ở một góc khác, Luật sư Wilson cũng đang làm y hệt như thế. Khán phòng rơi vào một khoảng im lặng ngơ ngác. Ai nấy đều ngơ ngác, còn mười chín cặp vợ chồng thì vừa kinh ngạc vừa tức điên người.
Billson và Wilson quay lại lườm nhau muốn cháy mặt. Billson hỏi bằng giọng đểu giả:
“Cái quái gì mà ÔNG lại đứng dậy, ông Wilson?”
“Vì tôi có quyền. Hay là ông làm ơn giải thích cho cả cái hội trường này nghe xem tại sao ÔNG lại đứng dậy đi?”
“Sẵn sàng thôi, thưa ông. Vì chính tay tôi viết cái tờ giấy đó.”
“Đúng là tráo trở láo lếu! Chính tay tôi viết chứ ai!”
Bây giờ đến lượt Burgess bị đơ toàn tập. Ông ta đứng trố mắt nhìn gã này rồi lại nhìn gã kia, hình như chẳng biết phải làm cái quái gì tiếp theo. Cả hội trường thì ngơ ngác như bò đeo thẻ. Luật sư Wilson lên tiếng trước:
“Tôi đề nghị Chủ tọa đọc cái tên ký dưới tờ giấy đó ra.”
Câu đó mới làm Chủ tọa giật mình tỉnh lại, ông ta đọc to cái tên:
“John Wharton BILLSON.”
“Đấy!” Billson gào lên, “Bây giờ ông còn gì để bào chữa nữa không hả? Và ông định xin lỗi tôi cùng cái hội trường bị xúc phạm này thế nào về trò lừa đảo ô hợp mà ông vừa tính giàn xếp ở đây?”
“Không việc gì phải xin lỗi hết, thưa ông; còn về phần còn lại, tôi công khai buộc tội ông đã thó trộm thư của tôi từ chỗ ông Burgess rồi thay bằng một bản sao có ký tên ông. Chẳng còn cách nào khác để ông có được câu trắc nghiệm đó đâu; trên đời này chỉ có mình tôi biết bí mật về từng câu chữ của nó.”
Kiểu này mà cứ tiếp tục thì thế nào cũng vỡ lở ra một trận bê bối thối mồm; ai nấy đều lo sốt vó khi thấy mấy gã ký xướng tốc ký đang quẹt bút như điên; nhiều người bắt đầu gào lên: “Chủ tọa đâu! Trật tự! Trật tự!” Burgess gõ búa chát chát rồi lên tiếng:
“Đừng quên phép lịch sự tối thiểu, các vị. Rõ ràng là có sự nhầm lẫn ở đâu đó thôi, nhưng chắc chỉ dừng ở đó thôi. Nếu ông Wilson có đưa cho tôi một phong bì—mà giờ tôi mới nhớ ra là đúng là có—thì tôi vẫn còn giữ đây.”
Ông ta móc một chiếc phong bì từ trong túi ra, bóc ra, nghía qua một phát, vẻ mặt biến sắc đầy lo lắng rồi đứng im lìm một lúc. Sau đó ông ta quơ tay một cách ngơ ngác và máy móc, cố gắng thốt ra vài lời nhưng rồi lại bỏ cuộc, mặt mày tiu tụy. Mấy tiếng gào lên:
“Đọc đi! Đọc đi! Có cái gì trong đó?”
Thế là ông ta bắt đầu đọc, bằng cái giọng thẫn thờ như kẻ mộng du:
“‘Lời tôi đã nói với gã người lạ bất hạnh là thế này: “Anh còn lâu mới là một kẻ xấu. (Cả hội trường trố mắt nhìn ông ta kinh ngạc.) Đi đi và làm lại cuộc đời.’” (Tiếng rì rầm: “Kỳ quái thật! Thế này là thế quái nào?”) “Mảnh giấy này,” Chủ tọa nói, “có chữ ký của Thurlow G. Wilson.”
“Đấy!” Wilson reo lên, “Tôi cá là coi như xong chuyện! Tôi biết thừa cái thư của tôi bị chôm mà.”
“Chôm á!” Billson vặn lại. “Tôi cho ông biết nhá, cái loại ông hay bất kỳ gã nào thuộc cái giuộc của ông đừng có mà giở trò—”
Chủ tọa: “Trật tự, các vị, trật tự! Mời cả hai ông ngồi xuống cho.”
Cả hai đành nghe lời, vừa ngồi xuống vừa lắc đầu chửi thề lầm tầm. Cả hội trường rối như tơ vò; chẳng biết phải tính sao với cái tình huống oái ăm này. Đúng lúc đó, Thompson đứng dậy. Thompson là gã thợ làm mũ. Gã cũng thèm vào nhóm Mười Chín Cụ tổ lắm, nhưng đời không như mơ; cái kho mũ của gã chưa đủ tầm để ngồi vào cái mâm đó. Gã lên tiếng:
“Thưa Chủ tọa, nếu tôi được phép đưa ra một ý kiến, liệu cả hai vị đây có thể cùng đúng được không? Tôi xin hỏi thật ông, liệu có lý nào cả hai gã lại vô tình nói đúng từng ấy từ với gã người lạ? Tôi thấy có vẻ—”
Gã thợ thuộc da đứng bật dậy ngắt lời. Gã thuộc da này vốn là một kẻ bất mãn; gã tự thấy mình thừa sức vào nhóm Mười Chín, nhưng đời chẳng ai công nhận. Thành ra tính nết và ăn nói của gã có phần chát chúa, mất nết. Gã bảo:
“Thôi đi, ĐÓ đếch phải là mấu chốt! Cái chuyện ĐÓ—trăm năm mới có hai lần xảy ra—nhưng chuyện kia thì không thể. CẢ HAI gã này đếch có gã nào xì ra hai mươi đô hết!” (Một tràng pháo tay rần rần.)
Billson: “Tôi xì ra!”
Wilson: “Tôi xì ra!”
Thế là hai gã lại quay sang tố nhau ăn trộm.
Chủ tọa: “Trật tự! Làm ơn ngồi xuống—cả hai ông. Không có tờ thư nào rời khỏi tay tôi dù chỉ một giây đâu nhé.”
Một tiếng gào: “Ngon—thế là XONG cái khoản đó nhé!”
Gã thuộc da: “Thưa Chủ tọa, giờ thì có một điều rõ như ban ngày rồi: một trong hai gã này đã chui gầm giường gã kia nghe lén rồi cuỗm sạch bí mật gia đình. Nếu không phải là bất lịch sự, tôi xin phán thẳng một câu là cả hai gã đều đủ trò lưu manh để làm việc đó. (Chủ tọa: ‘Trật tự! Trật tự!’) Tôi rút lại lời đó, thưa ông, và xin gói gọn lại thế này: NẾU một trong hai gã nghe lén kẻ kia khai thật câu trắc nghiệm với vợ, thì giờ ta bắt bài được gã ngay.”
Một tiếng gào: “Bắt bằng cách nào?”
Gã thuộc da: “Dễ ợt. Hai gã trích dẫn câu đó không giống hệt từng chữ đâu. Các vị sẽ nhận ra ngay nếu không vì cái khoảng thời gian dài ngoẵng và cái trận chửi nhau chí mạng chen vào giữa hai lần đọc.”
Một tiếng gào: “Chỉ ra điểm khác xem nào!”
Gã thuộc da: “Từ ‘RẤT’ có trong thư của Billson, nhưng gã kia thì không.”
Nhiều tiếng gào: “Đúng rồi—gã nói chuẩn đấy!”
Gã thuộc da: “Thế nên, nếu Chủ tọa kiểm tra câu trắc nghiệm trong bao tải, chúng ta sẽ biết gã lừa đảo nào trong hai gã này—(Chủ tọa: ‘Trật tự!’)—gã phiêu lưu lưu manh nào trong hai gã này—(Chủ tọa: ‘Trật tự! Trật tự!’)—quý ông nào trong hai quý ông này—(tiếng cười và pháo tay rần rần)—đáng được giật giải gã bốc phét lưu manh đầu tiên mà cái thị trấn này sản sinh ra—kẻ đã làm ô danh cái thị trấn này, và từ giờ trở đi cái nơi này sẽ là lò lửa dành cho gã!” (Pháo tay nhiệt liệt.)
Nhiều tiếng gào: “Mở ra!—Mở bao tải ra!”
Ông Burgess rạch một đường trên bao tải, thò tay vào và rút ra một cái phong bì. Bên trong có hai mảnh giấy gấp lại. Ông nói:
“Một trong hai tờ này có ghi: ‘Không được mở ra cho đến khi tất cả các thư từ gửi cho Chủ tọa—nếu có—đã được đọc xong.’ Tờ còn lại ghi ‘BÀI TRẮC NGHIỆM’. Xin phép các vị. Nội dung của nó—nguyên văn là:
“‘Tôi không bắt buộc nửa đầu câu nói mà ân nhân đã bảo tôi phải được trích dẫn chính xác tuyệt đối, vì nó chẳng có gì ấn tượng và rất dễ quên; nhưng mười lăm từ cuối cùng thì cực kỳ ấn tượng, và tôi nghĩ rất dễ nhớ; trừ khi NHỮNG TỪ NÀY được chép lại chuẩn đét, còn không hãy coi kẻ nộp đơn là một gã lừa đảo. Ân nhân của tôi bắt đầu bằng việc nói rằng gã hiếm khi cho ai lời khuyên, nhưng một khi đã cho thì luôn mang nhãn hiệu đắt giá. Sau đó gã nói thế này—và nó chưa bao giờ phai nhạt trong trí nhớ của tôi: “ANH CÒN LÂU MỚI LÀ MỘT KẺ XẤU—”’”
Năm mươi tiếng gào: “Xong phim rồi—tiền thuộc về Wilson! Wilson! Wilson! Phát biểu đi! Phát biểu đi!”
Mọi người nhảy chồm lên, vây quanh Wilson, bắt tay bắt chân nhiệt tình và chúc tụng rối rít—trong khi đó Chủ tọa không ngừng nện búa côm cộp và gào lên:
“Trật tự, các vị! Trật tự! Trật tự! Để tôi đọc cho xong đã, làm ơn đi!” Khi trật tự được khôi phục, việc đọc thư lại tiếp tục—như sau:
“‘ĐI ĐI VÀ LÀM LẠI CUỘC ĐỜI—BẰNG KHÔNG, NÓI CHO MÀ BIẾT—MỘT NGÀY NÀO ĐÓ VÌ TỘI LỖI CỦA MÌNH ANH SẼ CHẾT VÀ XUỐNG ĐỊA NGỤC HOẶC VỀ HADLEYBURG—CỐ MÀ CHỌN CÁI TRƯỚC ĐI.’”
Một khoảng im lặng rợn người bao trùm. Mới đầu, một đám mây giận dữ bắt đầu phủ đen kịt lên mặt đám dân chúng; sau một nhịp khựng lại, đám mây ấy bắt đầu tan đi, thay vào đó là những nét mặt buồn cười muốn sặc; buồn cười đến mức phải nhẫn nại nén lại một cách đau đớn; lũ phóng viên, dân vùng Brixton và đám khách tứ xứ thì gục đầu xuống, lấy tay che mặt, ráng hết sức bình sinh và dùng chút lịch sự anh hùng cuối cùng để không nổ ra tiếng cười. Ngay cái thời điểm tai hại nhất ấy, một tiếng gầm của một gã duy nhất cất lên xé tan khoảng im lặng—đó là Jack Halliday:
“ĐÚNG LÀ CÓ NHÃN HIỆU XỊN RỒI NHÉ!”
Thế là cả hội trường xả giàn, khách khứa lẫn dân trong làng. Ngay cả bộ mặt hình sự của ông Burgess cũng sụp đổ ngay tắp lừ, thế là đám đông tự cho mình cái quyền xả láng không cần giữ kẽ nữa, và họ tận dụng triệt để cái đặc quyền đó. Đó là một trận cười dài thả ga, một trận cười bùng nổ hết mình, nhưng rồi cũng phải ngừng—đủ lâu để ông Burgess cố gắng tiếp tục, và để mọi người quệt bớt nước mắt; rồi nó lại bùng lên lần nữa, rồi thêm lần nữa; mãi về sau Burgess mới có thể thốt ra những lời nghiêm trọng này:
“Có cố giấu cũng vô ích—chúng ta đang phải đối mặt với một vụ việc cực kỳ nghiêm trọng. Nó liên quan đến danh dự của thị trấn các vị—nó đánh thẳng vào uy tín của thị trấn. Sự khác biệt chỉ một từ giữa câu trắc nghiệm của ông Wilson và ông Billson bản thân nó đã là một chuyện nghiêm trọng, vì nó cho thấy một trong hai vị đây đã phạm tội trộm cắp—”
Hai gã nọ đang ngồi rũ rượi, bủn rủn, nát ngọc tan vàng; nhưng nghe thấy mấy từ này thì như bị điện giật, bật người định đứng dậy.
“Ngồi xuống!” Chủ tọa gằn giọng quát, và hai gã đành nghe lời. “Đó, như tôi đã nói, là một chuyện nghiêm trọng. Và nó đã đúng—nhưng chỉ với một trong hai gã. Nhưng sự việc giờ đây còn nghiêm trọng hơn nhiều; vì danh dự của CẢ HAI gã giờ đây đang gặp nguy hiểm đáng sợ. Hay tôi phải nói xa hơn nữa, là rơi vào đống bùi nhùi không lối thoát? CẢ HAI gã đều bỏ qua mười lăm từ mấu chốt.” Ông ta khựng lại. Trong vài khoảnh khắc, ông để cho sự im lặng bao trùm sâu hơn để tăng thêm hiệu ứng ép tim, rồi nói tiếp: “Hình như chỉ có một cách duy nhất để chuyện này xảy ra. Tôi xin hỏi hai vị đây—Có sự CÂU KẾT nào không?—Có THỎA THUẬN trước không?”
Một tiếng rì rầm khe khẽ truyền qua hội trường; ý của nó là: “Gã tóm sống cả hai lão rồi.”
Billson vốn không quen với mấy cảnh hiểm nghèo này; gã ngồi bẹp dí một chỗ như đống giẻ rách. Nhưng Wilson là luật sư. Gã gồng mình đứng dậy, mặt mày xanh lét và lo sốt vó, lên tiếng:
“Tôi xin hội trường lượng thứ để tôi giải thích cái sự việc đau lòng này. Tôi rất tiếc phải nói ra những lời sắp tới, vì nó chắc chắn sẽ gây tổn hại không thể cứu vãn cho ông Billson, người mà tôi luôn kính trọng và coi trọng cho đến tận bây giờ, và người mà tôi hoàn toàn tin tưởng sẽ không bao giờ gục ngã trước cám dỗ—cũng như tất cả các vị vậy. Nhưng để bảo vệ danh dự của chính mình, tôi phải nói—và nói một cách thẳng thắn. Tôi xin thú nhận một cách xấu hổ—và giờ đây cầu xin sự tha thứ của các vị—rằng tôi đã nói với gã người lạ sa cơ tất cả những từ có trong câu trắc nghiệm, bao gồm cả mười lăm từ bôi bác kia. (Gây chấn động.) Khi bài báo mới đây được đăng tải, tôi đã nhớ lại chúng, và tôi quyết định đòi lại bao tải tiền vàng, vì theo mọi lẽ công bằng tôi hoàn toàn có quyền nhận nó. Giờ đây tôi xin các vị hãy xem xét điểm này và cân nhắc cho kỹ; sự biết ơn của gã người lạ dành cho tôi đêm đó là không bờ bến; chính gã nói gã không tìm được từ nào đủ để diễn tả, và nếu sau này có cơ hội gã sẽ đền đáp gấp ngàn lần. Thế thì, tôi xin hỏi các vị điều này; liệu tôi có thể trông chờ—liệu tôi có thể tin—liệu tôi có thể tưởng tượng dù chỉ trong mơ—rằng với cảm xúc như thế, gã lại làm cái trò phản bộc là thêm mười lăm từ hoàn toàn thừa thãi đó vào bài trắc nghiệm của gã không?—gài bẫy tôi ư?—vạch mặt tôi là kẻ nói xấu thị trấn của mình trước toàn thể đồng bào đang họp ở đây ư? Thật là vô lý; thật là vô Hoffmann. Bài trắc nghiệm của gã chắc chắn chỉ chứa phần mở đầu tử tế trong câu nói của tôi mà thôi. Về điều đó tôi không một chút nghi ngờ. Các vị cũng sẽ nghĩ như tôi thôi. Các vị sẽ không đời nào chờ đợi một sự phản bội đê tiện từ một kẻ mà mình đã giúp đỡ và không hề gây oán thù gì. Và thế là với sự tự tin tuyệt đối, niềm tin tuyệt đối, tôi chép lên mảnh giấy những từ mở đầu—kết thúc bằng ‘Đi đi và làm lại cuộc đời,’—và ký tên. Khi tôi chuẩn bị nhét nó vào phong bì thì có điện thoại gọi vào văn phòng sau, và không suy nghĩ gì, tôi để tờ giấy nằm ngửa trên bàn làm việc.” Gã dừng lại, chậm rãi quay đầu về phía Billson, chờ một nhịp rồi nói tiếp: “Tôi xin các vị lưu ý điều này; khi tôi quay lại sau đó ít lâu, ông Billson đang đi ra bằng cửa đường phố của tôi.” (Gây chấn động.)
Chỉ trong chớp mắt, Billson đã bật dậy và gào lên:
“Xạo lừa! Đúng là một lời dối trá bỉ hại!”
Chủ tọa: “Mời ngồi xuống, thưa ông! Ông Wilson đang có quyền phát biểu.”
Bè lũ của Billson kéo gã xuống ghế và dỗ dành gã, còn Wilson tiếp tục:
“Đó là toàn bộ sự thật đơn giản. Tờ giấy của tôi lúc đó nằm ở một vị trí khác trên bàn so với lúc tôi để lại. Tôi có chú ý đến điều đó, nhưng không coi là quan trọng, chỉ nghĩ là gió thổi nó bay sang. Cái chuyện ông Billson lại đi đọc một tờ giấy riêng tư là điều không đời nào xuất hiện trong đầu tôi; ông ấy là một người danh giá, ông ấy sẽ đứng trên mấy cái trò đó. Nếu các vị cho phép tôi nói, tôi nghĩ từ ‘RẤT’ thừa ra của ông ấy đã có lời giải thích: đó là do trí nhớ có vấn đề mà ra. Tôi là người duy nhất trên thế giới này có thể cung cấp ở đây bất kỳ chi tiết nào của câu trắc nghiệm—bằng CON ĐƯỜNG DÀNG HOÀNG. Tôi xin hết.”
Trên đời này chẳng có cái gì bằng một bài phát biểu đầy sức thuyết phục để làm mụ mị đầu óc, đảo lộn niềm tin và làm đồi trụy cảm xúc của một đám đông không quen với mấy trò bịp bợm và ảo tưởng của nghệ thuật diễn thuyết. Wilson ngồi xuống trong tư thế của kẻ chiến thắng. Cả hội trường dâng trào những làn sóng pháo tay tán thưởng; bạn bè kéo đến bu quanh bắt tay chúc tụng gã, còn Billson thì bị la ó dữ dội, không được cất lên dù chỉ một lời. Chủ tọa nện búa côm cộp liên hồi, miệng không ngừng gào:
“Nhưng chúng ta hãy tiếp tục, thưa các vị, hãy tiếp tục nào!”
Cuối cùng thì hội trường cũng tạm yên ắng lại chút đỉnh, gã thợ làm mũ lên tiếng:
“Nhưng còn gì để tiếp tục nữa thưa ông, ngoài việc trao tiền ra?”
Nhiều tiếng gào: “Đúng thế! Đúng thế! Bước lên đây, Wilson!”
Gã thợ làm mũ: “Tôi đề nghị hoan hô ba lần cho ông Wilson, Biểu tượng của đức hạnh đặc biệt mà—”
Tiếng hoan hô bùng nổ trước khi gã kịp nói hết câu; và giữa những tiếng hò reo đó—cùng tiếng búa nện chát chát của Chủ tọa—vài kẻ quá khích đã công xô Wilson lên vai một gã bạn to con và định khiêng gã lên bục phát biểu trong chiến thắng. Tiếng của Chủ tọa lúc này cất cao át cả tiếng ồn:
“Trật tự! Về chỗ cũ! Các vị quên rằng vẫn còn một tài liệu chưa đọc à.” Khi trật tự được khôi phục, ông ta cầm tài liệu lên định đọc, nhưng rồi lại đặt xuống và nói: “Tôi quên mất; cái này không được đọc cho đến khi tất cả các thư từ tôi nhận được đã được đọc xong.” Ông ta móc một phong bì từ túi ra, rút tờ giấy bên trong, liếc qua—vẻ mặt bàng hoàng—cầm tờ giấy ra xa rồi giố mắt nhìn—dán mắt vào đó.
Hai ba mươi tiếng gào lên:
“Cái gì thế? Đọc đi! Đọc đi!”
Và ông ta đọc—chậm rãi và ngơ ngác:
“‘Lời tôi đã nói với gã người lạ—(Mấy tiếng gào: “Alo! Cái quái gì thế này?”)—là thế này: “Anh còn lâu mới là một kẻ xấu. (Mấy tiếng gào: “Trời đất ơi!”) Đi đi và làm lại cuộc đời.”’ (Một tiếng gào: “Ôi cưa chân tôi đi cho rồi!”) Ký tên: Ông Pinkerton, giám đốc ngân hàng.”
Cơn bão phấn khích bùng nổ lúc này đủ làm cho mấy gã tỉnh táo nhất cũng phải khóc thầm. Những kẻ không liên quan thì cười đến chảy cả nước mắt; lũ phóng viên vừa cười sặc sụa vừa chép ngoáy mấy ký tự ngoằn ngoèo mà có sống lại cũng chẳng ai luận ra nổi; một con chó đang ngủ nhảy dựng lên vì giật mình tột độ, rồi sủa điên dại vào cái không khí hỗn loạn đó. Đủ loại tiếng gào thét văng ra khắp đám đông: “Chúng ta giàu to rồi—HAI Biểu tượng Liêm chính nhé!—chưa tính Billson đâu đấy!” “BA gã rồi!—tính cả gã Bụng Phệ vào nữa—càng đông càng vui!” “Được rồi—Billson trúng cử rồi!” “Tội nghiệp Wilson quá! Nạn nhân của HAI kẻ trộm!”
Một Tiếng Gào Đầy Uy Lực: “Trật tự! Chủ tọa lại móc ra được cái gì nữa từ túi kìa.”
Mấy tiếng gào: “Hô ra! Có gì mới không? Đọc đi! Đọc đi!”
Chủ tọa (đọc): “‘Lời tôi đã nói,’ vân vân. ‘Anh còn lâu mới là một kẻ xấu. Đi đi,’ vân vân. Ký tên: ‘Gregory Yates.’”
Cơn bão Tiếng Gào: “BỐN Biểu tượng!” “Hồ reo cho Yates nào!” “Câu tiếp đi!”
Cả hội trường lúc này đang khoái chí đến tột cùng, sẵn sàng xả giàn để tận hưởng mọi niềm vui từ cái dịp này. Vài gã trong nhóm Mười Chín, mặt mày xanh lét và rầu rĩ, đứng dậy định lách ra phía lối đi, nhưng cả chục tiếng gào vang lên:
“Chặn cửa lại, chặn cửa lại—khóa cửa vào; không gã Liêm chính nào được rời khỏi đây hết! Ngồi xuống hết cho tớ!” Mệnh lệnh lập tức được thi hành.
“Câu tiếp đi! Đọc đi! Đọc đi!”
Chủ tọa lại thò tay câu tiếp, và một lần nữa mấy từ quen thuộc lại rơi ra từ miệng ông ta—“‘Anh còn lâu mới là một kẻ xấu—’”
“Tên! Tên! Gã tên gì?”
“‘L. Ingoldsby Sargent.’”
“NĂM gã trúng cử! Chất đống các Biểu tượng lên nào! Tiếp tục, tiếp tục đi!”
“‘Anh còn lâu mới là một kẻ xấu—’”
“Tên! Tên!”
“‘Nicholas Whitworth.’”
“Hô rai! Hô rai! Đúng là một ngày mang tính biểu tượng!”
Có gã nào đó chen ngang vào và bắt đầu hát cái vần điệu này (bỏ từ “đó” đi) theo điệu nhạc “Mikado” dễ thương của bài “When a man’s afraid of a beautiful maid”; đám đông hào hứng hát theo; rồi đúng lúc đó, một kẻ khác bèn bồi thêm một câu—
“Và các chú đừng có quên cái này—”
Cả hội trường gầm lên hát tiếp. Một câu thứ ba lập tức được cung cấp—
“Lũ Bại hoại ở xa Hadleyburg thì—”
Hội trường lại gầm lên câu đó. Khi nốt nhạc cuối cùng vừa dứt, giọng của Jack Halliday vang lên cao vút và trong trẻo, mang theo câu kết quyết định—
“Nhưng các Biểu tượng thì ở ngay đây, cá chắc luôn!”
Câu đó được hát lên với sự nhiệt huyết bùng nổ. Thế là cái hội trường vui vẻ ấy lại bắt đầu từ đầu và hát lại cả bốn câu hai lần liền, với khí thế bùng nổ dữ dội, rồi kết thúc bằng một trận hô ba-lần-ba chấn động và một tiếng gầm hổ dành cho “Hadleyburg Liêm chính cùng mười tám biểu tượng immortal của nó mà chúng ta sẽ tìm thấy đêm nay để gắn nhãn hiệu xịn.”
Rồi tiếng gào thét đòi Chủ tọa lại bắt đầu khắp nơi:
“Tiếp tục đi! Tiếp tục đi! Đọc nữa đi! Đọc hết mấy cái ông có ra đi!”
“Đúng đấy—tiếp đi! Chúng ta sắp danh tiếng muôn đời rồi!”
Cả chục gã lúc này đứng dậy bắt đầu phản đối. Họ bảo cái trò hề này là tác phẩm của một gã đùa giỡn mất nết nào đó, và là một sự xúc phạm đến toàn thể cộng đồng. Không còn nghi ngờ gì nữa, mấy chữ ký này đều là giả mạo—
“Ngồi xuống! Ngồi xuống! Câm mồm lại! Các chú đang tự thú đấy à. Tẹo nữa thế nào chả thấy tên các chú trong đống đó.”
“Thưa Chủ tọa, ông còn bao nhiêu cái phong bì loại đó nữa?”
Chủ tọa đếm đếm.
“Tính cả những cái đã kiểm tra, tổng cộng có mười chín cái.”
Một cơn bão pháo tay giễu cợt bùng nổ.
“Có khi tất cả đều chứa bí mật đấy. Tôi đề nghị ông mở hết ra và đọc sạch từng chữ ký dán trên mấy cái thư loại đó—và đọc luôn tám từ đầu tiên của tờ thư.”
“Tán thành đề nghị!”
Đề nghị được đưa ra và thông qua—trong tiếng hò reo vang trời. Thế rồi ông lão Richards tội nghiệp đứng dậy, và bà vợ ông cũng đứng dậy bên cạnh. Đầu bà cúi gập xuống để không ai thấy bà đang khóc. Người chồng đưa tay cho bà tựa vào, rồi bắt đầu nói bằng cái giọng run rẩy:
“Các bạn của tôi, các vị đã biết hai vợ chồng tôi—Mary và tôi—cả đời này, và tôi nghĩ các vị luôn quý mến và kính trọng chúng tôi—”
Chủ tọa ngắt lời ông:
“Cho phép tôi. Đúng như thế—những gì ông đang nói vô cùng chính xác, thưa ông Richards; cái thị trấn này BẠN biết hai vợ chồng ông; nó RẤT THÍCH hai vợ chồng ông; nó RẤT KÍNH TRỌNG hai vợ chồng ông; hơn thế nữa—nó tôn vinh và YÊU QUÝ hai vợ chồng ông—”
Giọng Halliday lại vang lên:
“Đó cũng là sự thật có nhãn hiệu xịn đấy! Nếu Chủ tọa nói đúng, cả nhà lên tiếng xác nhận cái nào. Đứng dậy! Nào, bắt đầu—híp! híp! híp!—tất cả cùng hò nào!”
Cả hội trường đứng bật dậy như một khối, háo hức quay về phía cặp vợ chồng già, làm náo nhiệt không khí bằng một trận mưa khăn tay vẫy loạn xạ, rồi tung ra những tiếng hoan hô bằng tất cả sự yêu thương trong lòng.
Chủ tọa sau đó tiếp tục:
“Những gì tôi định nói là thế này: Chúng tôi biết tấm lòng tốt đồ của ông, ông Richards, nhưng đây không phải là lúc để rủ lòng vị tha với lũ phạm tội. (Mấy tiếng gào ‘Đúng đấy! Đúng đấy!’) Tôi thấy mục đích cao đẹp của ông hiện rõ trên mặt, nhưng tôi không thể để ông xin xỏ cho mấy gã này được—”
“Nhưng tôi định—”
“Làm ơn ngồi xuống thưa ông Richards. Chúng ta phải kiểm tra nốt đống thư này—sự công bằng tối thiểu dành cho những gã đã bị vạch mặt đòi hỏi điều đó. Ngay khi xong việc—tôi xin lấy danh dự bảo đảm—ông sẽ được phát biểu.”
Nhiều tiếng gào: “Đúng đấy!—Chủ tọa nói chuẩn đấy—không xen ngang vào lúc này được! Tiếp đi!—Tên đâu! Tên đâu!—theo đúng nội dung đề nghị!”
Cặp vợ chồng già đành ngậm ngùi ngồi xuống, ông chồng thì thầm với bà vợ: “Thật là đau đớn khi phải chờ đợi; sự nhục nhã sẽ còn lớn hơn gấp bội khi họ phát hiện ra chúng ta chỉ định xin xỏ cho CHÍNH MÌNH.”
Ngay lập tức, không khí vui vẻ lại bùng nổ trở lại với việc đọc các cái tên.
“‘Anh còn lâu mới là một kẻ xấu—’ Ký tên, ‘Robert J. Titmarsh.’”
“‘Anh còn lâu mới là một kẻ xấu—’ Ký tên, ‘Eliphalet Weeks.’”
“‘Anh còn lâu mới là một kẻ xấu—’ Ký tên, ‘Oscar B. Wilder.’”
Đến lúc này, hội trường nảy ra ý định cướp lấy tám từ đó khỏi tay Chủ tọa. Ông ta cũng chẳng dại gì mà từ chối. Từ đó trở đi, ông ta cứ giơ từng mảnh giấy lên rồi chờ. Cả hội trường cùng nhau ngân nga tám từ đó thành một khối âm thanh trầm hùng, có nhịp điệu và vang vọng (nghe giống đến rợn người với một bài thánh ca quen thuộc ở nhà thờ)—“Anh c-ò-n l-â-u mới là một k-ẻ x-ấ-u.” Rồi Chủ tọa nói, “Ký tên, ‘Archibald Wilcox.’” Và cứ thế, cứ thế, hết tên này đến tên khác, và ai nấy đều có một khoảng thời gian vui vẻ tăng tiến đến mức tuyệt vời, ngoại trừ mười chín kẻ khốn khổ. Thỉnh thoảng, khi một cái tên đặc biệt cộm cán được xướng lên, hội trường lại bắt Chủ tọa chờ để họ xướng lên toàn bộ câu trắc nghiệm từ đầu đến tận mấy từ cuối cùng, “Và đi xuống địa ngục hoặc về Hadleyburg—cố mà chọn cái t-r-ư-ớ-c đi!” và trong mấy trường hợp đặc biệt này, họ còn bồi thêm một tiếng “A-a-a-a-MEN!” cực kỳ hoành tráng, đau đớn và uy nghiêm.
Danh sách cứ vơi dần, vơi dần, vơi dần, ông lão Richards tội nghiệp cứ đếm nhẩm từng tên, giật thót người mỗi khi một cái tên gần giống tên mình được xướng lên, và chờ đợi trong sự phập phồng đau đớn cho đến thời điểm ông được hưởng cái đặc quyền nhục nhã là đứng dậy cùng Mary để hoàn thành lời thỉnh cầu của mình, cái lời thỉnh cầu mà ông định phát biểu thế này: “... vì cho đến tận bây giờ chúng tôi chưa từng làm điều gì sai trái, mà luôn đi theo con đường khiêm nhường của mình không ai chê trách. Chúng tôi rất nghèo, chúng tôi đã già, và chẳng có mụn con nào để nương tựa; chúng tôi đã bị cám dỗ quá đỗi, và chúng tôi đã gục ngã. Ý định của tôi khi đứng dậy lúc nãy là để thú tội và xin đừng đọc tên tôi ra ở cái nơi công cộng này, vì chúng tôi thấy mình không thể chịu đựng nổi; nhưng tôi đã bị ngăn lại. Thật là công bằng; chúng tôi phải chịu đựng cùng với những kẻ khác. Thật khó khăn cho chúng tôi. Đây là lần đầu tiên chúng tôi nghe thấy tên mình rơi ra từ miệng ai đó—bị vấy bẩn. Xin hãy rủ lòng thương—vì những ngày tháng tốt đẹp trước đây; xin hãy làm cho sự nhục nhã của chúng tôi nhẹ bớt đi phần nào trong sự vị tha của các vị.” Đến đây trong dòng suy nghĩ của mình, Mary nhẹ nhàng húc vào người ông, nhận ra trí óc ông đang để đi đâu mất. Hội trường đang xướng lên, “Anh c-ò-n l-â-u,” vân vân.
“Chuẩn bị đi,” Mary thì thầm. “Tới tên ông rồi đấy; gã đã đọc được mười tám tên rồi.”
Tiếng xướng kết thúc.
“Tiếp theo! Tiếp theo! Tiếp theo!” tiếng gào thét bắn ra tới tấp từ khắp hội trường.
Burgess thò tay vào túi. Cặp vợ chồng già, run rẩy, bắt đầu đứng dậy. Burgess mò mẫm một lúc rồi nói:
“Tôi thấy là tôi đã đọc hết sạch rồi.”
Ngất ngây vì vui mừng và kinh ngạc, cặp vợ chồng gục xuống ghế, và Mary thì thầm:
“Ôi, tạ ơn Chúa, chúng ta sống rồi!—gã làm mất thư của chúng ta rồi—tôi đếch đổi lấy một trăm cái bao tải tiền này đâu!”
Hội trường lại bùng nổ với bản nhại bài “Mikado”, và hát nó tới ba lần với sự hào hứng mỗi lúc một tăng, đứng bật dậy khi hát đến câu cuối cùng lần thứ ba—
“Nhưng các Biểu tượng thì ở ngay đây, cá chắc luôn!”
và kết thúc bằng tiếng hoan hô và một tiếng gầm hổ dành cho “sự trong sạch của Hadleyburg và mười tám đại diện immortal của nó.”
Rồi Wingate, gã thợ làm yên ngựa, đứng dậy đề xuất hoan hô “cho người trong sạch nhất thị trấn, công dân cộm cán duy nhất không tìm cách chôm chỉa cái đống tiền đó—Edward Richards.”
Tiếng hoan hô vang lên với sự chân thành và cảm động sâu sắc; rồi có kẻ đề xuất “bầu Richards làm Người Giám hộ và Biểu tượng duy nhất cho Truyền thống Hadleyburg Linh thiêng giờ đây, với đầy đủ thẩm quyền và quyền hạn để đứng thẳng lưng nhìn thẳng vào mặt cả cái thế giới đầy mỉa mai này.”
Thông qua bằng sự tung hô; rồi họ lại hát bài “Mikado” lần nữa, và kết thúc bằng—
“Và còn lại một Biểu tượng duy nhất, cá chắc luôn!”
Có một khoảng lặng; rồi—
Một Tiếng Gào: “Nào, giờ gã nào sẽ lấy cái bao tải tiền đây?”
Gã thuộc da (với sự mỉa mai cay đắng): “Dễ ợt. Tiền phải được chia đều cho mười tám gã Liêm chính chứ sao. Họ đã cho gã người lạ bị nạn mỗi người hai mươi đô—với cái câu nói đó—mỗi gã một lượt—mất tới hai mươi hai phút để cái đoàn diễu hành đó đi qua mà. Đặt cược cho gã người lạ—tổng cộng đóng góp là 360 đô. Họ chỉ muốn đòi lại khoản cho vay—cộng cả lãi—tổng cộng là bốn mươi ngàn đô thôi mà.”
Nhiều Tiếng Gào (giễu cợt): “Đúng đấy! Chia đi! Chia đi! Hãy tốt với kẻ nghèo—đừng để họ chờ lâu!”
Chủ tọa: “Trật tự! Tôi xin đưa ra văn bản còn lại của gã người lạ. Nó viết thế này: ‘Nếu không có người nộp đơn đòi tiền (một tràng thở dài gầm rống hoành tráng), tôi muốn các vị mở bao tải ra và đếm tiền trao cho các công dân cộm cán nhất của thị trấn, để họ giữ quyền ủy thác (Mấy tiếng gào “Ôi! Ôi! Ôi!”), và sử dụng nó theo những cách mà họ thấy tốt nhất cho việc quảng bá và bảo tồn danh tiếng cao quý về sự trung thực liêm chính của cộng đồng các vị (thêm nhiều tiếng gào nữa)—một danh tiếng mà tên tuổi và nỗ lực của họ sẽ bổ sung thêm một luồng sáng mới và vươn xa.’ (Cơn bão pháo tay mỉa mai bùng nổ nhiệt liệt.) Hình như chỉ có thế thôi. Không—ở đây có một tái bút:”
“‘T.B.—CÁC CÔNG DÂN HADLEYBURG: Chẳng CÓ câu trắc nghiệm nào hết—chẳng ai thốt ra câu đó cả. (Chấn động lớn.) Chẳng có gã người lạ nghèo khổ nào hết, cũng chẳng có khoản đóng góp hai mươi đô nào, cũng chẳng có lời chúc phúc hay khen ngợi kèm theo—tất cả đều là bịa đặt. (Tiếng xì rầm và tiếng ồ kinh ngạc lẫn khoái chí chung.) Cho phép tôi kể câu chuyện của mình—chỉ mất vài từ thôi. Tôi có đi qua thị trấn của các vị vào một thời điểm nọ, và nhận một sự xúc phạm nặng nề mà tôi chẳng hề đáng bị. Bất kỳ gã nào khác cũng sẽ hài lòng với việc kết liễu một hai gã trong các vị rồi coi như xong nợ, nhưng với tôi đó là một trò trả thù tầm thường và không đủ tầm; vì kẻ chết rồi thì đếch BẠN ĐƯỢC ĐAU ĐỔI nữa. Với lại tôi cũng chẳng thể giết sạch tất cả các vị—và dù sao đi nữa, với cái bản tính của tôi, ngay cả cái trò đó cũng chẳng làm tôi thỏa mãn. Tôi muốn làm tổn hại đến mọi gã đàn bà và mọi gã đàn ông ở cái nơi này—và không phải về thân xác hay tài sản, mà là về sự sĩ diện của họ—cái nơi mà những kẻ yếu đuối và ngu ngốc dễ bị tổn thương nhất. Thế là tôi cải trang quay lại và nghiên cứu các vị. Các vị là những con mồi quá dễ xơi. Các vị có một danh tiếng lâu đời và cao quý về sự trung thực, và dĩ nhiên các vị tự hào về nó—nó là kho báu của các kho báu, là con ngươi trong mắt các vị. Ngay khi tôi phát hiện ra các vị luôn cẩn thận và cảnh giác giữ cho bản thân và con cái MÌNH TRÁNH XA CÁM DỖ, tôi đã biết phải làm gì. Ôi giời ơi, lũ sinh vật ngây thơ các vị ơi, thứ yếu đuối nhất trong tất cả các thứ yếu đuối chính là một đức hạnh chưa từng bị tôi luyện qua lửa đỏ. Tôi lên một kế hoạch, và thu thập một danh sách các cái tên. Dự án của tôi là làm hủ hóa Hadleyburg Liêm chính. Ý tưởng của tôi là biến gần năm mươi gã đàn ông và đàn bà chưa từng vấy bẩn, những kẻ cả đời chưa từng thốt ra một lời dối trá hay chôm chỉa một xu, thành lũ lừa đảo và trộm cắp. Tôi từng sợ Goodson. Gã không sinh ra cũng chẳng lớn lên ở Hadleyburg. Tôi sợ rằng nếu tôi bắt đầu vận hành kế hoạch bằng cách để cái thư của tôi trước mặt các vị, các vị sẽ tự bảo nhau, “Goodson là gã duy nhất trong chúng ta lại đi cho một gã khốn khổ hai mươi đô”—và thế là các vị đếch mắc bẫy của tôi. Nhưng ông trời đã cướp mất Goodson; lúc đó tôi biết mình đã an toàn, và tôi giăng bẫy rồi thả mồi. Có thể tôi sẽ không bắt bài được tất cả những gã mà tôi gửi bí mật trắc nghiệm giả, nhưng tôi sẽ bắt được hầu hết bọn họ, nếu tôi biết rõ cái bản tính của dân Hadleyburg. (Mấy tiếng gào: “Đúng đấy—gã tóm sạch đếch sót một ai.”) Tôi tin rằng bọn họ thậm chí sẽ chôm chỉa cả tiền CỜ BẠC rõ mùng một, còn hơn là bỏ lỡ cơ hội, lũ khốn khổ, bị cám dỗ và giáo dục sai lầm kia. Tôi hy vọng sẽ dập tắt vĩnh viễn và mãi mãi sự sĩ diện của các vị và mang lại cho Hadleyburg một danh tiếng mới—một danh tiếng sẽ DÍNH CHẶT—và lan xa. Nếu tôi thành công, hãy mở bao tải ra và triệu tập Ủy ban Quảng bá và Bảo tồn Danh tiếng Hadleyburg.’”
Một Cơn Bão Tiếng Gào: “Mở ra! Mở ra! Mười Tám gã lên hàng đầu nào! Ủy ban Quảng bá Truyền thống! Tiến lên—lũ Liêm chính!”
Chủ tọa rạch xé cái bao tải ra, vốc một vốc đồng xu to đùng, vàng ươm, lắc lắc chúng vào nhau, rồi kiểm tra.
“Các bạn ơi, chúng chỉ là mấy miếng chì mạ vàng thôi!”
Một trận bùng nổ phấn khích chấn động diễn ra trước tin này, và khi tiếng ồn đã lắng xuống, gã thuộc da gào lên:
“Theo quyền thâm niên hiển nhiên trong cái phi vụ này, ông Wilson là Chủ tịch Ủy ban Quảng bá Truyền thống. Tôi đề xuất gã bước lên đại diện cho lũ cạ cứng của gã để nhận tiền ủy thác nhé.”
Một Trăm Tiếng Gào: “Wilson! Wilson! Wilson! Phát biểu đi! Phát biểu đi!”
Wilson (với giọng run rẩy vì giận dữ): “Cho phép tôi nói một câu, và không cần xin lỗi về ngôn từ của mình, ĐÁM TIỀN NÀY NHƯ CỨT!”
Một Tiếng Gào: “Ồ, gã lại còn là tín đồ Baptist cơ đấy!”
Một Tiếng Gào: “Còn lại mười bảy Biểu tượng! Mời các vị bước lên nhận trọng trách đi chứ!”
Có một khoảng lặng—không ai hồi đáp.
Gã thợ làm yên ngựa: “Thưa Chủ tọa, dù sao chúng ta vẫn còn MỘT gã sạch sẽ duy nhất còn lại từ cái tầng lớp quý tộc vừa rồi; và gã cần tiền, và gã xứng đáng nhận nó. Tôi đề nghị ông chỉ định Jack Halliday bước lên đó đấu giá cái bao tải mấy miếng chì mạ vàng hai mươi đô đó, rồi đưa tiền thu được cho đúng gã—người mà Hadleyburg vô cùng tôn vinh—Edward Richards.”
Đề xuất này được đón nhận với sự hào hứng nồng nhiệt, con chó lại tham gia một tay; gã thợ làm yên ngựa mở màn mức giá một đô, dân Brixton và đại diện của Barnum chiến nhau kịch liệt để giành lấy nó, thiên hạ reo hò theo mỗi bước nhảy của mức giá, sự phấn khích leo thang từng phút từng giây, những kẻ đấu giá nổi máu chiến và ngày càng hăng máu, ngày càng quyết tâm, giá nhảy từ một đô lên năm, rồi mười, rồi hai mươi, rồi năm mươi, rồi một trăm, rồi—
Ngay từ đầu buổi đấu giá, Richards đã thì thầm trong sự đau đớn với vợ: “Ôi, Mary, chúng ta có thể chấp nhận cái này được không? Nó—nó—bà thấy đấy, nó là một vinh dự—phần thưởng, một sự chứng nhận cho nhân cách trong sạch, và—và—chúng ta có thể chấp nhận nó không? Tôi có nên đứng dậy và—Ôi, Mary, chúng ta nên làm gì đây?—bà nghĩ chúng ta—” (Giọng Halliday: “Mười lăm đô được trả!—mười lăm đô cho cái bao tải!—hai mươi!—ô, cảm ơn!—ba mươi—lại cảm ơn! Ba mươi, ba mươi, ba mươi!—có ai trả bốn mươi không?—bốn mươi đây rồi! Tiếp tục đẩy bóng đi các vị, tiếp tục nào!—năm mươi!—cảm ơn, vị La Mã cao quý!—bán với giá năm mươi, năm mươi, năm mươi!—bảy trăm!—chín trăm!—tuyệt vời!—mội trăm!—chất đống lên, chất đống lên!—một trăm hai mươi—bốn mươi!—vừa kịp lúc!—một trăm năm mươi!—Hai trăm!—xuất sắc! Có ai trả hai h—cảm ơn!—hai trăm năm mươi!—“)
“Đó lại là một sự cám dỗ nữa đấy, Edward—tôi run hết cả người rồi—nhưng, ôi, chúng ta đã thoát khỏi một sự cám dỗ rồi, và điều đó phải cảnh báo chúng ta chứ, để—(‘Sáu trăm có phải không ạ?—cảm ơn!—sáu trăm năm mươi, sáu f—BẢY trăm!’) Nhưng mà, Edward, khi ông nghĩ xem—chẳng ai nghi ngờ—(‘Tám trăm đô!—hô rai!—lên chín trăm đi!—Ông Parsons, tôi có nghe ông nói—cảm ơn!—chín trăm!—cái bao tải chì nguyên chất cao quý này đang được bán với giá chỉ chín trăm đô, cả mạ vàng luôn—nào! có ai—một ngàn!—xin chân thành cảm ơn!—có ai vừa nói mười một trăm không?—một cái bao tải sắp trở nên nổi tiếng nhất trong toàn thể Vũ tr—“) Ôi, Edward (bắt đầu nức nở), chúng mình nghèo quá!—nhưng—nhưng—ông cứ làm gì ông thấy tốt nhất đi—làm gì ông thấy tốt nhất đi.”
Edward đã gục ngã—nghĩa là, ông ngồi yên; ngồi với một lương tâm không hề thỏa mãn, nhưng đã bị hoàn cảnh đè bẹp hoàn toàn.
Trong khi đó, một gã người lạ, trông như một thám tử nghiệp dư cải trang thành một bá tước Anh quốc dỏm, đã theo dõi diễn biến buổi tối với sự hứng thú rõ rệt, và với một vẻ mặt mãn nguyện; gã đã tự bình luận thầm trong đầu. Giờ gã đang tự thoại đại loại thế này: ‘Đếch có gã nào trong Mười Tám gã tham gia đấu giá; thế là đếch ổn rồi; mình phải thay đổi điều đó—tính thống nhất của kịch bản đòi hỏi thế; chúng phải mua cái bao tải mà chúng đã định chôm; chúng phải trả một cái giá đắt—vài gã trong số đó giàu khụ. Và một điều nữa, khi mình phạm sai lầm về cái bản tính của dân Hadleyburg thì cái kẻ đã cho mình thấy sai lầm đó đáng được nhận một khoản thù lao hậu hĩnh, và phải có kẻ trả tiền. Gã Richards già tội nghiệp này đã làm mình phải xấu hổ về sự đánh giá của mình; gã là một người trung thực:—mình đếch hiểu được, nhưng mình công nhận. Đúng thế, gã đã bắt bài đôi hai của mình—VÀ bằng một sảnh chúa, và theo lẽ công bằng thì cái hũ tiền thuộc về gã. Và nó sẽ là một cái hũ tích lũy to đùng, nếu mình đạo diễn được. Gã làm mình thất vọng, nhưng thôi bỏ qua.’
Gã đang theo dõi cuộc đấu giá. Ở mức một ngàn, thị trường bị vỡ: giá tụt không phanh. Gã chờ—và vẫn theo dõi. Một đối thủ bỏ cuộc; rồi gã khác, rồi gã nữa. Giờ gã mới xì ra một hai mức giá. Khi giá đã tụt xuống mười đô, gã cộng thêm một tờ năm đô; có kẻ nâng gã lên ba đô; gã chờ một nhịp, rồi phang ngay một bước nhảy năm mươi đô, và cái bao tải đã thuộc về gã—ở mức $1.282. Cả hội trường bùng nổ trong tiếng hoan hô—rồi dừng lại; vì gã đã đứng dậy và giơ tay lên. Gã bắt đầu phát biểu.
“Tôi muốn nói một lời, và xin một ân huệ. Tôi là một kẻ đầu cơ đồ hiếm, và tôi có làm ăn với những người quan tâm đến tiền cổ trên toàn thế giới. Tôi có thể kiếm lời từ khoản mua này, nguyên trạng như thế này; nhưng có một cách, nếu tôi nhận được sự đồng ý của các vị, giúp tôi làm cho mỗi miếng chì mạ vàng hai mươi đô này đáng giá đúng bằng mệnh giá bằng vàng của nó, và có thể còn hơn thế. Hãy trao cho tôi sự đồng ý đó, và tôi sẽ chia một phần lợi nhuận cho ông Richards của các vị, người mà sự liêm chính tuyệt đối của ông đã được các vị công nhận một cách rất chính đáng và nhiệt thành đêm nay; phần của ông ấy sẽ là mười ngàn đô, và tôi sẽ tận tay giao tiền cho ông ấy vào ngày mai. (Tiếng pháo tay lớn từ hội trường. Nhưng cụm từ ‘sự liêm chính tuyệt đối’ làm hai vợ chồng Richards đỏ mặt tía tai; tuy nhiên thiên hạ lại tưởng là khiêm tốn nên chẳng sao cả.) Nếu các vị thông qua đề xuất của tôi với đa số tuyệt đối—tôi muốn có hai phần ba số phiếu—tôi sẽ coi đó là sự đồng ý của thị trấn, và đó là tất cả những gì tôi yêu cầu. Đồ hiếm luôn được hỗ trợ bởi bất kỳ chiêu trò nào gây ra sự tò mò và ép thiên hạ phải bàn tán. Giờ đây nếu tôi có được sự cho phép của các vị để dập lên mặt mỗi đồng xu mạ vàng này tên của mười tám vị quý ông—”
Chín phần mười khán phòng đứng bật dậy trong chớp mắt—con chó cũng đứng dậy—và đề xuất được thông qua với một trận bão pháo tay tán thưởng và tiếng cười rần rần.
Họ ngồi xuống, và tất cả các Biểu tượng trừ “Bác sĩ” Clay Harkness đứng dậy, phản đối kịch liệt cái trò xúc phạm dự kiến đó, và dọa sẽ—
“Tôi xin các vị đừng dọa tôi,” gã người lạ thản nhiên nói. “Tôi biết rõ quyền lợi pháp lý của mình, và tôi đếch quen bị đe dọa bởi mấy trò to mồm.” (Pháo tay.) Gã ngồi xuống. “Bác sĩ” Harkness nhận ra một cơ hội ở đây. Gã là một trong hai kẻ cực kỳ giàu có của cái nơi này, và Pinkerton là kẻ còn lại. Harkness là chủ một cơ sở sản xuất; nghĩa là một loại thuốc gia truyền ăn khách. Gã đang chạy đua vào Nghị viện trên một tấm vé, còn Pinkerton trên tấm vé khác. Đó là một cuộc đua sát nút và nóng rực, và ngày càng nóng hơn mỗi ngày. Cả hai đều có cơn thèm tiền dữ dội; mỗi gã đã mua một khu đất lớn với một mục đích; sắp có một tuyến đường sắt mới, và mỗi gã đều muốn vào Nghị viện để giúp đặt tuyến đường có lợi cho mình; một phiếu bầu duy nhất có thể quyết định, và kéo theo đó là hai hoặc ba cơ đồ. Ván bài rất lớn, và Harkness là một kẻ đầu cơ táo tợn. Gã đang ngồi gần gã người lạ. Gã ghé sang trong khi gã này gã kia trong số các Biểu tượng khác đang đãi hội trường bằng mấy lời phản đối và thỉnh cầu, rồi hỏi nhỏ bằng một tiếng thì thầm:
“Giá của ông cho cái bao tải là bao nhiêu?”
“Bốn mươi ngàn đô.”
“Tôi trả ông hai mươi.”
“Không.”
“Hai mươi lăm.”
“Không.”
“Ba mươi nhé.”
“Giá là bốn mươi ngàn đô; không bớt một xu.”
“Được rồi, tôi trả. Tôi sẽ đến khách sạn lúc mười giờ sáng mai. Tôi không muốn chuyện này lộ ra; sẽ gặp ông riêng.”
“Rất tốt.” Rồi gã người lạ đứng dậy bảo với hội trường:
“Tôi thấy đã muộn rồi. Bài phát biểu của các vị đây không phải là không có giá trị, không phải là không có sự hứng thú, không phải là không có sự duyên dáng; tuy nhiên nếu được phép tôi xin cáo lui. Cảm ơn các vị vì ân huệ lớn lao đã dành cho tôi khi chấp thuận đơn xin của tôi. Tôi đề nghị Chủ tọa giữ bao tải cho tôi cho đến sáng mai, và trao ba tờ năm trăm đô này cho ông Richards.” Chúng được chuyển lên cho Chủ tọa.
“Lúc chín giờ tôi sẽ đến lấy bao tải, và lúc mười một giờ sẽ trao nốt phần còn lại của mười ngàn đô cho cá nhân ông Richards tại nhà ông ấy. Chúc một đêm tốt lành.”
Sau đó gã lách ra ngoài, để lại hội trường đang tạo ra một tiếng ồn khổng lồ, bao gồm một hỗn hợp của tiếng hoan hô, bài hát “Mikado”, tiếng con chó phản đối, và tiếng xướng, “Anh c-ò-n l-â-u mới là một k-ẻ x-ấ-u—a-a-a a-men!”