Người làm vấy bẩn Hadleyburg và những truyện khác

Lượt đọc: 118 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHIẾN DỊCH QUÂN SỰ CỦA TÔI

❊ ❊ ❊

Các ông đã nghe đủ loại chuyện từ khối người đã làm nên cái gọi là "chiến công" trong cuộc chiến rồi đấy; thế thì chẳng lẽ không công bằng và hợp lý sao khi các ông dành chút thời gian lắng nghe một kẻ cũng xách súng lên đường định làm nên trò trống gì đó, nhưng rốt cuộc lại… chẳng làm được cái quái gì cả? Hàng ngàn người đã nhập ngũ, nếm trải mùi vị chiến tranh một chút rồi tót ra ngoài, vĩnh viễn không quay lại. Xét về số lượng, đám này cũng đáng gờm phết, nên chúng nó cũng có quyền được cất tiếng—không phải tiếng thét oai hùng, mà là tiếng lầm bầm khiêm tốn; không phải để khoe khoang, mà là để phân bua. Tôi công nhận là cái đám này không nên được dành quá nhiều chỗ giữa những bậc "hảo hán" thực sự—những kẻ đã làm nên nghiệp lớn—nhưng ít nhất, chúng cũng phải được phép trình bày lý do tại sao chúng lại chẳng làm nên trò trống gì, cũng như giải thích cái quy trình mà chúng đã dùng để không làm gì cả. Chắc chắn cái loại "sự thật" này cũng phải có giá trị của nó chứ.

Ở miền Tây, trong những tháng đầu của cái rắc rối lớn lao ấy, tâm trí người ta rối như tơ vò—chao đảo, nghiêng bên nọ, ngả bên kia, rồi lại xoay chiều. Chúng tôi khó mà định hướng được cho mình. Tôi còn nhớ một ví dụ điển hình. Hồi đó tôi đang lái tàu trên sông Mississippi thì tin tức bay đến: Nam Carolina đã tách khỏi Liên bang vào ngày 20 tháng 12 năm 1860. Bạn lái tàu cùng tôi là một tay người New York. Hắn cực kỳ ủng hộ Liên bang; tôi cũng thế. Nhưng hắn chẳng bao giờ thèm nghe tôi nói một cách tử tế; trong mắt hắn, lòng trung thành của tôi đã bị hoen ố vì cha tôi từng sở hữu nô lệ. Để gỡ gạc cho cái sự thật đen tối này, tôi có kể rằng mình từng nghe cha nói, vài năm trước khi ông qua đời, rằng nô lệ là một cái sai lầm tai hại, và nếu không phải vì gia cảnh túng quẫn, không thể đem của cải của gia đình ra cho không biếu không như thế được, thì ông đã giải phóng gã nô lệ duy nhất mình có rồi. Bạn tôi đáp trả rằng mấy cái bốc đồng nhất thời chẳng là cái thá gì—ai mà chẳng giả vờ có ý tốt được; rồi hắn tiếp tục chê bai tư tưởng Liên bang của tôi và bôi tro trát trấu vào tổ tiên tôi. Một tháng sau, bầu không khí ly khai dày đặc hơn hẳn ở vùng Hạ Mississippi, và tôi trở thành quân nổi dậy; hắn cũng vậy. Chúng tôi ở cùng nhau tại New Orleans vào ngày 26 tháng 1, khi Louisiana tách khỏi Liên bang. Hắn gào thét ủng hộ phe nổi dậy hết mình, nhưng lại cay cú không cho tôi làm thế. Hắn bảo tôi thuộc dòng giống xấu xa—con của một lão cha đã định giải phóng nô lệ. Mùa hè năm sau, hắn đang lái một chiếc tàu chiến của phe Liên bang và lại gào thét ủng hộ Liên bang, còn tôi thì ở trong quân đội Liên minh miền Nam. Tôi đang giữ một tờ giấy nợ của hắn. Hắn là một trong những kẻ thẳng thắn nhất mà tôi từng biết; nhưng hắn lật lọng, phủ nhận tờ giấy nợ đó không chút do dự, chỉ vì tôi là quân nổi dậy, là con trai của một kẻ từng sở hữu nô lệ.

Vào mùa hè năm 1861 đó, đợt sóng đầu tiên của chiến tranh ập vào bờ cõi Missouri. Bang của chúng tôi bị quân Liên bang xâm lược. Chúng chiếm đóng St. Louis, Jefferson Barracks và vài địa điểm khác. Thống đốc Claib Jackson ra lệnh triệu tập năm mươi ngàn dân quân để đẩy lùi lũ xâm lược.

Tôi đang ghé thăm thị trấn nhỏ nơi tôi lớn lên—Hannibal, Quận Marion. Vài anh em chúng tôi tụ tập bí mật trong đêm và lập nên một đại đội quân sự. Một gã tên Tom Lyman, một thanh niên khá hăng hái nhưng chẳng có kinh nghiệm quân sự gì sất, được bầu làm đại úy; tôi thì được làm trung úy thứ hai. Chúng tôi chẳng có trung úy thứ nhất; tôi cũng không rõ tại sao, chuyện lâu quá rồi mà. Có tất cả mười lăm thằng. Theo lời khuyên của một kẻ ngây thơ tham gia tổ chức, chúng tôi tự gọi mình là Marion Rangers (Biệt kích Marion). Tôi không nhớ là có ai chê cái tên đó. Bản thân tôi thì không; tôi thấy cái tên nghe khá kêu đấy chứ. Gã thanh niên đề xuất cái tên này có lẽ là hình mẫu chuẩn cho cái loại "nguyên liệu" làm nên chúng tôi. Hắn trẻ, dốt, tốt tính, có ý tốt, tầm thường, đầy mơ mộng hão huyền, khoái đọc tiểu thuyết hiệp sĩ và hát mấy bài tình ca sầu thảm. Hắn có mấy cái bản năng quý tộc mạ niken tội nghiệp, và cực ghét cái tên của mình là Dunlap; ghét nó một phần vì ở vùng đó cái tên này phổ biến chẳng kém gì Smith, nhưng chủ yếu là vì nghe nó hạ đẳng quá. Thế là hắn cố gắng "quý tộc hóa" nó bằng cách viết thành: d’Unlap. Cái đó thì nhìn vừa mắt hắn, nhưng tai hắn vẫn chưa ưng, vì người đời vẫn phát âm cái tên mới theo kiểu cũ—nhấn mạnh vào cái âm đầu. Thế rồi hắn làm một việc can đảm nhất có thể tưởng tượng được—một việc khiến người ta phải rùng mình khi nhớ rằng thiên hạ vốn chúa ghét mấy trò làm màu và giả tạo; hắn bắt đầu viết tên mình là: d’Un Lap. Và hắn kiên nhẫn chờ đợi trong suốt cơn bão bùn đất tạt vào cái tác phẩm nghệ thuật này, để rồi cuối cùng cũng được đền đáp; hắn sống đủ lâu để thấy cái tên đó được chấp nhận, và được nhấn âm đúng chỗ hắn muốn, bởi những người quen biết hắn cả đời, những người mà cái dòng họ Dunlap đã quá quen thuộc như mưa với nắng suốt bốn mươi năm. Cái dũng khí biết chờ đợi mới chắc chắn giành được chiến thắng là vậy đấy. Hắn bảo rằng sau khi tra cứu mấy cuốn biên niên sử Pháp cổ, hắn phát hiện ra tên hắn vốn dĩ phải viết là d’Un Lap; và nếu dịch sang tiếng Anh thì nó có nghĩa là Peterson: Lap, tiếng Latin hoặc Hy Lạp, hắn bảo vậy, có nghĩa là đá hoặc tảng đá, cũng giống như từ Pierre trong tiếng Pháp, nghĩa là Peter; d’ là của hoặc từ; un là một; vì vậy d’Un Lap, có nghĩa là của hoặc từ một tảng đá, hay một gã Peter; nói cách khác, kẻ là con của một tảng đá, con của một gã Peter—Peterson. Đại đội dân quân của chúng tôi không có ai uyên bác, nên lời giải thích đó làm họ rối mù cả lên; thế là họ gọi quách hắn là Peterson Dunlap. Hắn cũng hữu dụng theo cách riêng của mình; hắn đặt tên cho các trại của chúng tôi, và thường thì hắn chọn được cái tên "không tồi chút nào", như lời mấy thằng trong nhóm.

Đó là một ví dụ về chúng tôi. Ví dụ khác là Ed Stevens, con trai gã thợ kim hoàn trong thị trấn—dáng người cân đối, đẹp trai, duyên dáng, sạch sẽ như mèo; thông minh, có học thức, nhưng chỉ khoái mỗi việc đùa nghịch. Với hắn, chẳng có gì trên đời là nghiêm túc cả. Với hắn, cái chuyến phiêu lưu quân sự này chẳng qua chỉ là một kỳ nghỉ. Tôi cho rằng khoảng một nửa số chúng tôi cũng nhìn nhận như vậy; có thể không phải một cách có ý thức, nhưng là vô thức. Chúng tôi chẳng suy nghĩ gì cả; chúng tôi không có khả năng đó. Riêng tôi, tôi thấy sướng âm ỉ vì thoát được cảnh phải bò ra khỏi giường lúc nửa đêm hay bốn giờ sáng, dù chỉ một thời gian ngắn; tôi thấy biết ơn vì có sự thay đổi, những khung cảnh mới, công việc mới, niềm hứng khởi mới. Suy nghĩ của tôi chỉ dừng ở đó; tôi không đi sâu vào chi tiết; thường thì ở tuổi hai mươi lăm, người ta chẳng làm thế.

Một ví dụ nữa là Smith, gã học việc của thợ rèn. Thằng cha to xác đần độn này có chút gan dạ, kiểu lù đù chậm chạp, nhưng lại có trái tim mềm yếu; lúc thì hắn có thể đấm gục một con ngựa chỉ vì nó dở chứng, lúc khác lại nhớ nhà đến phát khóc. Tuy nhiên, hắn có một điểm cộng cuối cùng mà vài người trong chúng tôi không có: hắn kiên trì với cuộc chiến, và cuối cùng thì tử trận.

Jo Bowers, một ví dụ khác, là một gã to xác, tốt bụng, tóc vàng hoe, đờ đẫn; lười biếng, đa cảm, hay khoác lác vô hại, bản tính hay càu nhàu; một kẻ nói dối lão luyện, cần cù, đầy tham vọng và thường rất thú vị, nhưng lại chẳng thành công, vì hắn chẳng được đào tạo bài bản gì, cứ thế mà lớn lên tùy tiện thôi. Cuộc sống này đủ nghiêm túc với hắn, và hiếm khi làm hắn thỏa mãn. Nhưng dù sao hắn cũng là thằng tử tế, nên cả bọn đều quý. Hắn được làm trung sĩ trực ban; Stevens làm hạ sĩ.

Mấy ví dụ này đủ rồi đấy—và chúng là những ví dụ khá điển hình. Chà, cái đàn gia súc này bắt đầu lên đường đi đánh trận. Các ông mong đợi gì ở bọn chúng cơ chứ? Chúng đã làm tốt nhất những gì chúng biết, nhưng thực sự thì người ta có thể kỳ vọng gì vào chúng đây? Chẳng gì cả, tôi cho là vậy. Đó chính xác là những gì chúng đã làm.

Chúng tôi chờ một đêm tối trời, vì sự thận trọng và bí mật là cần thiết; rồi, tầm nửa đêm, chúng tôi lẻn đi từng cặp và từ các hướng khác nhau đến chỗ khu đất của Griffith, phía ngoài thị trấn; từ đó, chúng tôi cùng nhau cuốc bộ. Hannibal nằm ở cực đông nam của Quận Marion, bên sông Mississippi; mục tiêu của chúng tôi là cái làng New London, cách đó mười dặm, thuộc Quận Ralls.

Giờ đầu tiên toàn là đùa giỡn, mấy trò vớ vẩn và tiếng cười. Nhưng không giữ được lâu thế. Những bước chân lê lết dần trở nên nặng nhọc như thể làm việc; trò vui chẳng hiểu sao đã bay biến; sự tĩnh mịch của rừng già và vẻ ảm đạm của đêm đen bắt đầu đè nặng lên tinh thần của bọn trẻ, và chẳng mấy chốc tiếng nói chuyện tắt ngấm, mỗi đứa tự thu mình vào suy nghĩ riêng. Suốt nửa giờ cuối của chặng hai tiếng, chẳng ai nói với ai câu nào.

Rồi chúng tôi tiếp cận một trang trại bằng gỗ, nơi có tin đồn là có năm lính Liên bang canh gác. Lyman ra lệnh dừng lại; và ở đó, trong bóng tối mịt mùng của những tán cây che khuất, hắn bắt đầu thì thầm cái kế hoạch tấn công căn nhà đó, nghe càng làm bóng tối thêm ảm đạm. Đó là thời khắc quyết định; chúng tôi nhận ra, lạnh cả người, rằng đây không phải là trò đùa—chúng tôi đang đối mặt với chiến tranh thật sự. Chúng tôi đã làm đúng trách nhiệm. Phản ứng của chúng tôi không chút do dự, không chút chần chừ: chúng tôi bảo rằng nếu Lyman muốn dây vào đám lính đó thì cứ việc mà làm; còn nếu hắn đợi chúng tôi theo hắn, thì hắn sẽ phải đợi dài cổ.

Lyman thúc giục, nài nỉ, cố làm chúng tôi xấu hổ, nhưng chẳng có tác dụng gì. Lộ trình của chúng tôi đã rõ, tâm trí đã quyết: chúng tôi sẽ đánh bọc sườn trang trại—đi đường vòng. Và đó chính là những gì chúng tôi đã làm. Chúng tôi đã đánh vòng qua vị trí đó.

Chúng tôi lao vào rừng và bắt đầu một chặng đường gian nan, vấp ngã qua rễ cây, vướng vào dây leo, và bị gai cào rách da. Cuối cùng chúng tôi cũng đến được một khoảng đất trống ở vùng an toàn, ngồi xuống, thở hổn hển vì nóng, để hạ nhiệt và chăm sóc mấy vết trầy xước, bầm tím. Lyman thì bực bội, nhưng đám còn lại chúng tôi thì vui vẻ; chúng tôi đã đánh vòng qua trang trại, chúng tôi đã thực hiện cuộc hành quân quân sự đầu tiên, và nó đã thành công; chẳng có gì phải lo lắng cả, tâm trạng chúng tôi hoàn toàn ngược lại. Mấy trò đùa cợt và tiếng cười lại bắt đầu; chuyến viễn chinh lại trở thành một kỳ nghỉ vui vẻ lần nữa.

Sau đó chúng tôi lại có thêm hai giờ lê lết tẻ nhạt, sự im lặng và chán nản tột độ; rồi, tầm bình minh, chúng tôi lếch thếch vào New London, lấm lem, phồng rộp gót chân, mệt rã rời vì cuộc hành quân nhỏ nhoi, và tất cả bọn tôi, trừ Stevens, đều mang tâm trạng chua chát, gắt gỏng và trong thâm tâm thì ghét cay ghét đắng cuộc chiến này. Chúng tôi xếp đống súng săn cũ kỹ tồi tàn vào kho thóc của Đại tá Ralls, rồi cả bọn kéo nhau đi ăn sáng với ông cựu binh thời Chiến tranh Mexico đó. Sau đó ông ta dẫn chúng tôi ra một cánh đồng xa, và dưới bóng cây, chúng tôi lắng nghe bài diễn văn kiểu cũ của ông, đầy mùi thuốc súng và vinh quang, đầy rẫy những lối phóng đại, ẩn dụ lủng củng và lời lẽ hoa mỹ rỗng tuếch mà thời xa xưa và ở vùng hẻo lánh ấy vẫn được coi là hùng biện; rồi ông bắt chúng tôi thề trên cuốn Kinh Thánh rằng phải trung thành với Bang Missouri và đánh đuổi mọi kẻ xâm lược khỏi đất mẹ, bất kể chúng từ đâu đến hay dưới lá cờ nào. Chuyện này làm chúng tôi rối trí cả lên, và chẳng thể hiểu nổi mình đang phục vụ cho cái mục đích gì; nhưng Đại tá Ralls, một chính trị gia lão luyện và là tay tung hứng từ ngữ, thì không hề bối rối; ông biết rất rõ rằng mình đã lôi kéo chúng tôi vào sự nghiệp của Liên minh miền Nam. Ông kết thúc buổi lễ bằng việc thắt vào lưng tôi thanh kiếm mà người hàng xóm của ông, Đại tá Brown, đã đeo ở Buena Vista và Molino del Rey; và ông kèm theo hành động này một tràng diễn thuyết ấn tượng khác.

Sau đó chúng tôi dàn đội hình chiến đấu và hành quân bốn dặm đến một khu rừng râm mát dễ chịu bên rìa những cánh đồng cỏ hoa trải dài bất tận. Đó là một vùng đất đầy mê hoặc cho chiến tranh—cái loại chiến tranh kiểu của chúng tôi.

Chúng tôi tiến vào rừng khoảng nửa dặm, và chiếm giữ một vị trí đắc địa, với những ngọn đồi thấp, nhiều đá và cây cối phía sau, và một con suối trong vắt, róc rách chảy phía trước. Ngay lập tức, một nửa quân số lao xuống bơi lội, nửa còn lại thì câu cá. Gã dở hơi có cái tên kiểu Pháp đặt cho vị trí này một cái tên lãng mạn, nhưng nó dài quá, nên lũ trẻ rút gọn và đơn giản hóa thành Trại Ralls.

Chúng tôi chiếm một trại sản xuất đường từ cây phong cũ, nơi mấy cái máng gỗ mục nát một nửa vẫn còn tựa vào thân cây. Một cái kho chứa ngô dài được dùng làm chỗ ngủ cho cả tiểu đoàn. Bên trái chúng tôi, cách nửa dặm, là trang trại và nhà của Mason; và lão là người ủng hộ sự nghiệp này. Ngay sau buổi trưa, các nông dân bắt đầu kéo đến từ nhiều hướng, với la và ngựa để chúng tôi sử dụng, và họ cho chúng tôi mượn chúng trong suốt thời gian chiến tranh, mà họ đoán là khoảng ba tháng. Đám gia súc đủ loại kích cỡ, đủ màu sắc và đủ giống. Chúng chủ yếu là còn trẻ và hiếu động, và chẳng ai trong nhóm có thể cưỡi chúng được lâu; vì chúng tôi là lũ trẻ thành phố, mù tịt về cưỡi ngựa. Con vật rơi vào tay tôi là một con la rất nhỏ, nhưng lại nhanh nhẹn và hoạt bát đến mức nó có thể hất tôi xuống dễ dàng; và lần nào tôi leo lên nó cũng làm thế. Sau đó nó lại rống lên—vươn cổ ra, kéo tai về phía sau, và ngoác cái mồm rộng đến mức các ông có thể nhìn thấu vào tận trong ruột gan nó. Đó là một con vật khó chịu về mọi mặt. Nếu tôi cầm dây cương định dắt nó đi, nó sẽ ngồi bệt xuống, gồng mình lên, và chẳng ai có thể lay chuyển được nó. Tuy nhiên, tôi cũng không hoàn toàn thiếu tài nguyên quân sự, và rốt cuộc tôi cũng xoay xở để phá được trò này; vì tôi đã thấy khối tàu hơi nước mắc cạn trong đời mình, và biết vài mánh mà ngay cả một con la mắc cạn cũng phải nể. Có một cái giếng gần kho ngô; thế là tôi lấy ba mươi sải dây thừng thay cho dây cương, và kéo nó về bằng cái tời.

Ở đây tôi xin nói trước rằng, sau vài ngày tập luyện, chúng tôi cũng học được cách cưỡi, nhưng chẳng bao giờ khá lên được. Chúng tôi không thể nào học được cách yêu quý đám thú vật này; chúng không phải là loại ngon lành gì, và hầu hết đều có mấy cái tính nết khó chịu kiểu này kiểu khác. Con ngựa của Stevens thường chở hắn, lúc hắn sơ hở, chui vào dưới mấy cái bướu to tướng mọc trên thân cây sồi, và hất hắn bay khỏi yên; bằng cách này, Stevens bị thương nặng mấy lần. Con ngựa của Trung sĩ Bowers thì rất to và cao, chân dài khẳng khiu, trông như một cái cầu đường sắt. Kích thước của nó cho phép nó với đầu đi khắp nơi, xa đến mức nó muốn; nên nó cứ cắn vào chân Bowers suốt. Trên đường hành quân, dưới nắng nóng, Bowers hay ngủ gật; và ngay khi con ngựa nhận ra hắn đã ngủ, nó sẽ quay đầu lại và cắn vào chân hắn. Chân hắn tím bầm vì vết cắn. Đây là điều duy nhất có thể làm hắn chửi thề, nhưng lần nào cũng vậy; hễ con ngựa cắn hắn là hắn chửi thề, và tất nhiên Stevens, gã khoái cười mọi thứ, lại cười lăn lộn vì chuyện này, thậm chí cười đến mức mất thăng bằng rồi ngã ngựa; rồi Bowers, vốn đã cáu tiết vì vết cắn của con ngựa, lại quay ra giận lây vì tiếng cười với những từ ngữ khó nghe, thế là cãi vã; con ngựa đó làm cả đội không lúc nào được yên và toàn gây hiềm khích.

Tuy nhiên, tôi xin quay lại chỗ cũ—buổi chiều đầu tiên của chúng tôi trong trại đường. Mấy cái máng đường rất tiện để làm máng cho ngựa, và chúng tôi có thừa ngô để đổ đầy vào đó. Tôi ra lệnh cho Trung sĩ Bowers cho con la của tôi ăn; nhưng hắn bảo nếu tôi tưởng hắn đi lính để làm vú em cho một con la, thì tôi sẽ sớm nhận ra mình lầm to. Tôi tin rằng đây là hành vi chống đối cấp trên, nhưng tôi đầy những hoài nghi về mọi thứ quân sự, nên tôi cho qua, rồi đi ra lệnh cho Smith, gã học việc của thợ rèn, cho con la ăn; nhưng hắn chỉ tặng tôi một cái nhếch mép to tướng, lạnh lùng, mỉa mai, kiểu như cái nhìn của con ngựa bảy tuổi khi các ông vạch môi nó ra và thấy nó đã mười bốn tuổi, rồi hắn quay lưng đi. Tôi bèn tìm gặp đại úy, hỏi xem liệu việc tôi có một người lính liên lạc có đúng đắn, hợp lệ và quân sự hay không. Hắn bảo có, nhưng vì trong tiểu đoàn chỉ có một người liên lạc, nên tốt nhất là chính hắn nên giữ Bowers trong ban tham mưu của mình. Bowers bảo hắn không phục vụ trong ban tham mưu của ai cả; và nếu ai nghĩ có thể bắt hắn làm, thì cứ việc thử xem. Thế là tất nhiên, chuyện đó phải bỏ qua; chẳng còn cách nào khác.

Tiếp theo, chẳng ai chịu nấu ăn cả; người ta coi đó là sự hạ thấp bản thân; nên chúng tôi nhịn bữa tối. Chúng tôi để buổi chiều đẹp trời trôi qua trong lười biếng, đứa thì ngủ gật dưới gốc cây, đứa thì hút tẩu và tán dóc về người yêu và chiến tranh, đứa thì chơi trò chơi. Đến tối muộn, tất cả đều đói lả; và để giải quyết vấn đề, tất cả lại xúm vào, bình đẳng như nhau, đi nhặt củi, nhóm lửa và nấu bữa tối. Sau đó mọi chuyện lại êm xuôi được một lúc; rồi rắc rối lại nổ ra giữa hạ sĩ và trung sĩ, mỗi thằng đều nhận mình là cấp trên của thằng kia. Chẳng ai biết chức nào cao hơn; nên Lyman phải dàn xếp bằng cách làm cho cấp bậc của cả hai viên sĩ quan bằng nhau. Người chỉ huy một đám lính ô hợp như thế có bao nhiêu rắc rối và phiền toái mà có lẽ chẳng bao giờ xảy ra trong quân đội chính quy. Tuy nhiên, với những bài hát và những câu chuyện chém gió quanh đống lửa trại, mọi thứ lại sớm bình yên trở lại; và lát sau chúng tôi cào bằng chỗ ngô ở một đầu kho và tất cả lăn ra ngủ trên đó, buộc một con ngựa vào cửa, để nó hí lên nếu có ai định lẻn vào.(1)

Chúng tôi tập cưỡi ngựa mỗi buổi sáng; rồi buổi chiều, chúng tôi cưỡi ngựa chia thành từng toán nhỏ đi đây đi đó vài dặm, ghé thăm mấy cô con gái nông dân, tận hưởng những ngày tháng tuổi trẻ, kiếm được bữa tối hay bữa khuya tử tế, rồi lại quay về trại, hạnh phúc và mãn nguyện.

Một thời gian, cuộc sống nhàn hạ thật ngọt ngào, nó hoàn hảo; chẳng có gì làm vẩn đục. Rồi một hôm, vài nông dân đến báo động. Họ bảo có tin đồn quân địch đang tiến về phía chúng tôi từ bên kia đồng cỏ Hyde. Kết quả là một sự xôn xao mạnh mẽ trong đám chúng tôi, và sự hoảng loạn lan rộng. Đó là một cú thức tỉnh thô bạo khỏi cơn mê sảng dễ chịu. Tin đồn chỉ là tin đồn—chẳng có gì chắc chắn cả; nên trong sự hỗn loạn, chúng tôi chẳng biết phải rút lui theo hướng nào. Lyman thì không muốn rút lui tí nào trong hoàn cảnh không chắc chắn này; nhưng hắn nhận ra nếu cứ khăng khăng giữ thái độ đó thì sẽ khốn khổ, vì đám lính chẳng có tâm trạng nào chịu đựng sự chống đối. Thế là hắn xuống nước và triệu tập một hội đồng quân sự—gồm hắn và ba sĩ quan còn lại; nhưng đám lính trơn làm ầm ĩ về việc bị gạt ra ngoài, nên chúng tôi phải để chúng ở lại, vì dù sao chúng cũng đã có mặt ở đó, và chính chúng là đám nói nhiều nhất. Câu hỏi đặt ra là rút lui theo hướng nào; nhưng tất cả đều hoảng loạn đến mức chẳng đứa nào đưa ra được dù chỉ là một phỏng đoán. Ngoại trừ Lyman. Hắn giải thích bằng vài từ bình tĩnh rằng, vì quân địch đang tiến đến từ phía đồng cỏ Hyde, hướng đi của chúng ta rất đơn giản: tất cả những gì cần làm là đừng rút lui về phía chúng; bất kỳ hướng nào khác cũng đáp ứng hoàn hảo nhu cầu của chúng ta. Ai cũng thấy ngay sự thật và sự khôn ngoan đó; thế là Lyman nhận được khối lời khen ngợi. Giờ thì đã quyết là sẽ rút về trang trại Mason.

Lúc này trời đã tối, và vì không biết quân địch có thể đến sớm đến mức nào, nên có vẻ không nên cố đem theo ngựa và đồ đạc nữa; nên chúng tôi chỉ lấy súng và đạn dược, rồi lên đường ngay lập tức. Con đường rất gập ghềnh, nhiều đồi và đá, và chẳng mấy chốc đêm đen như mực và mưa bắt đầu rơi; thế là chúng tôi có một chuyến đi đầy rắc rối, loạng choạng và vấp ngã trong đêm; rồi sớm thôi, một tên trượt chân ngã, rồi tên tiếp theo phía sau vấp phải nó và ngã theo, và cứ thế, lần lượt từng đứa một; rồi Bowers xuất hiện với thùng thuốc súng trên tay, trong khi cả đội đang rối bời vào nhau, tay chân quấn lấy nhau trên con dốc đầy bùn; và thế là hắn ngã, tất nhiên, cùng với cái thùng, và điều này làm cả đơn vị lăn xuống con suối dưới chân đồi thành một đống, và đứa nào nằm dưới cùng thì túm tóc, cào cấu, cắn xé những đứa ở trên mình; và những đứa đang bị cào cấu, cắn xé thì quay lại cào cấu, cắn xé những đứa khác, và tất cả đều thề rằng thà chết còn hơn phải đi lính lần nữa nếu chúng thoát được khỏi con suối này lần này, và lũ xâm lược cứ việc thối rữa đi cho rảnh nợ, cả đất nước này cũng vậy—và đủ loại lời lẽ như thế, thật thảm hại khi nghe và tham gia, trong những giọng nói nghẹt thở, lí nhí đó, và cái nơi tối tăm ghê rợn và ướt át thế này, và quân địch có thể ập đến bất cứ lúc nào.

Thùng thuốc súng mất rồi, cả súng ống cũng vậy; nên tiếng càu nhàu và than vãn cứ tiếp diễn suốt trong khi cả lữ đoàn mò mẫm quanh sườn đồi nhão nhoét và lội bì bõm trong suối để tìm mấy thứ đó; kết quả là chúng tôi mất khối thời gian; rồi chúng tôi nghe thấy một âm thanh, và nín thở lắng nghe, và có vẻ là quân địch đang đến, dù có thể chỉ là một con bò, vì nó có tiếng ho giống con bò; nhưng chúng tôi không đợi, mà bỏ lại vài khẩu súng rồi lao về phía nhà Mason nhanh nhất có thể trong đêm tối. Nhưng rồi chúng tôi lại lạc lối giữa mấy cái khe núi nhỏ gập ghềnh, và lãng phí bao nhiêu thời gian để tìm đường lại, nên phải qua chín giờ chúng tôi mới đến được chỗ hàng rào nhà Mason; và rồi trước khi chúng tôi kịp mở miệng để đưa mật khẩu, vài con chó đã nhảy xổ qua hàng rào, với tiếng sủa ầm ĩ, và mỗi con ngoạm lấy một thằng lính vào đũng quần rồi bắt đầu lôi nó ra sau. Chúng tôi không thể bắn lũ chó mà không gây nguy hiểm cho những người bị chúng bám vào; nên đành đứng nhìn, bất lực, trước cái cảnh tượng có lẽ là nhục nhã nhất của cuộc nội chiến. Có đủ ánh sáng, và dư dả, vì nhà Mason giờ đã chạy ra hiên với nến trên tay. Lão già và con trai lão chạy đến và gỡ lũ chó ra dễ dàng, tất cả trừ con của Bowers; nhưng họ không thể gỡ con chó của hắn, họ không biết "mã số" của nó; nó thuộc giống chó bull, và có vẻ được cài đặt với cái khóa thời gian Yale; nhưng cuối cùng họ cũng gỡ được nó ra bằng chút nước sôi, mà Bowers cũng được hưởng một phần và cảm ơn rối rít. Peterson Dunlap sau đó đặt cho cuộc giao tranh này một cái tên rất kêu, cả cho cuộc hành quân đêm trước đó nữa, nhưng cả hai đều đã bay khỏi trí nhớ của tôi từ lâu rồi.

Giờ chúng tôi vào nhà, và họ bắt đầu hỏi chúng tôi hàng vạn câu hỏi, nhờ đó mà lộ ra là chúng tôi chẳng biết gì về việc mình đang chạy trốn khỏi ai hay cái gì; nên ông cụ nói rất thẳng thắn, bảo chúng tôi là một giống lính kỳ lạ, và đoán là chúng tôi có thể được tin tưởng để kết thúc cuộc chiến đúng lúc, vì không Chính phủ nào chịu nổi chi phí tiền giày mà chúng tôi sẽ tiêu tốn khi cố chạy trốn xung quanh. "Marion Rangers! Cái tên hay đấy, thề có chúa!" lão nói. Và muốn biết tại sao chúng tôi không bố trí lính canh tại nơi con đường dẫn vào đồng cỏ, và tại sao không cử một toán trinh sát đi thám thính kẻ địch và báo cáo về quân số của chúng, vân vân, trước khi nhảy dựng lên và tháo chạy khỏi một vị trí mạnh dựa trên một tin đồn mơ hồ—và vân vân, và vân vân, cho đến khi lão làm tất cả chúng tôi cảm thấy nhục nhã hơn cả đám chó, và chẳng được chào đón hào hứng bằng một nửa đám chó. Thế là chúng tôi đi ngủ trong sự xấu hổ và chán nản; ngoại trừ Stevens. Chẳng mấy chốc Stevens bắt đầu thiết kế một loại trang phục cho Bowers, có thể tự động phô ra những vết sẹo chiến tranh của hắn cho những kẻ biết ơn, hoặc che giấu chúng khỏi những kẻ ghen tị, tùy theo hoàn cảnh; nhưng Bowers không có tâm trạng cho chuyện này, thế là một trận ẩu đả nổ ra, và khi nó kết thúc thì Stevens cũng có vài vết sẹo chiến tranh của riêng mình để suy ngẫm.

Rồi chúng tôi cũng chợp mắt được một chút. Nhưng sau tất cả những gì đã trải qua, hoạt động của chúng tôi chưa kết thúc trong đêm đó; vì khoảng hai giờ sáng, chúng tôi nghe thấy tiếng hét cảnh báo từ dưới đường, kèm theo dàn đồng ca của tất cả lũ chó, và trong chốc lát, mọi người đều bật dậy và chạy đôn chạy đáo để tìm hiểu xem báo động là gì. Kẻ báo động là một người cưỡi ngựa, thông báo rằng một đơn vị lính Liên bang đang trên đường từ Hannibal với lệnh bắt và treo cổ bất kỳ băng nhóm nào giống như chúng tôi mà nó tìm thấy, và bảo chúng tôi không còn thời gian nữa. Lần này thì nông dân Mason cũng hoảng loạn. Lão vội vàng đuổi chúng tôi ra khỏi nhà và cử một gã nô lệ đi cùng để chỉ chỗ cho chúng tôi trốn cùng với đống súng ống tố cáo của mình giữa các khe núi cách đó nửa dặm. Trời đang mưa tầm tã.

Chúng tôi lao xuống đường, rồi băng qua mấy bãi cỏ nhiều đá, nơi có những điều kiện thuận lợi để vấp ngã; hậu quả là chúng tôi nằm trong bùn hầu hết thời gian, và mỗi lần một thằng ngã là nó lại chửi rủa cuộc chiến, và những kẻ khởi xướng nó, và tất cả những ai liên quan đến nó, rồi tự rủa xả bản thân vì đã ngu ngốc tham gia vào. Cuối cùng chúng tôi cũng đến được miệng khe núi đầy cây cối, và ở đó chúng tôi rúc vào dưới những tán cây đang ròng ròng nước, và bảo gã nô lệ quay về nhà. Đó là một khoảng thời gian ảm đạm và đau lòng. Chúng tôi như sắp chết đuối vì mưa, điếc đặc vì tiếng gió gào thét và tiếng sấm rền vang, và mù lòa vì chớp giật. Đúng là một đêm kinh hoàng. Cơn mưa xối xả đã là nỗi khổ đủ đầy rồi, nhưng nỗi khổ sâu sắc hơn vẫn là suy nghĩ rằng cái thòng lọng có thể kết thúc đời mình trước khi mình già thêm một ngày. Cái chết theo kiểu nhục nhã này chưa bao giờ xuất hiện trong đầu chúng tôi như là một khả năng của chiến tranh. Nó quét sạch mọi sự lãng mạn ra khỏi chiến dịch, và biến những giấc mơ vinh quang của chúng tôi thành cơn ác mộng ghê tởm. Còn về việc nghi ngờ rằng một mệnh lệnh dã man như vậy đã được ban ra, không một đứa nào trong chúng tôi làm thế.

Đêm dài cuối cùng cũng qua đi, và rồi gã nô lệ đến với tin tức rằng báo động rõ ràng là giả, và bữa sáng sắp xong rồi. Ngay lập tức chúng tôi lại thấy nhẹ lòng, và thế giới lại tươi sáng, cuộc sống lại tràn đầy hy vọng và hứa hẹn như mọi khi—vì hồi đó chúng tôi còn trẻ. Chuyện đó bao lâu rồi nhỉ! Hai mươi bốn năm.

Đứa con lai của ngành ngôn ngữ học đặt cho nơi trú ẩn đêm đó là Trại Tàn Phá, và không linh hồn nào phản đối. Nhà Mason đãi chúng tôi một bữa sáng kiểu nông thôn Missouri, với sự phong phú đậm chất Missouri, và chúng tôi cần nó: bánh quy nóng; "bánh mì lúa mì" nóng hổi được kẻ ô lưới đẹp mắt trên mặt; bánh ngô nóng; gà rán; thịt xông khói, cà phê, trứng, sữa, sữa bơ, v.v.;—và thế giới có thể tự tin thách thức tìm ra thứ tương đương với bữa sáng như thế, như cách nó được nấu ở miền Nam.

Chúng tôi ở lại Mason vài ngày; và sau bao nhiêu năm, ký ức về sự tẻ nhạt, tĩnh lặng và vô hồn của trang trại buồn ngủ đó vẫn đè nặng lên tinh thần tôi như một cảm giác về sự hiện diện của cái chết và tang tóc. Chẳng có gì để làm, chẳng có gì để nghĩ; chẳng có chút hứng thú nào trong cuộc sống. Đàn ông trong nhà đi vắng cả ngày ngoài đồng, đàn bà thì bận rộn và khuất tầm mắt chúng tôi; chẳng có âm thanh nào ngoài tiếng than vãn thê lương của cái guồng quay sợi, mãi mãi rên rỉ từ căn phòng xa xăm nào đó—âm thanh cô đơn nhất trong tự nhiên, một âm thanh thấm đẫm và sũng nước vì nỗi nhớ nhà và sự trống rỗng của cuộc đời. Gia đình đi ngủ vào lúc trời tối mỗi đêm, và vì chúng tôi không được mời để áp đặt bất kỳ phong tục mới nào, nên chúng tôi tự nhiên tuân theo phong tục của họ. Những đêm đó dài cả trăm năm đối với những thanh niên đã quen thức đến mười hai giờ. Đêm nào chúng tôi cũng nằm thao thức và khổ sở cho đến giờ đó, và già đi, cằn cỗi đi khi chờ đợi qua những cõi vĩnh hằng tĩnh lặng cho tiếng đồng hồ điểm. Đây không phải là chỗ cho lũ trẻ thành phố. Thế nên cuối cùng, với niềm vui rất giống niềm vui, chúng tôi nhận tin quân địch đang theo dấu chúng tôi lần nữa. Với sự trỗi dậy của tinh thần chiến binh cũ, chúng tôi bật dậy vào vị trí chiến đấu và rút về Trại Ralls.

Đại úy Lyman đã nghe được gợi ý từ cuộc nói chuyện của Mason, và giờ hắn ra lệnh rằng trại của chúng tôi nên được bảo vệ khỏi sự bất ngờ bằng cách bố trí lính gác. Tôi được lệnh đặt một lính canh ở ngã ba đường trên đồng cỏ Hyde. Đêm buông xuống đen kịt và đe dọa. Tôi bảo Trung sĩ Bowers đi ra đó và ở lại cho đến nửa đêm; và, đúng như tôi dự đoán, hắn bảo hắn sẽ không làm thế. Tôi cố gắng bảo những người khác đi, nhưng tất cả đều từ chối. Vài người lấy lý do thời tiết; nhưng những người còn lại đủ thẳng thắn để nói rằng họ sẽ không đi trong bất kỳ loại thời tiết nào. Chuyện kiểu này nghe bây giờ thì lạ lùng, và không thể, nhưng hồi đó nó có vẻ là điều hoàn toàn tự nhiên. Có hàng tá trại nhỏ rải rác khắp Missouri nơi điều tương tự đang diễn ra. Những trại này bao gồm các thanh niên đã được sinh ra và nuôi dưỡng trong sự độc lập vững vàng, và những kẻ không biết thế nào là bị ra lệnh bởi Tom, Dick, và Harry, những người mà họ đã biết rõ cả đời, trong làng hoặc trên trang trại. Hoàn toàn có khả năng là chuyện này đang xảy ra trên khắp miền Nam. James Redpath đã thừa nhận sự đúng đắn của giả định này, và cung cấp ví dụ sau đây để chứng minh. Trong một thời gian ngắn ở Đông Tennessee, một ngày nọ anh ta ở trong lều của một đại tá dân sự, đang nói chuyện, thì một gã lính trơn to con xuất hiện ở cửa, và không cần chào hỏi hay rào trước đón sau gì cả, nói với đại tá:

'Này Jim, tôi về nhà vài hôm đây.'

'Về làm gì?'

'À, tôi cũng lâu chưa về đó, và muốn xem mọi việc thế nào.'

'Cậu định đi bao lâu?'

'Khoảng hai tuần.'

'Ừ, đừng đi lâu hơn thế; và quay lại sớm hơn nếu có thể.'

Chỉ có vậy thôi, và viên sĩ quan dân sự tiếp tục cuộc trò chuyện của mình ở nơi mà gã lính đã cắt ngang. Tất nhiên, đây là những tháng đầu của cuộc chiến. Các trại ở vùng của chúng tôi tại Missouri nằm dưới quyền của Chuẩn tướng Thomas H. Harris. Ông ta là người cùng thị trấn với chúng tôi, một tay cừ khôi, và được yêu mến; nhưng chúng tôi đều đã quen biết ông ta như là nhân viên duy nhất với mức lương khiêm tốn trong văn phòng điện báo của chúng tôi, nơi ông ấy phải gửi khoảng một công điện một tuần trong thời bình, và hai khi việc nhiều; kết quả là, khi một ngày nọ ông xuất hiện giữa chúng tôi, trên lưng ngựa, và ban một mệnh lệnh quân sự kiểu nào đó, bằng một phong thái quân sự to tát, chẳng ai ngạc nhiên trước câu trả lời mà ông nhận được từ đám quân lính tập hợp:

'Ôi thôi, ông lấy gì để thôi đi, Tom Harris!'

Nó hoàn toàn là điều tự nhiên. Người ta có thể hình dung một cách công bằng rằng chúng tôi là thứ nguyên liệu vô vọng cho chiến tranh. Và chúng tôi có vẻ như vậy, trong trạng thái dốt nát của mình; nhưng có những kẻ trong số chúng tôi sau này đã học được cái nghề nghiệt ngã đó; học cách phục tùng như những cỗ máy; trở thành những người lính có giá trị; chiến đấu suốt cuộc chiến, và bước ra ở cuối với những thành tích xuất sắc. Một trong những cậu bé đã từ chối đi canh gác đêm hôm đó, và gọi tôi là con lừa vì nghĩ rằng cậu ta sẽ phơi mình ra nguy hiểm theo cách liều lĩnh như vậy, đã trở nên nổi tiếng vì sự dũng cảm trước khi cậu ta thêm một tuổi.

Tôi đã đảm bảo được lính gác đêm đó—không phải bằng quyền lực, mà bằng ngoại giao. Tôi thuyết phục được Bowers đi, bằng cách đồng ý đổi cấp bậc với hắn trong thời gian đó, và đi cùng để đứng gác với hắn như cấp dưới của hắn. Chúng tôi ở ngoài đó vài giờ ảm đạm trong bóng tối mịt mùng và mưa, không có gì làm dịu bớt sự ảm đạm ngoài những tiếng càu nhàu đơn điệu của Bowers về cuộc chiến và thời tiết; rồi chúng tôi bắt đầu ngủ gật, và chẳng mấy chốc thấy việc ở lại trên yên ngựa là điều không thể; nên chúng tôi từ bỏ công việc tẻ nhạt đó, và quay trở lại trại mà không đợi toán thay gác. Chúng tôi cưỡi ngựa vào trại mà không bị ai ngăn cản hay phản đối, và kẻ địch cũng có thể làm điều tương tự, vì chẳng có lính canh nào. Mọi người đều ngủ; vào nửa đêm chẳng có ai để gửi một toán lính gác khác, nên chẳng ai được cử đi. Tôi không nhớ là chúng tôi có bao giờ cố gắng thiết lập một phiên gác vào ban đêm nữa không, nhưng chúng tôi thường để lính gác vào ban ngày.

Trong trại đó, toàn bộ đơn vị ngủ trên ngô trong kho ngô lớn; và thường thì có một cuộc cãi vã chung trước khi trời sáng, vì nơi đó đầy chuột, và chúng sẽ bò qua cơ thể và mặt bọn trẻ, làm phiền và chọc tức mọi người; và thỉnh thoảng chúng lại cắn vào ngón chân ai đó, và người sở hữu ngón chân đó sẽ bật dậy, phóng đại tiếng Anh của mình lên và bắt đầu ném ngô trong bóng tối. Mấy bắp ngô cứng như gạch, và khi chúng đập vào thì đau điếng. Những người bị đập sẽ phản ứng, và trong vòng năm phút, mỗi người sẽ bị khóa chặt trong một trận tử chiến với người hàng xóm của mình. Đã có một lượng máu đáng kể được đổ xuống trong kho ngô, nhưng đây là tất cả máu đã đổ khi tôi còn trong cuộc chiến. Không, điều đó không hoàn toàn đúng. Nếu không vì một hoàn cảnh thì đó sẽ là tất cả. Tôi sẽ đến với chuyện đó ngay bây giờ.

Các vụ hoảng sợ của chúng tôi thường xuyên xảy ra. Cứ vài ngày lại có tin đồn quân địch đang tiến đến. Trong những trường hợp này, chúng tôi luôn rút lui về một trại khác của mình; chúng tôi không bao giờ ở lại nơi mình đang đứng. Nhưng tin đồn luôn hóa ra là giả; nên cuối cùng ngay cả chúng tôi cũng bắt đầu trở nên thờ ơ với chúng. Một đêm nọ, một gã nô lệ được gửi đến kho ngô của chúng tôi với lời cảnh báo cũ rích: quân địch đang lảng vảng quanh khu vực của chúng tôi. Tất cả chúng tôi đều bảo cứ để hắn lảng vảng. Chúng tôi quyết định ở yên đó và thoải mái. Đó là một quyết định hiếu chiến tuyệt vời, và không nghi ngờ gì nữa, tất cả chúng tôi đều cảm nhận được sự thôi thúc của nó trong huyết quản—trong một khoảnh khắc. Chúng tôi đã có một khoảng thời gian rất vui vẻ, đầy những trò đùa cợt và sự huyên náo của tuổi học trò; nhưng điều đó giờ đã nguội lạnh, và chẳng mấy chốc ngọn lửa đang lụi tàn nhanh chóng của những câu đùa gượng gạo và những tràng cười gượng gạo đã tắt ngấm hoàn toàn, và cả đại đội trở nên im lặng. Im lặng và lo lắng. Và sớm thôi, bất an—lo âu—e ngại. Chúng tôi đã nói sẽ ở lại, và chúng tôi đã cam kết. Chúng tôi có thể đã bị thuyết phục để đi, nhưng chẳng có ai đủ dũng cảm để đề nghị điều đó. Một chuyển động gần như không tiếng động bắt đầu trong bóng tối, bởi một sự thôi thúc chung và không thành lời. Khi chuyển động kết thúc, mỗi người đều biết mình không phải là người duy nhất đã bò đến bức tường phía trước và dán mắt vào một vết nứt giữa các khúc gỗ. Không, tất cả chúng tôi đều ở đó; tất cả đều ở đó với trái tim treo ngược trong cổ họng, và nhìn chằm chằm về phía những máng đường nơi con đường mòn trong rừng đi qua. Trời đã muộn, và có một sự tĩnh lặng sâu thẳm của rừng già ở khắp mọi nơi. Có ánh trăng che khuất, chỉ vừa đủ mạnh để chúng tôi nhận ra hình dáng chung của các vật thể. Chẳng mấy chốc, một âm thanh nghẹt vang lên lọt vào tai chúng tôi, và chúng tôi nhận ra đó là tiếng vó ngựa của một con ngựa hoặc những con ngựa. Và ngay lập tức một hình dáng xuất hiện trên đường mòn trong rừng; nó có thể được tạo ra từ khói, khối của nó có rất ít sự sắc nét của đường nét. Đó là một người cưỡi ngựa; và dường như với tôi là có những người khác phía sau hắn. Tôi chộp lấy một khẩu súng trong bóng tối, và đẩy nó qua một khe nứt giữa các khúc gỗ, gần như không biết mình đang làm gì, tôi quá choáng váng vì sợ hãi. Ai đó nói 'Bắn!' Tôi bóp cò. Tôi dường như thấy một trăm tia lửa và nghe một trăm tiếng nổ, rồi tôi thấy người đàn ông ngã xuống khỏi yên ngựa. Cảm giác đầu tiên của tôi là sự thỏa mãn bất ngờ; thôi thúc đầu tiên của tôi là thôi thúc của một tay thợ săn tập sự muốn chạy đến và nhặt con mồi của mình. Ai đó nói, gần như không nghe thấy, 'Tốt—chúng ta đã tóm được hắn!—đợi những tên còn lại.' Nhưng những tên còn lại không đến. Không có một âm thanh nào, không có tiếng thì thầm của một chiếc lá; chỉ là sự tĩnh lặng hoàn hảo; một kiểu tĩnh lặng kỳ quái, càng kỳ quái hơn vì mùi ẩm ướt, mùi đất, mùi đêm muộn đang bốc lên và tràn ngập nó. Sau đó, đầy nghi hoặc, chúng tôi lén lút bò ra, và tiếp cận người đàn ông. Khi chúng tôi đến chỗ hắn, ánh trăng lộ rõ hắn một cách riêng biệt. Hắn đang nằm ngửa, với hai tay dang rộng; miệng hắn mở và ngực phập phồng những hơi thở dài, và mặt trước chiếc áo sơ mi trắng của hắn tất cả đều bị vấy máu. Suy nghĩ vụt qua tôi rằng tôi là một kẻ sát nhân; rằng tôi đã giết một người đàn ông—một người chưa bao giờ làm hại tôi bất cứ điều gì. Đó là cảm giác lạnh lẽo nhất từng chạy qua tủy sống của tôi. Tôi ở bên hắn trong chốc lát, bất lực vuốt ve trán hắn; và tôi đã đưa bất cứ thứ gì lúc đó—chính cuộc đời tôi một cách tự do—để làm hắn trở lại những gì hắn đã là năm phút trước. Và tất cả lũ trẻ dường như cũng đang cảm thấy theo cách tương tự; chúng treo lơ lửng trên người hắn, đầy sự quan tâm thương hại, và cố gắng hết sức để giúp hắn, và nói đủ loại điều hối tiếc. Chúng đã quên tất cả về kẻ thù; chúng chỉ nghĩ đến đơn vị nhỏ lẻ đơn độc này của kẻ thù. Một lần trí tưởng tượng của tôi thuyết phục tôi rằng người đàn ông sắp chết đã cho tôi một cái nhìn trách móc từ đôi mắt mờ ảo của hắn, và dường như với tôi là tôi thà hắn đâm tôi còn hơn là làm điều đó. Hắn lầm bầm và lẩm bẩm như một kẻ mơ ngủ trong giấc ngủ, về vợ và con hắn; và tôi nghĩ với một sự tuyệt vọng mới, 'Điều này mà tôi đã làm không kết thúc với hắn; nó rơi xuống họ nữa, và họ không bao giờ làm hại tôi bất cứ điều gì, hơn hắn.'

Trong một lúc người đàn ông đã chết. Hắn đã chết trong chiến tranh; chết trong cuộc chiến công bằng và hợp pháp; chết trong trận chiến, như bạn có thể nói; và tuy nhiên hắn đã chân thành thương tiếc bởi lực lượng đối lập như thể hắn là anh em của họ. Bọn trẻ đứng đó nửa giờ thương tiếc hắn, và nhớ lại các chi tiết của bi kịch, và tự hỏi hắn có thể là ai, và nếu hắn là một điệp viên, và nói rằng nếu nó được làm lại chúng sẽ không làm hại hắn trừ khi hắn tấn công chúng trước. Nó sớm lộ ra rằng của tôi không phải là phát súng duy nhất được bắn; có năm phát khác—một sự chia rẽ của tội lỗi đó là một sự nhẹ nhõm biết ơn đối với tôi, vì nó ở một mức độ nào đó làm nhẹ và giảm bớt gánh nặng tôi đang mang. Có sáu phát súng được bắn cùng một lúc; nhưng tôi không ở trong tâm trí đúng của tôi vào thời điểm đó, và trí tưởng tượng nóng nảy của tôi đã phóng đại một phát súng của tôi thành một loạt đạn.

Người đàn ông không mặc đồng phục, và không được vũ trang. Hắn là một người lạ trong đất nước; đó là tất cả những gì chúng tôi từng tìm ra về hắn. Suy nghĩ về hắn bắt đầu ám ảnh tôi mỗi đêm; tôi không thể thoát khỏi nó. Tôi không thể đuổi nó đi, việc lấy đi cuộc sống không xúc phạm đó dường như là một điều quá vô cớ. Và nó dường như là một hình ảnh thu nhỏ của chiến tranh; rằng tất cả chiến tranh phải chính là điều đó—việc giết những người lạ mà bạn không cảm thấy ác cảm cá nhân nào; những người lạ mà, trong các hoàn cảnh khác, bạn sẽ giúp nếu bạn tìm thấy họ trong rắc rối, và những người sẽ giúp bạn nếu bạn cần nó. Chiến dịch của tôi đã bị hỏng. Dường như với tôi là tôi không được trang bị đúng cách cho công việc khủng khiếp này; rằng chiến tranh dành cho đàn ông, và tôi dành cho một vú em của trẻ em. Tôi quyết định rút lui khỏi nghề nghiệp làm lính giả này trong khi tôi có thể cứu vãn một phần lòng tự trọng của mình. Những suy nghĩ bệnh hoạn này bám lấy tôi chống lại lý trí; vì ở dưới đáy tôi không tin tôi đã chạm vào người đàn ông đó. Luật xác suất đã phán quyết tôi vô tội về máu của hắn; vì trong tất cả kinh nghiệm nhỏ của tôi với súng tôi chưa bao giờ trúng bất cứ thứ gì tôi đã cố gắng bắn, và tôi biết tôi đã làm tốt nhất để bắn hắn. Tuy nhiên, không có sự an ủi trong suy nghĩ đó. Chống lại một trí tưởng tượng bị bệnh, minh chứng không là gì cả.

Phần còn lại của kinh nghiệm chiến tranh của tôi cũng là một phần với những gì tôi đã kể về nó. Chúng tôi giữ sự rơi rụng đơn điệu về trại này hay trại khác, và ăn sạch đất nước—tôi ngạc nhiên bây giờ về sự kiên nhẫn của những người nông dân và gia đình họ. Họ đáng lẽ đã bắn chúng tôi; ngược lại, họ hiếu khách và lịch sự với chúng tôi như thể chúng tôi xứng đáng với điều đó. Trong một trong những trại này, chúng tôi tìm thấy Ab Grimes, một phi công Upper Mississippi, người sau này trở nên nổi tiếng như một điệp viên nổi loạn liều lĩnh, có sự nghiệp đầy rẫy những cuộc phiêu lưu tuyệt vọng. Cái nhìn và phong cách của các đồng đội của hắn cho thấy họ đã không đến cuộc chiến để chơi, và hành động của họ đã chứng minh phỏng đoán sau đó. Họ là những kỵ sĩ giỏi và những tay bắn súng lục giỏi; nhưng vũ khí yêu thích của họ là dây thừng. Mỗi người có một ở yên ngựa, và có thể giật một người ra khỏi yên ngựa với nó mọi lúc, trên một phi nước đại, ở bất kỳ khoảng cách hợp lý nào.

Trong một trại khác, người đứng đầu là một thợ rèn già hung dữ và tục tĩu sáu mươi tuổi, và ông đã cung cấp cho hai mươi tân binh của mình những con dao bowie khổng lồ tự chế, để được vung bằng hai tay, giống như những con dao machete của Eo đất. Đó là một cảnh tượng ghê rợn khi thấy ban nhạc nghiêm túc đó luyện tập những cú cắt và chém giết người của họ dưới con mắt của kẻ cuồng tín già không thương tiếc đó.

Trại cuối cùng mà chúng tôi rút lui về là ở một hốc gần làng Florida, nơi tôi được sinh ra—ở Quận Monroe. Ở đây chúng tôi được cảnh báo, một ngày nọ, rằng một đại tá Liên bang đang quét xuống chúng tôi với cả một trung đoàn ở gót chân của mình. Điều này trông có vẻ nghiêm trọng. Bọn trẻ của chúng tôi đi riêng và tư vấn; sau đó chúng tôi quay lại và nói với các công ty khác hiện diện rằng chiến tranh là một sự thất vọng đối với chúng tôi và chúng tôi sắp giải tán. Họ đang chuẩn bị, bản thân họ, để rút lui về một nơi nào đó, và chỉ đợi Tướng Tom Harris, người dự kiến sẽ đến bất cứ lúc nào; nên họ cố gắng thuyết phục chúng tôi đợi một chút, nhưng đa số chúng tôi nói không, chúng tôi đã quen với việc rút lui, và không cần bất kỳ sự giúp đỡ nào của Tom Harris; chúng tôi có thể làm tốt hoàn toàn mà không cần hắn và tiết kiệm thời gian nữa. Thế nên khoảng một nửa trong số mười lăm người chúng tôi, bao gồm cả bản thân tôi, đã lên ngựa và rời đi ngay lập tức; những người khác chịu thua sự thuyết phục và ở lại—ở lại trong suốt cuộc chiến.

Một giờ sau chúng tôi gặp Tướng Harris trên đường, với hai hoặc ba người trong công ty của ông—tham mưu của ông, có lẽ, nhưng chúng tôi không thể biết; không ai trong số họ mặc đồng phục; đồng phục chưa trở nên phổ biến giữa chúng tôi. Harris ra lệnh chúng tôi quay lại; nhưng chúng tôi nói với ông ấy rằng có một đại tá Liên bang đang đến với cả một trung đoàn theo sau, và có vẻ như sẽ có một sự xáo trộn; nên chúng tôi đã quyết định về nhà. Ông ấy giận dữ một chút, nhưng vô ích; tâm trí chúng tôi đã quyết định. Chúng tôi đã làm phần của mình; đã giết một người đàn ông, tiêu diệt một đội quân, như nó vốn có; hãy để hắn đi và giết phần còn lại, và điều đó sẽ kết thúc cuộc chiến. Tôi đã không thấy viên tướng trẻ hăng hái đó cho đến năm ngoái; sau đó ông ấy đang mặc tóc trắng và râu.

Theo thời gian, tôi biết được vị đại tá Liên bang đó, người mà sự xuất hiện đã làm tôi sợ hãi ra khỏi cuộc chiến và làm tê liệt sự nghiệp miền Nam đến mức độ đó—Tướng Grant. Tôi đã đến trong vài giờ để nhìn thấy ông ấy khi ông ấy cũng không biết gì như tôi; vào thời điểm mà bất kỳ ai cũng có thể nói, 'Grant?—Ulysses S. Grant? Tôi không nhớ đã nghe tên này trước đây.' Dường như khó để nhận ra rằng đã từng có một thời điểm mà một nhận xét như vậy có thể được đưa ra một cách hợp lý; nhưng có, và tôi cũng ở cách nơi và dịp đó vài dặm, mặc dù đang tiến hành theo hướng khác.

Những người chu đáo sẽ không ném tờ giấy chiến tranh này của tôi sang một bên một cách nhẹ nhàng vì không có giá trị. Nó có giá trị này: nó không phải là một bức tranh không công bằng về những gì đã diễn ra trong rất nhiều trại dân quân trong những tháng đầu của cuộc nổi loạn, khi những tân binh xanh còn thiếu kỷ luật, không có ảnh hưởng ổn định và khích lệ hoặc những nhà lãnh đạo được đào tạo; khi tất cả hoàn cảnh của họ đều mới mẻ và lạ lẫm, và bị buộc tội với những nỗi kinh hoàng cường điệu, và trước khi kinh nghiệm vô giá của sự va chạm thực tế trên chiến trường đã biến họ từ thỏ thành lính. Nếu khía cạnh này của bức tranh về ngày đầu tiên đó chưa được đưa vào lịch sử trước đây, thì lịch sử đã ở mức độ đó chưa đầy đủ, vì nó đã và có vị trí đúng đắn của nó ở đó. Có nhiều vật liệu Bull Run rải rác khắp các trại đầu tiên của đất nước này hơn là thể hiện tại Bull Run. Và tuy nhiên nó đã học được nghề của nó sau đó, và đã giúp chiến đấu trong các trận chiến lớn sau này. Bản thân tôi cũng có thể đã trở thành một người lính, nếu tôi đợi. Tôi đã học được một phần của nó; tôi biết nhiều về việc rút lui hơn là người đã phát minh ra việc rút lui.

(1) Luôn là ấn tượng của tôi rằng đó là những gì con ngựa ở đó vì, và tôi biết rằng đó cũng là ấn tượng của ít nhất một người khác trong bộ chỉ huy, vì chúng tôi đã nói về nó vào thời điểm đó, và ngưỡng mộ sự khéo léo quân sự của thiết bị; nhưng khi tôi ở miền Tây ba năm trước, tôi được bảo bởi ông A. G. Fuqua, một thành viên của công ty chúng tôi, rằng con ngựa là của hắn, rằng việc để nó buộc ở cửa là một vấn đề của sự quên lãng đơn thuần, và rằng việc gán nó cho phát minh thông minh là đưa cho hắn quá nhiều tín dụng. Để hỗ trợ vị trí của mình, hắn đã thu hút sự chú ý của tôi vào thực tế gợi ý rằng thủ thuật không được sử dụng lại. Tôi đã không nghĩ về điều đó trước đây.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.