Người làm vấy bẩn Hadleyburg và những truyện khác

Lượt đọc: 118 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
LƯƠNG BỔNG VÀ Y PHỤC NGOẠI GIAO

❊ ❊ ❊

VIENNA, ngày 5 tháng 1—Sáng nay đọc báo, tôi thấy bảo Chính phủ Mỹ vừa chi hẳn 100.000 đô-la cho mỗi vị trong hai vị Ủy viên Ủy ban Hòa bình vì sáu tuần làm việc ở Paris.

Tôi mong tin này là thật. Tôi cứ tự cho phép mình sướng cái đã, cứ coi như chuyện này đã chốt hạ xong xuôi đâu vào đấy.

Đây là một tiền lệ, mà cái tiền lệ này thì dân mình nên vỗ tay hoan hỉ mới đúng. Tiền lệ lúc nào chẳng có giá trị (hoặc ngược lại); và nó giá trị nhất (hoặc tệ nhất) là khi nó tạo ra một cú hích giật gân làm cả thiên hạ phải ngước nhìn. Nếu sau đợt tranh luận tới đây mà cái tiền lệ này đứng vững, tương lai của nó coi như rộng mở thênh thang.

Ai chả biết cái tòa tháp công lý được xây nên từ những tiền lệ, từ móng xây lên; nhưng mấy ai nhận ra toàn bộ cái văn minh này cũng từ tiền lệ mà ra cả. Những thay đổi ghen ăn tức ở sau này cũng là do mấy cái tiền lệ mới nhảy vào xới tung lên, trụ vững trước búa rìu dư luận rồi chiếm lấy cái ghế của mình. Một tiền lệ có thể chết sặc ngay từ khi mới lọt lòng, hoặc sống thọ—cái này hên xung là chính. Bị bắt chước một lần thì có cơ; hai lần thì cơ hội cao hơn; ba lần là thiên hạ bắt đầu phải coi chừng rồi đấy; còn bốn, năm, sáu lần thì xác định là nó cắm rễ luôn—có khi cả thế kỷ không chừng. Giống như cái trấn kia bày ra kiểu chào mới, điệu nhảy mới, trò cai rượu mới hay cái kiểu mũ mới, rồi lôi kéo được cái trấn bên cạnh bắt chước theo, thế là cái tiền lệ đó bắt đầu lên xe lăn bánh; chẳng ai đoán nổi nó sẽ phi đến tận đâu đâu. Có khi nó tịt ngay từ vòng gửi xe, chẳng đi đến đâu; nhưng nếu là một gã hoàng tử bày ra trò đó, thiên hạ sẽ soi vào dữ lắm, và khả năng nó thành trend gần như là chắc chắn 100%.

Bao lâu nay, cái xứ mình toàn phải ăn trái đắng từ hai cái tiền lệ hãm tài. Một là cái thói trả lương bèo nhèo cho mấy quan chức đại diện cho bộ mặt và uy quyền của Quốc gia ở xứ người; hai là cái trò bắt họ phải khoác lên mình mấy bộ cánh quan trường nhìn vừa phèn, vừa thiếu tư cách, lại còn như chửi thẳng vào mặt mấy bộ lễ phục lộng lẫy của quan chức nước bạn. Đến tận bây giờ, bộ lễ phục của ngài đại sứ Mỹ vẫn mang cái tiếng xấu đó. Ở mấy buổi lễ công cộng tại các triều đình Châu Âu, quan khách quốc tế ai nấy đều diện đồ sang xịn mịn để phân biệt với đám dân thường, thể hiện cái tầm của quốc gia họ. Duy chỉ có đại diện nhà mình là vác cái áo đuôi tôm đen sì quấy quá, nhìn chẳng ra quốc gia mà cũng chẳng ra thể thống gì. Bộ đồ đó chẳng có quốc tịch. Nước nào mà chẳng có, nhìn y như cái áo ngủ. Chẳng có ý nghĩa đếch gì; thế mà Chính phủ nhà mình cứ cố gán cho nó cái ý nghĩa "Giản dị Kiểu Cộng hòa", khiêm tốn với không khoe khoang. Cố cho lắm vào rồi thất bại thảm hại, vì làm quái gì có ai ngu mà tin vào cái trò khoe khoang sự giản dị lố lăng ấy. Cái tượng cố tình lấy cái lá nho che chỗ nhạy cảm để khoe mình kín đáo thì chỉ làm người ta thêm nghi ngờ cái sự kín đáo đó mà thôi. Mặc cái áo đuôi tôm dở dở dở ương ương đó đi làm việc quan chức chẳng khác nào một lời tuyên bố xấc xược, thiếu lịch sự về cái sự tự do vô lối. Nó như muốn đập vào mặt quan khách xung quanh rằng: 'Đến Rome nhưng chúng tao đếch thích nhập gia tùy tục; chúng tao không coi thói quen với truyền thống của chúng mày ra gì hết; chúng tao không việc gì phải nhượng bộ tập quán của ai cả; bọn tao thích phong cách của bọn tao hơn, và bọn tao mang nó đến đây đấy, làm gì nhau?'

Đấy đếch phải là tinh thần Mỹ thật sự, và mấy bộ đồ đó đang làm hoen ố bộ mặt của chúng ta. Khi một gã người ngoài đến đây mà vi phạm tập quán hay quy tắc ứng xử của mình, mình nóng mắt ngay, và điều đó hoàn toàn chính đáng; thế nhưng Chính phủ lại ép các đại sứ của mình sang xứ người mặc cái bộ đồ xúc phạm đến phong tục tập quán nước bạn; rốt cuộc cái tiếng xấu đó cả cái dân tộc này phải gánh.

Trước thời Franklin, chúng ta đâu có bắt quan chức mặc mấy cái thứ đồ nhạt nhẽo như thế; và sự thay đổi này cũng chẳng xảy ra nếu ông ấy chỉ là một gã vô danh tiểu tổ. Nhưng khổ nỗi ông ấy lại là một cây cổ thụ quá lớn trên thế giới, thành ra bất cứ cái trò quái gở nào ông ấy làm cũng thu hút sự chú ý của thiên hạ và trở thành tiền lệ. Về khoản ăn mặc, gã đại diện tiếp theo, rồi gã tiếp theo nữa cứ thế mà bắt chước. Sau đó, nó biến thành thói quen; mà thói quen thì cứng như đá: không có thuốc nổ thì đừng mơ bới nó lên trong vòng một thế kỷ. Chúng ta cứ tưởng cái gu ăn mặc quan trường quái dị này được tính toán kỹ lưỡng để biểu tượng cho sự "Giản dị Kiểu Cộng hòa"—một cái phẩm chất mà chúng ta chưa bao giờ có, và giờ thì quá già để học đòi, dù cho chúng ta có cần hay thích nó đi chăng nữa. Nhưng sự thật đếch phải thế; chẳng có sự tính toán nào ở đây cả; nó cứ thế phát triển một cách tự nhiên và cẩu thả từ cái tiền lệ mà Franklin vô tình dựng lên.

Nếu đó là một hành động cố ý và có nguyên tắc đàng hoàng, thì mọi chuyện đâu chỉ dừng lại ở đó: chúng ta đã phải áp dụng nó rộng rãi hơn rồi. Thay vì mặc cho các tướng quân, đô đốc những bộ lễ phục lộng lẫy mạ vàng chói lọi trong các phiên tòa quân sự hay sự kiện lớn, Chính phủ đã tống họ vào mấy cái áo đuôi tôm với cà vạt trắng, nhìn chẳng khác gì mấy gã đại sứ hay mấy gã hầu bàn. Nếu tôi có sai khi đổ cho Franklin là cha đẻ của cái gu ăn mặc kỳ cục này, thì cũng chả sao—cụ ấy gánh được hết.

Quan điểm của tôi—và tôi tư vấn miễn phí đấy nhé—là bất cứ khi nào bổ nhiệm một đại sứ hay bộ trưởng, chúng ta nên phong cho hắn hàm đô đốc hoặc trung tướng tạm thời, rồi cho phép hắn diện bộ quân phục tương ứng ở các buổi lễ nghi tại nước ngoài. Tôi đề xuất thế là vì cái uy danh của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đếch thể chấp nhận được việc đại diện của mình xuất hiện trong các dịp lễ lớn với một bộ dạng chướng mắt đến thế; mà đó chính là cái bộ đồ như ông chủ trại hòm hiện tại đang làm, một cái vết mực u ám nằm chềnh ềnh giữa cái rừng trang phục lộng lẫy như bướm hoa ở triều đình Châu Âu. Đó là cái thế khó khăn vô cùng cho một gã hay e ngại, một gã khiêm tốn, một gã quen sống như người bình thường. Hắn trở thành cái tâm điểm bất đắc dĩ; đếch thể giấu mình khỏi hàng ngàn con mắt soi bói. Không vì cái cảnh tượng đó quá dã man thì trông cũng hài hước phết, khi thấy một gã tội nghiệp mặc bộ đồ tang lễ đen ngòm cứ lén lút di chuyển trong cái biển màu sắc rực rỡ đó, trông chẳng khác nào một gã theo đạo Trưởng lão bị đi lạc xuống âm phủ. Ai trong chúng ta cũng thừa biết đồ đạc của quan chức không nên quá thu hút sự chú ý; vì trừ phi là thổ dân da đỏ, ai mà chẳng hiểu cái trò đó là rẻ tiền. Tôi nói những điều này là vì lòng tự tôn và uy danh của cái dân tộc này. Đại diện của chúng ta chính là lá cờ. Hắn là Nền Cộng hòa. Hắn là Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Và khi những đại diện đó bước qua, chúng ta không muốn họ bị thiên hạ dè bỉu; chúng ta muốn người ta phải công nhận rằng họ ăn mặc đúng tầm và lịch sự.

Chính phủ nhà mình trong cái khoản ăn mặc này đúng là tiền hậu bất nhất một cách buồn cười. Khi đại diện là một gã thường dân chưa từng đi lính, Chính phủ bắt hắn đóng đinh trong bộ đuôi tôm đen với cà vạt trắng; nhưng nếu hắn từng là lính, Chính phủ lại cho phép hắn diện quân phục thuộc hàm cũ làm lễ phục. Hồi Tướng Sickles làm đại sứ ở Tây Ban Nha, mỗi lần đi làm việc quan chức, ông ấy toàn phang bộ lễ phục Thiếu tướng. Hồi Tướng Grant đi thăm các triều đình phương Tây, ông ấy khoác bộ quân phục Đại tướng rực rỡ đàng hoàng, rồi được dẫn đường bởi mấy gã ngoại giao còn sót lại từ thời ông ấy làm Tổng thống. Mấy gã này, do quy định quan trường, bắt buộc phải khoác cái áo đuôi tôm khúm núm—một sự phản chiếu mỉa mai đến buồn cười: một bên đại diện cho sự uy nghiêm chân chính của quốc gia; một bên đại diện cho sự đạo đức giả rẻ tiền của cái truyền thống "Giản dị Kiểu Cộng hòa". Ở Paris, đại diện hiện tại của chúng ta có thể làm việc trong những bộ đồ tử tế; vì ông ấy từng là sĩ quan thời Nội chiến. Ở London, ngài cựu đại sứ cũng thế; vì ông ấy cũng từng là sĩ quan Nội chiến. Nhưng riêng ngài Choate thì lại phải đại diện cho Nền Cộng hòa Vĩ đại—ngay cả trong mấy bữa sáng quan trọng lúc bảy giờ sáng—trong cái bộ đuôi tôm hài hước cũ rích đó.

Cái quan niệm của Chính phủ mình về sự chuẩn mực trong ăn mặc đúng là kỳ quặc hết chỗ nói—nhìn cái thực tế cuối cùng đó là biết. Cái áo đuôi tôm thì cả thế giới ai chả biết là đếch ai mặc ban ngày; nó là đồ ban đêm, chỉ dành cho ban đêm—chẳng khác quái gì cái áo ngủ. Thế mà, khi đại diện của mình đi thăm xã giao vào buổi sáng, Chính phủ lại ép hắn phải mặc cái bộ đồ ngủ đó đi. Đến mấy con ngựa kéo xe nhìn thấy cũng phải bò ra mà cười.

Sự thật là, trong cái thế kỷ này, vào khoảng tầm gần bốn mươi năm trước, chúng ta từng có một khoảng thời gian tỉnh táo, dẹp bỏ cái trò giả tạo "Giản dị Kiểu Cộng hòa", và trang bị cho các đại diện ngoại giao những bộ lễ phục sang trọng, vừa vặn. Nhưng rồi về sau cái đó bị ném vào thùng rác, thay bằng cái áo đuôi tôm. Tôi cá là giờ chẳng ai nhớ gã chính khách nào đã bày ra cái trò thay đổi này; nhưng chúng ta đều biết rằng, dù gã có ngu ngốc đến đâu về chuẩn mực ngoại giao trong ăn mặc, gã cũng đếch bao giờ tống con gái mình đến một buổi dạ tiệc hoàng gia trong bộ đồ đi tuốt ngô, hay gửi nó đi tuốt ngô trong bộ đồ dạ tiệc, để rồi bị thiên hạ chửi vuốt mặt là gã vô văn hóa vi phạm mọi chuẩn mực. Và chúng ta còn biết một điều nữa, là chính gã cũng đếch bao giờ dám xúc phạm cảm xúc của một gia đình đang có tang bằng cách mò đến lễ tang trong một bộ đồ chướng mắt, đi ngược lại sự trang nghiêm và lễ nghi mà truyền thống đã quy định. Thế mà cái gã đó lại cẩu thả đến mức không thèm suy nghĩ rằng mọi tập quán xã hội của các dân tộc văn minh đều đáng được tôn trọng, và chẳng có một người đàng hoàng nào lại đi cố tình vi phạm những tập quán đó cả.

Vẫn còn một lý do nữa để có một bộ lễ phục ngoại giao hợp lý—đó là lý do kinh doanh. Chúng ta là một quốc gia buôn bán; và đại diện của chúng ta là một gã đại lý kinh doanh. Nếu hắn được tôn trọng, yêu mến ở nơi hắn cắm chốt, hắn có thể tạo ra ảnh hưởng để mở rộng thương mại và thúc đẩy sự thịnh vượng của chúng ta. Rất nhiều hoạt động kinh doanh của hắn nằm ở các mối quan hệ xã hội; và những bộ đồ không làm chướng mắt phong tục, tập quán địa phương là một vũ khí đắc lực của hắn trong khoản này—đáng lẽ phải thế, nếu như cụ Franklin mất sớm hơn một chút.

Tôi vẫn chưa dừng mấy cái góp ý miễn phí này đâu. Chúng ta đã tiến một bước dài khi lập ra cái ghế đại sứ. Cái hàm cao cấp đó cho phép gã sở hữu nó có ảnh hưởng, sự coi trọng và hiệu quả gấp nhiều lần cái hàm bộ trưởng. Vì uy danh của quốc gia và vì lợi ích kinh tế, chúng ta nên có đại sứ, chứ không phải bộ trưởng, tại các triều đình lớn trên thế giới.

Nhưng đếch phải với cái mức lương hiện tại! Không đời nào; nếu vẫn giữ cái mức lương này, thì đừng có bổ nhiệm thêm đại sứ làm gì nữa; và dẹp luôn mấy cái ghế đại sứ đã trót bổ nhiệm đi. Một cái vị trí ngon lành mà đếch có tiền để duy trì sự đàng hoàng—chẳng có tí khôn ngoan nào ở đây cả. Một gã đại diện ngoại giao, muốn có giá trị cho đất nước, thì phải quan hệ tốt với quan chức bản địa và giới có tiền có quyền. Hắn phải lăn lộn trong cái xã hội đó; hắn đếch thể ngồi xó nhà—đấy không phải là làm ăn, ngồi nhà thì thương mại đếch ra tiền được. Hắn phải đi ăn tối, đi dự tiệc, đi khiêu vũ, đi tiếp khách, và phải đáp lễ lại người ta. Hắn phải đáp lễ xứng tầm với những gì hắn nhận được, vì uy danh của đất nước, và vì Chuyện Làm Ăn. Đã có gã bộ trưởng hay đại sứ nào của mình làm được việc này bằng lương chưa? Chưa—chưa một lần nào, từ thời Franklin đến giờ. Các nước khác người ta thừa hiểu giá trị thương mại của việc nhét đầy tiền vào túi các đại diện của họ; nhưng có vẻ Chính phủ nhà mình vẫn chưa sáng mắt ra. Anh Quốc là cái gã buôn bán mát tay nhất trong số các quốc gia thương mại; và nó chăm sóc cực tốt cho mấy gã gác cổng trên cái tháp thương mại của nó. Đã lâu lắm rồi chúng ta mới không phải xấu hổ vì đại diện của mình ở xứ người. Giờ đã thành thói quen là toàn gửi mấy gã xịn nhất đi. Chúng ta gửi những gã kiệt xuất, có học thức, có nhân cách—những gã giỏi nhất, tinh túy nhất của chúng ta. Thế rồi chúng ta lại trói tay trói chân họ bằng cái mức lương bèo nhèo. Đây là bảng lương của các bộ trưởng, đại sứ Anh và Mỹ:

Sir Julian Pauncefote, đại sứ Anh tại Washington, còn được cấp một căn nhà cực ngon—mà đếch bị trừ một đồng nào vào lương.

Đại sứ Anh đếch phải trả tiền thuê nhà; họ sống trong các lâu đài thuộc sở hữu của Anh. Còn đại diện của chúng ta phải móc tiền túi ra mà trả tiền nhà. Nhìn vào mấy cái số liệu trên là các người biết Hợp chủng quốc Hoa Kỳ quen sống trong mấy cái loại nhà nào ở xứ người rồi đấy, và biết cái kiểu đáp lễ tiếp khách của cái nhà mình nó phèn đến mức nào. Chẳng có cái mức lương nào trong danh sách của mình đủ để thuê một căn nhà tử tế cho gã đại sứ, chứ đừng nói đến việc chi ra 3.000 đô cho tiền thịt muối với bánh rán của gia đình hắn—cái món ăn kỳ quặc nhưng tiết kiệm và quen thuộc của gia đình đại sứ Mỹ, trừ Chủ nhật ra thì có thêm mấy cái bánh quy Boston cứng như đá.

Đại sứ và bộ trưởng nước người ta không chỉ có lương khủng, mà Chính phủ họ còn cấp thêm tiền để chi trả một phần lớn các khoản tiệc tùng tiếp khách. Tôi cá là Chính phủ mình đếch trả một đồng tiệc tùng nào trừ mấy khoản của bên hải quân. Nhờ cái sự ưu ái này cho hải quân mà cái cánh đó mới gỡ gạc lại mặt mũi cho chúng ta ở xứ người; và điều đó rõ ràng là đúng đắn và khôn khéo. Nhưng tại sao Chính phủ lại không nghĩ rằng việc làm cho các nhà ngoại giao của chúng ta cũng có mặt mũi như thế ở nước ngoài là đúng đắn và khôn khéo, thì đó là một trong những sự bất nhất bí ẩn mà tôi chịu chết không hiểu nổi kể từ khi tôi bỏ trò tìm hiểu bóng chày để chuyển sang tiêu khiển bằng môn chính trị.

Quay lại cái chuyện tiền thuê nhà. Nhà tốt, đồ đạc đàng hoàng ở các thủ đô Châu Âu thì làm đếch gì có giá rẻ. Thành ra, các đại diện của mình toàn phải chui rúc ở mấy cái phòng gác xép—có khi trên cả mái nhà. Toàn gã nghèo, thì với cái mức lương Chính phủ trả, đấy là tất cả những gì họ có thể làm được rồi. Làm sao họ đáp lễ tử tế cho người ta được? Bất khả thi. Làm thế thì bay sạch lương trong vòng ba tháng. Thế nhưng, nghĩa vụ quan trường vẫn bắt họ phải tiếp đón giới có quyền lực theo một kiểu nào đó; và họ đành phải xoay xở hết mức với cái túi tiền lép kẹp. Thay vì champagne, họ mời nước chanh; thay vì thịt thú săn, họ mời thịt muối; thay vì thịt cá cá ngừ, họ mời cá mòi; thay vì rượu ngon, họ mời sữa đặc; thay vì một quân đoàn gia nhân mặc lễ phục chát phấn, họ thuê một cô người làm; thay vì cái không gian trang trí lộng lẫy như thần thoại, họ phủ lá cờ Mỹ lên cái bếp sưởi; thay vì dàn nhạc giao hưởng, họ cho gia đình gảy đàn zither và hát mấy bài dân ca; còn thay cho buổi dạ tiệc—thì họ dẹp luôn, trừ mấy ông đại sứ Mỹ sống trên mái nhà có đủ không gian rộng rãi.

Đây có phải là nói phét không? Đếch phải nói phét đâu. Nhiều năm trước, tôi đã chứng kiến một cảnh tượng gần như thế rồi. Một gã bộ trưởng đang cố tạo quan hệ với mấy gã có quyền để xúc tiến một dự án có thể mang lại mười triệu đô một năm cho nông dân nhà mình; và Chính phủ cấp cho hắn thịt muối với nước chanh để đi thuyết phục phe đối lập. Kết quả là gã bộ trưởng thất bại thảm hại. Dù cho lương hắn có đúng tầm—50.000 hay 60.000 đô một năm—thì chưa chắc hắn đã thành công, nhưng cơ hội của hắn chắc chắn sẽ cao hơn nhiều. Và dù thế nào đi nữa, hắn, bữa tối của hắn và đất nước hắn cũng sẽ không bị đám người sắt đá lấy ra làm trò cười hay bị mấy gã thương hại nghiệp dư rủ lòng thương.

Bất kỳ gã 'chào hàng' nào có kinh nghiệm cũng sẽ thề với anh rằng, khi muốn chốt đơn làm ăn, tiết kiệm tiền bằng thịt muối với nước chanh là cái trò ngu nhất. Gã chào hàng sẽ dẫn khách búp phê đi xem kịch, xem opera, xem xiếc; mời ăn ngon, uống rượu xịn, chiều chuộng khách từ sáng đến đêm theo phong cách sang chảnh nhất; và đánh vào bản chất con người bằng đủ trò dụ dỗ. Vì hắn thừa biết, từ kinh nghiệm xương máu, rằng đó là cách tốt nhất để ẵm được cái đơn hàng ngon lành. Hắn thu về quả ngọt. Mọi Chính phủ trừ cái Chính phủ nhà mình đều chơi theo chính sách đó, với cùng một mục tiêu; và họ cũng hái được quả ngọt. Duy chỉ có cái Chính phủ mình là từ chối làm ăn theo kiểu chuyên nghiệp, cứ bám lấy cái món thịt muối với nước chanh. Đó là cái thực đơn đắt đỏ nhất trong ngành ngoại giao thế giới.

Nước mình là cái nước lớn duy nhất trả cái mức lương bèo nhèo cho đại diện ở xứ người. Nếu mình nghèo, thì cái trò tiết kiệm này còn chước thứ lỗi được—ít ra người ta còn tìm được một lý do nghe có vẻ lọt tai. Nhưng mình đếch nghèo; thế nên cái lý do đó vứt đi. Như đã trưng ra ở trên, vài đại diện ngoại giao quan trọng của mình nhận 12.000 đô; số khác nhận 17.500 đô. Mấy cái mức lương này toàn là thịt muối với nước chanh, đếch xứng đáng với lá cờ. Khi mình có một gã đại sứ giàu khụ ở London hay Paris, hắn sống đúng cái tầm của một gã đại sứ đại diện cho cái nước như nước mình, và hắn phải móc tiền túi ra 100.000 đô một năm để làm việc đó. Nhưng tại sao chúng ta lại để hắn tự trả cái khoản đó bằng tiền riêng? Chẳng có gì công bằng ở đây cả; và Nền Cộng hòa đếch phải là cái đối tượng để ai đi làm từ thiện. Trong nhiều trường hợp, cái mức lương 12.000 đô của mình phải nâng lên 50.000 đô; và tất cả mấy cái mức 17.500 đô phải nâng lên 75.000 hay 100.000 đô, vì mình đếch có trả tiền nhà cho đại diện nào cả. Bộ Ngoại giao mình thừa biết cái sai lầm này, và cũng muốn sửa lắm, nhưng khổ nỗi đếch có quyền.

Khi một cô con gái đến tuổi mười tám, thiên hạ công nhận cô ấy là phụ nữ. Cô ấy hạ váy xuống thêm sáu inch, tháo mấy cái bím tóc đung đưa ra rồi búi củ tơ trên đỉnh đầu, thôi không ngủ chung với đứa em gái nữa mà đòi phòng riêng, và trở thành một cái khoản tốn tiền khủng khếp. Nhưng cô ấy đã bước vào giới xã giao rồi; và bố cô ấy phải gánh tất. Đếch né đi đâu được. Được rồi. Nền Cộng hòa Vĩ đại năm ngoái cũng vừa hạ thấp gấu váy, búi tóc lên, và bước chân vào cái giới xã giao thế giới. Điều này có nghĩa là, nếu muốn làm ăn phát đạt và có chỗ đứng ngon lành trong xã hội, nó phải dẹp bớt mấy cái thói quen và quan niệm thơ dại thời trẻ ranh đi, và làm theo cách của xã hội. Dĩ nhiên, nó thích từ chối thì cứ việc; nhưng làm thế là ngu. Bây giờ đã 'ra mắt' rồi, nó phải hiểu rằng đây là lúc thích hợp để thay đổi cái phong cách của mình. Đã đến Rome rồi, và người ta đã công nhận từ lâu rằng đến Rome thì nên nhập gia tùy tục. Để làm lợi cho Rome à? Không—để làm lợi cho chính bản thân nó.

Nếu Chính phủ mình thực sự đã chi cho mấy gã đại diện trong Ủy ban Paris 100.000 đô mỗi gã cho sáu tuần làm việc, thì tôi tin chắc đó là khoản đầu tư tiền mặt ngon ăn nhất mà cái dân tộc này làm được trong nhiều năm qua. Vì đếch thể nào, khi đã có cái tiền lệ đó trên sổ sách, Chính phủ lại còn kiếm được lý do để duy trì cái mức lương ngoại giao bèo nhèo như hiện tại nữa.

T.B.—VIENNA, ngày 10 tháng 1.—Đọc điện văn sáng nay, tôi mới biết mình đếch được làm đại sứ mới ở đây nữa rồi. Cái này—hừm, tôi cũng chẳng biết nói gì nữa. Tôi—chà, dĩ nhiên là tôi đếch quan tâm làm gì; nhưng ít ra thì nó cũng gây bất ngờ đấy. Mấy tháng nay tôi đã dùng ảnh hưởng của mình ở Washington để biến cái ghế ngoại giao này thành ghế đại sứ, với cái ý định, dĩ nhiên th—Nhưng mà thôi bỏ đi. Cho qua đi. Đếch quan trọng. Tôi nói điều này một cách vô cùng bình thản; vì tôi đang rất bình thản. Nhưng đồng thời—Tuy nhiên, cái chủ đề này đếch có tí hấp dẫn nào với tôi, và chưa bao giờ có cả. Tôi cũng đếch bao giờ thực sự có ý định nhận cái ghế đó đâu—tôi đã quyết định từ nhiều tháng trước rồi, cả năm nay rồi. Nhưng giờ, trong lúc đang bình thản, tôi muốn nói điều này—rằng chừng nào tôi còn giữ cái lòng tự tôn của một người Mỹ đối với danh dự và uy nghiêm của đất nước, tôi sẽ đếch nhận bất kỳ cái ghế đại sứ nào dưới lá cờ này với cái mức lương dưới 75.000 đô một năm. Nếu ai đó buộc tội tôi là muốn sống vượt quá năng lực của đất nước, thì tôi cũng chịu. Một cái đất nước mà đếch gánh nổi lương đại sứ thì nên biết xấu hổ khi đòi có đại sứ.

Thử nghĩ về một gã đại sứ giá Mười Bảy Ngàn Năm Trăm Đô mà xem! Nhất là lại là đại sứ Mỹ nữa chứ. Chao ôi, đó là cái cảnh tượng hài hước nhất, vô lý và chướng mắt nhất mà cái trí tưởng tượng bệnh tật nhất có thể vẽ ra. Nó giống như một gã tỷ phú đeo cái cổ áo bằng giấy, một gã vua mặc cái xà-rông, một vị tổng thiên thần mang cái hào quang bằng tôn. Và, về khoản giả tạo và đạo đức giả thuần túy, cái mức lương đó đúng là cặp bài trùng với bộ lễ phục của ngài đại sứ—cái sự quảng cáo khoác lác về một thứ "Giản dị Kiểu Cộng hòa" mà ở nhà thì lại đi trả cái mức lương Năm Mươi Ngàn Đô cho mấy gã chủ tịch bảo hiểm với luật sư đường sắt, rồi xây mấy cái dinh thự gia đình mà đồ đạc nội thất lắm lúc còn vượt mặt về sự xa hoa chói lọi và đắt đỏ so với dinh thự của mấy gã quốc vương Châu Âu; rồi cái sự giản dị đó đã sáng chế và xuất khẩu sang Cựu Lục địa những toa xe hoàng gia, toa xe ngủ, toa xe điện, xe kéo điện, những cái xe đạp xịn nhất, ô tô ngon nhất, hệ thống sưởi hơi nước, mấy cái hệ thống chuông điện và điện thoại hỗ trợ cho sự lười biếng và tiện nghi xịn nhất, cái thang máy, phòng tắm riêng (có nước nóng lạnh xả tận nơi), mấy cái khách sạn hạng sang với đủ loại tiện ích, sự thoải mái, phô trương và xa hoa, rồi—ôi, cái danh sách này kéo dài vô tận! Nói một cách ngắn gọn, cái sự Giản dị Kiểu Cộng hòa đã tìm thấy Châu Âu trong tình trạng cởi tồng ngồng về mặt tiện nghi, sự thoải mái và sang trọng thực sự, rồi mặc cho nó từ chân đến cổ những thứ đó. Chúng ta là cái dân tộc ăn chơi, phô trương và mê xa hoa nhất trên cái trái đất này; và trên đỉnh cột cờ của chúng ta đang bay một biểu tượng chân thực và đàng hoàng nhất, lá cờ rực rỡ nhất mà thế giới từng thấy. Ôi, cái sự Giản dị Kiểu Cộng hòa ơi, trên đời này có vô số trò bịp bợm, nhưng đếch có cái trò nào mà mày phải ngả mũ bái phục đâu!

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.