Người làm vấy bẩn Hadleyburg và những truyện khác

Lượt đọc: 118 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Màn Ra Mắt Của Tôi Với Tư Cách Một Văn Nhân

❊ ❊ ❊

Hồi đó tôi đã kịp nhét một bài viết nhỏ con ("Con Ếch Nhảy") lên cái báo miền Đông, nhưng tôi chả coi cái đó là thành tựu gì. Mấy cái đứa chỉ viết báo quơ quào thì không cửa nào tự nhận mình là Văn Nhân chính hiệu được: phải nâng tầm bản thân lên, phải chễm chệ trên tạp chí lớn. Có thế mới ra dáng Văn Nhân, và quan trọng nhất là nổi tiếng ngay lập tức. Mối tham vọng đó thôi thúc tôi dữ dội vào năm 1866. Tôi chuẩn bị sẵn bài viết, rồi dáo dác tìm cái tạp chí ngầu nhất để bước lên đài vinh quang. Tôi chốt ngay cái tạp chí máu mặt nhất ở New York. Bài của tôi được duyệt. Tôi ký tên "MARK TWAIN"; cái tên đó vốn đã có chút tiếng tăm ở bờ biển Thái Bình Dương, và ý đồ của tôi là dùng một cú nhảy này để phủ sóng cái tên đó ra toàn thế giới. Bài báo lên số tháng Mười hai, và tôi thao thức suốt một tháng chờ số tháng Giêng năm sau; vì số đó sẽ in danh sách các cộng tác viên trong năm, có tên tôi trong đó, tôi sẽ nổi tiếng lẫy lừng và tha hồ mở tiệc ăn mừng như đã tính toán.

Thế nhưng tiệc tùng xịt ngòi. Tôi viết chữ "MARK TWAIN" không được rõ ràng; đó lại là một cái tên hoàn toàn lạ lẫm với thợ in miền Đông, nên họ gõ thành "Mike Swain" hoặc "MacSwain", giờ tôi cũng chả nhớ rõ là tên nào. Rốt cuộc, vinh quang chả thấy đâu và tiệc tùng cũng dẹp. Tôi đúng là một Văn Nhân đấy, nhưng là một Văn Nhân bị chôn sống.

Bài viết của tôi kể về vụ cháy tàu 'Hornet' ngay tại xích đạo vào ngày 3 tháng 5 năm 1866. Lúc ấy trên tàu có ba mươi mốt con người. Tôi đang ở Honolulu thì mười lăm gã sống sót gầy giuộc như hồn ma mò được đến nơi sau bốn mươi ba ngày lênh đênh trên một chiếc thuyền mở, băng qua vùng nhiệt đới nắng như thiêu như đốt với vỏn vẹn mười ngày lương thực. Một chuyến đi phi thường; nhưng nó được dẫn dắt bởi một vị thuyền trưởng cũng phi thường không kém, chứ không thì làm quái gì có ai sống sót. Ông ấy là một tay đi biển cừ khôi thuộc dòng dõi New England thời vang bóng—Thuyền trưởng Josiah Mitchell.

Tôi có mặt ở quần đảo để viết thư cho bản tuần báo của tờ Sacramento 'Union', một nhật báo giàu có và uy quyền. Thật ra họ chả cần mấy lá thư này lắm, nhưng vẫn xông xênh chi hẳn hai mươi đô một tuần cho vui. Những người chủ ở đó là những người vô cùng dễ mến: giờ chắc họ đã khuất núi từ lâu, nhưng trong lòng tôi luôn dành cho họ sự biết ơn sâu sắc; bởi tôi cực kỳ muốn đi thăm quần đảo, và họ đã lắng nghe, trao cho tôi cơ hội dù biết thừa chẳng thu lại lợi lộc gì.

Tôi đã ở trên đảo được vài tháng thì nhóm người sống sót cập bến. Lúc đó tôi đang nằm bệt trong phòng, không đi lại nổi. Đây là cơ hội ngàn vàng để cống hiến cho tờ báo, vậy mà tôi lại bất lực. Tôi lo lắng sốt ruột vô cùng. Nhưng may mắn thay, Ngài Anson Burlingame lúc đó cũng đang ở đấy trên đường sang Trung Quốc nhận công tác. Ông ấy đến tận nơi, cho người khiêng tôi trên cáng vào bệnh viện nơi những người sống sót đang nằm, và tôi chẳng cần phải mở miệng hỏi một câu nào. Chính tay ông ấy lo liệu mọi việc, tôi chỉ việc ngồi ghi chép. Phong thái làm việc của ông ấy luôn chu đáo như thế. Một con người vĩ đại, một người Mỹ kiệt xuất, luôn sẵn sàng gạt bỏ địa vị cao sang để ra tay giúp đỡ người khác.

Chúng tôi xong việc lúc sáu giờ tối. Tôi bỏ luôn bữa tối vì không thể lãng phí một phút nào nếu muốn đánh bại các phóng viên khác. Tôi bỏ ra bốn tiếng để sắp xếp lại đống ghi chép, rồi viết xuyên đêm cho tới tận sáng. Kết quả là đúng chín giờ sáng tôi đã có một bản tường thuật chi tiết, dài ngoẵng về vụ việc tàu 'Hornet', trong khi đám phóng viên báo San Francisco chỉ có mỗi cái tóm tắt sơ sài—vì chúng nó có chịu thức đêm đâu. Mấy chiếc thuyền buồm thỉnh thoảng mới có chuyến sắp dời bến đi San Francisco lúc chín giờ; khi tôi ra đến cầu cảng thì tàu đã tháo dây mũi và đang thả nốt dây lái. Phong thư dày cộp của tôi được một cánh tay lực lưỡng quăng thẳng lên tàu, và chiến thắng đã nằm chắc trong tay tôi. Đúng như dự đoán, khi tàu cập bến San Francisco, chính bản tường thuật đầy đủ của tôi đã gây chấn động và được ông Cash điện đài trực tiếp về các báo ở New York; lúc đó ông ấy đang phụ trách chi nhánh Thái Bình Dương của tờ 'New York Herald'.

Ít lâu sau, khi trở về California, tôi lên Sacramento và đưa ra hóa đơn tiền bài viết thông thường là hai mươi đô một tuần. Họ trả ngay. Sau đó, tôi đưa tiếp hóa đơn cho dịch vụ 'đặc biệt' về vụ tàu 'Hornet' gồm ba cột báo chữ nhỏ cỡ nonpareil với giá một trăm đô một cột. Gã kế toán không xỉu tại chỗ, nhưng cũng suýt soát. Gã cho gọi các chủ báo đến, họ tới và chẳng hề phàn nàn một lời. Họ chỉ cười lớn khoái trí, bảo đây đúng là một cú trấn lột, nhưng chẳng sao; đó là một cú "trúng mánh" vĩ đại (hóa đơn hay bài báo của tôi thì tôi cũng chả rõ): 'Trả tiền đi. Mọi thứ hoàn toàn xứng đáng.' Những người chủ báo tuyệt vời nhất trên đời.

Những người sống sót của tàu 'Hornet' cập bến Sandwich vào ngày 15 tháng 6. Họ chỉ còn là những bộ xương bọc da; quần áo rộng thùng thình treo trên người chẳng khác nào lá cờ rủ trên cột mast lúc lặng gió. Nhưng họ được chăm sóc chu đáo trong bệnh viện; người dân Honolulu tiếp tế cho họ đủ mọi sơn hào hải vị; họ hồi phục sức khỏe rất nhanh và chẳng mấy chạp đã khỏe mạnh trở lại. Trong vòng hai tuần, hầu hết họ đã lên tàu về San Francisco; đó là nếu ký ức của tôi không nhầm lẫn về ngày tháng. Tôi đi cùng chuyến tàu buồm đó. Thuyền trưởng Mitchell của tàu 'Hornet' cũng đi cùng, cùng với những hành khách duy nhất mà tàu 'Hornet' từng chở: hai anh em trẻ tuổi nhà Ferguson, Samuel và Henry, đến từ Stamford, Connecticut. Tàu 'Hornet' vốn là một chiếc tàu buồm hạng nhất chạy rất nhanh; khoang của hai thanh niên này rộng rãi, thoải mái, lại được trang bị đầy đủ sách vở cùng đồ hộp thịt và hoa quả để cải thiện bữa ăn trên tàu; khi tàu rời cảng New York vào tuần đầu tiên của tháng Giêng, ai nấy đều tin tưởng chuyến đi mười bốn hay mười lăm ngàn dặm phía trước sẽ diễn ra nhanh chóng và êm đẹp. Ngay khi rời khỏi vùng vĩ độ lạnh giá để bước vào tiết trời mùa hạ, chuyến đi trở thành một kỳ nghỉ dã ngoại. Con tàu lướt về phía nam dưới vòm buồm rộng lớn mà không cần phải chỉnh sửa hay thay đổi gì suốt nhiều ngày liền. Hai thanh niên đọc sách, dạo bước trên boong tàu rộng rãi, nghỉ ngơi và chợp mắt dưới bóng râm của cánh buồm, ăn uống cùng thuyền trưởng; và khi màn đêm buông xuống, họ cùng ông chơi bài whist cho đến giờ đi ngủ. Sau những trận tuyết, băng giá và bão tố ở Mũi Horn, con tàu lại lao về phía bắc vào bầu không khí mùa hè, và chuyến đi lại trở thành một buổi dã ngoại lần nữa.

Cho đến rạng sáng ngày 3 tháng 5. Tọa độ tính toán của tàu là 112 độ 10 phút kinh độ, vĩ độ 2 độ Bắc xích đạo; không một gợn gió, biển lặng như tờ; nhiệt độ không khí oi nồng, thiêu đốt của vùng nhiệt đới, thứ mà ai chưa từng trải qua thì không tài nào hình dung nổi. Bất ngờ có tiếng la ó báo cháy. Một tên thủy thủ vô kỷ luật đã phạm quy khi ôm ngọn đèn trần chui vào khoang chứa để rút dầu véc-ni từ một thùng gỗ. Hậu quả tất yếu xảy ra, và số phận con tàu coi như đã điểm.

Thời gian vô cùng gấp rút, nhưng vị thuyền trưởng đã tận dụng tối đa từng giây. Ba chiếc thuyền cứu hộ được hạ xuống—một thuyền lớn và hai thuyền nhỏ. Việc hạ thuyền diễn ra trong sự vội vã và hỗn loạn đến mức một chiếc thuyền bị đâm thủng một lỗ bên hông do va chạm, còn một chiếc khác thì bị một mái chèo đâm xuyên qua thành. Việc đầu tiên của thuyền trưởng là cho khiêng bốn thủy thủ đang bị bệnh lên boong để tránh nguy hiểm—trong đó có một gã "Bồ Đào Nha". Tên này chẳng làm nổi một việc gì suốt chuyến đi, chỉ biết nằm ườn trên võng suốt bốn tháng trời để dưỡng một khối áp-xe. Khi chúng tôi ghi chép tại bệnh viện Honolulu và một thủy thủ kể lại chuyện này với ông Burlingame, gã thuyền phó ba đang nằm gần đó liền cố sức ngẩng đầu lên, dùng giọng nói yếu ớt nhưng đầy trang nghiêm và uất hận để đính chính:

'Dưỡng áp-xe cái quái gì! Hắn nuôi cả một đàn áp-xe thì có. Hắn làm thế chỉ để trốn ca trực mà thôi.'

Bất kỳ lương thực nào vơ vét được đều được các thủy thủ và hai hành khách gom lại rồi ném xuống boong nơi gã "Bồ Đào Nha" đang nằm; sau đó họ lại chạy đi tìm tiếp. Tên thủy thủ kể chuyện này với ông Burlingame nói thêm:

'Bằng cách đó chúng tôi đã gom được lượng lương thực đủ dùng trong thirty-two ngày cho ba mươi mốt người.'

Gã thuyền phó ba lại ngẩng đầu lên đính chính lần nữa—với thái độ đầy cay đắng:

'Tên "Bồ Đào Nha" đó đã hốc mất hai mươi hai phần trong lúc nằm ăn bám ở đấy mà không ai để ý. Đúng là cái đồ chó chết.'

Ngọn lửa bùng phát cực kỳ nhanh chóng. Khói và lửa cuồn cuộn đẩy lùi mọi người, buộc họ phải dừng việc gom lương thực dở dang và leo lên thuyền cứu hộ với vỏn vẹn mười ngày khẩu phần ăn.

Mỗi thuyền đều có một la bàn, một thước lục phân, một cuốn 'Chỉ nam Hàng hải' của Bowditch, và một Lịch thiên văn hàng hải; riêng thuyền của thuyền trưởng và thuyền phó một có thêm đồng hồ bấm giờ hàng hải. Tổng cộng có ba mươi mốt con người. Thuyền trưởng kiểm kê lại toàn bộ số lương thực thu gom được: bốn đùi lợn muối, gần ba mươi cân thịt lợn muối, nửa hộp nho khô, một trăm cân bánh quy, mười hai hộp hàu, sò và thịt hộp loại hai cân, một thùng nhỏ chứa bốn cân bơ, mười hai gallon nước trong một thùng chứa bốn mươi gallon, bốn bình thủy tinh lớn chứa đầy nước loại một gallon, ba chai rượu vang (tài sản của hành khách), một ít tẩu thuốc, diêm, và một trăm cân thuốc lá. Không hề có thuốc me. Dĩ nhiên, toàn bộ đoàn người ngay lập tức phải thắt lưng buộc bụng với khẩu phần ăn cắt giảm tối đa.

Thuyền trưởng và hai hành khách đều ghi nhật ký. Trong chuyến đi đến San Francisco, chúng tôi gặp phải một vùng biển lặng ở giữa Thái Bình Dương và không nhúc nhích được một thước nào suốt mười bốn ngày; điều này cho tôi cơ hội chép lại các cuốn nhật ký đó. Cuốn của Samuel Ferguson là đầy đủ nhất; tôi sẽ trích dẫn ra đây. Khi đoạn văn sau được viết, con tàu xấu số đã ra khơi khoảng một trăm hai mươi ngày, và mọi người vẫn đang trải qua những ngày tháng nhàn rỗi như thường lệ, không một ai lường trước được thảm họa sắp ập đến.

Ngày 2 tháng 5. Vĩ độ 1 độ 28 phút Bắc, kinh độ 111 độ 38 phút Tây. Lại một ngày oi nồng và ảu trĩu; tuy nhiên có lúc mây đen hứa hẹn sẽ có gió, và một luồng gió nhẹ thổi đến—vừa đủ để giữ cho tàu nhúc nhích. Điều duy nhất đáng ghi nhận hôm nay là số lượng cá vô số kể xung quanh; buổi sáng bắt được chín con cá ngừ bonito, và thấy vài con cá ngừ albacore lớn. Sau bữa ăn trưa, thuyền phó một móc phải một con cá to quá không giữ nổi, đành thả dây cho thuyền trưởng đang ở mũi tàu. Thuyền trưởng giữ chặt dây rồi giật mạnh một cái, dây đứt đôi, mất cả móc lẫn dây. Chúng tôi cũng thấy phía sau lái một con cá mập khổng lồ dài chừng chín hoặc mười feet đang bơi lờ đờ đuổi theo. Chúng tôi dùng đủ loại dây và một miếng thịt lợn để nhử nhưng nó không chịu cắn câu. Tôi đoán nó đã no nê với đống đầu cá và ruột cá ngừ mà chúng tôi vứt xuống biển rồi.

Nhật ký ngày hôm sau ghi lại thảm họa. Ba chiếc thuyền cứu hộ thoát ra ngoài, chèo ra xa một đoạn rồi dừng lại. Hai chiếc thuyền bị hư hỏng rò rỉ nước dữ dội; một số người phải liên tục múc nước ra, những người khác cố gắng bít các lỗ thủng lại. Thuyền trưởng, hai hành khách và mười một thủy thủ ngồi trên chiếc thuyền lớn cùng với một phần lương thực và nước uống, khoảng trống cực kỳ chật chẹp vì chiếc thuyền chỉ dài mười một feet, rộng sáu feet và sâu ba feet. Thuyền phó một và tám thủy thủ ngồi trên một chiếc thuyền nhỏ, thuyền phó hai và bảy thủy thủ ngồi trên chiếc còn lại. Hai hành khách chẳng mang theo được quần áo gì ngoài bộ đồ đang mặc trên người và mấy chiếc áo khoác ngoài. Con tàu chìm trong biển lửa, bốc lên một cột khói đen kịt cao ngút trời, tạo nên một cảnh tượng hùng vĩ giữa sự cô độc của biển cả, và suốt nhiều giờ liền những kẻ trôi dạt chỉ biết ngồi nhìn nó cháy. Trong lúc đó, thuyền trưởng nhẩm tính khoảng cách mênh mông giữa họ và vùng đất liền gần nhất, rồi cắt giảm khẩu phần ăn để đối phó với tình hình khẩn cấp; nửa chiếc bánh quy cho bữa trưa; một chiếc bánh quy và chút thịt hộp cho bữa tối; nửa chiếc bánh quy cho bữa trà; vài ngụm nước cho mỗi bữa. Và thế là cơn đói bắt đầu cào xé ruột gan khi con tàu vẫn đang bùng cháy.

Ngày 4 tháng 5. Tàu cháy suốt đêm rất sáng, hy vọng có tàu nào đó thấy ánh lửa và tiến lại gần cứu. Tuy nhiên sáng nay không thấy bóng dáng chiếc nào, nên chúng tôi quyết định cùng nhau đi về hướng bắc và hơi lệch về phía tây để đến vài hòn đảo ở vĩ độ 18 hoặc 19 độ Bắc và kinh độ 114 đến 115 độ Tây, hy vọng trên đường đi sẽ được tàu nào đó vớt. Con tàu chìm nghỉm đột ngột vào khoảng 5 giờ sáng. Mặt trời rất nóng và thiêu đốt, nhưng mọi người đều cố tránh nắng hết mức có thể.

Bây giờ họ làm một việc rất tự nhiên: chờ đợi suốt nhiều giờ liền để hy vọng chiếc tàu nào đó nhìn thấy ánh lửa sẽ chậm chạp tiến về phía họ qua vùng biển lặng sóng. Sau đó họ từ bỏ hy vọng và bắt đầu lên kế hoạch. Nếu nhìn vào bản đồ, bạn sẽ bảo tuyến đường của họ rất dễ quyết định. Đảo Albemarle (thuộc quần đảo Galapagos) nằm thẳng về phía đông cách đó gần mười ngàn dặm; các hòn đảo được nhắc đến trong nhật ký là 'vài hòn đảo' (Quần đảo Revillagigedo) mà họ nghĩ nằm ở một vùng biển mơ hồ nào đó phía bắc cách khoảng một ngàn dặm và lệch về phía tây một trăm hoặc một trăm mười dặm. Acapulco, trên bờ biển Mexico, nằm ở hướng đông bắc cách đó chưa đầy một ngàn dặm. Bạn sẽ nói những đá ngầm trọc lóc giữa đại dương không phải là thứ họ cần; cứ nhắm thẳng Acapulco và lục địa vững chắc mà tiến. Nghe thì có vẻ là một nước đi hợp lý, nhưng đọc nhật ký mới thấy đó là quyết định hoàn toàn điên rồ—chẳng khác nào tự sát. Nếu các thuyền nhắm đến Albemarle, họ sẽ phải đâm đầu vào vùng khí hậu xích đạo đứng gió suốt cả chặng đường; điều đó đồng nghĩa với cái chết trên biển, với những luồng gió điên rồ thổi cùng lúc từ mọi hướng và giật ngược từ trên xuống. Nếu cố tiến về Acapulco, họ sẽ thoát khỏi vùng đứng gió khi đi được nửa chặng đường—trong trường hợp họ lết được đến đó—và rồi sẽ rơi vào kịch bản thảm thương: gặp phải gió mậu dịch hướng đông bắc thổi thẳng vào mặt, trong khi cánh buồm của mấy chiếc thuyền này lại không thể giương ngược gió. Thế nên họ khôn khôi chọn cách đi về phía bắc, hơi lệch về phía tây. Họ chỉ có mười ngày khẩu phần ăn tiết kiệm; thuyền lớn phải kéo theo hai thuyền nhỏ; họ không thể trông chờ vào bất kỳ tiến triển rõ rệt nào trong vùng đứng gió, mà trước mặt họ vẫn còn bốn hoặc năm trăm dặm vùng đứng gió nữa. Đó mới thực sự là vùng xích đạo, một vành đai mưa bão, cuồng phong rộng tới mười hoặc mười hai trăm dặm ôm trọn lấy quả địa cầu.

Đêm đầu tiên trời mưa tầm tã khiến ai nấy ướt sũng, nhưng họ đã hứng đầy thùng nước. Hai anh em nhà Ferguson ngồi ở phía lái cùng thuyền trưởng, người cầm lái. Khoang thuyền chật chội, chẳng ai ngủ nghẹt gì được. 'Tiếp tục giữ đúng hướng cho đến khi các cơn cuồng phong cản bước.'

Mùa sáng hôm sau trời đầy bão tố và cuồng phong kèm mưa như trút nước. Biển cuộn sóng dữ dội vô cùng nguy hiểm. Người ta phải kinh ngạc không hiểu sao những chiếc thuyền nhỏ như thế lại có thể sống sót nổi. Khi một người cùng một con chó vượt Đại Tây Dương trên chiếc thuyền cỡ chiếc thuyền lớn này, người ta gọi đó là kỳ tích mạo hiểm hiểm hóc, và đúng là thế thật; nhưng chiếc thuyền lớn này lại chở quá tải người cùng đồ đạc, và chỉ sâu có ba feet. 'Chúng tôi tự nhiên nghĩ nhiều về gia đình ở quê nhà, và cảm thấy an lòng khi nhớ ra hôm nay là Chủ nhật Lễ Ban Thánh Thể, bạn bè sẽ cầu nguyện cho chúng tôi, dù họ chẳng hề biết đến nguy hiểm mà chúng tôi đang gặp phải.'

Thuyền trưởng thậm chí không chợp mắt được lấy một phút trong ba ngày ba đêm đầu tiên, mãi đến đêm thứ tư ông mới thiếp đi được một lúc. 'Sóng biển dữ dội nhất từ trước đến nay.' Khoảng mười giờ đêm thuyền trưởng đổi hướng sang đông-đông-bắc, hy vọng tới được Đá Clipperton. Nếu thất bại thì cũng chẳng sao; ông sẽ ở vị trí thuận lợi hơn để tiến tới các hòn đảo khác. Tôi cũng xin nói thêm ở đây là ông ấy đã không tìm thấy hòn đá đó.

Ngày 8 tháng 5 cả ngày không có gió; mặt trời nóng như thiêu như đốt; họ phải chuyển sang chèo tay. Cá heo bơi đầy xung quanh nhưng không tài nào bắt được con nào. 'Tôi nghĩ tất cả chúng tôi bắt đầu nhận ra ngày càng rõ tình cảnh kinh hoàng mà mình đang gặp phải.' 'Một chiếc tàu lớn thường mất cả tuần mới qua khỏi vùng đứng gió; vậy thì cái thuyền cùi cọc này của chúng tôi sẽ mất bao lâu nữa?' 'Chúng tôi chật chội đến mức không thể duỗi thẳng người ra mà ngủ cho tử tế, đành phải nằm vật vờ bất cứ thế nào có thể.'

Dĩ nhiên cái hoàn cảnh này sẽ ngày càng trở nên tồi tệ hơn, nhưng theo bản tính con người thì người ta sẽ dần ngưng ghi chép nó lại; sẽ còn năm tuần lênh đênh như thế nữa—chúng ta phải cố nhớ lấy điều đó cho người viết nhật ký; nó sẽ làm cho chiếc giường của chúng ta êm ái hơn nhiều.

Ngày 9 tháng 5 mặt trời gửi cho anh một lời cảnh báo: 'Mắt nhìn ra chân trời thấy cắt nhau thành dấu cộng +.' 'Henry vẫn khỏe, nhưng nó hay trăn trở về những rắc rối của chúng tôi hơn tôi mong muốn.' Họ bắt được hai con cá heo; ăn rất ngon miệng. 'Thuyền trưởng tin rằng la bàn bị lệch, nhưng Sao Bắc Đẩu vốn biến mất từ lâu nay đã xuất hiện—một hình ảnh thật mừng rỡ—và xác nhận la bàn vẫn đúng.'

Ngày 10 tháng 5, 'vĩ độ 7 độ 0 phút 3 giây Bắc, kinh độ 111 độ 32 phút Tây.' Vậy là họ đã đi được khoảng ba trăm dặm về phía bắc trong mười sáu ngày kể từ khi rời bỏ con tàu đắm. 'Lênh đênh trong vùng biển lặng cả ngày.' Và nóng như thiêu như đốt, dĩ nhiên rồi; tôi từng ở dưới đó nên tôi nhớ rất rõ chi tiết này. 'Đúng như thuyền trưởng nói, mọi sự lãng mạn đã tan biến từ lâu, và tôi nghĩ hầu hết chúng tôi bắt đầu đối mặt trực diện với thực tế về tình cảnh kinh hoàng của mình.' 'Chúng tôi chẳng tiến thêm được bao nhiêu trên hành trình.' Tin xấu từ chiếc thuyền đi sau cùng: đống thủy thủ thật phung phí; 'họ đã hốc sạch đống thịt hộp mang từ tàu sang, và giờ bắt đầu sinh ra bất mãn.' Không như những người trên thuyền của thuyền phó một—họ rõ ràng nằm dưới sự quản lý của một tay cừ khôi.

Ghi chép ngày 11 tháng 5: 'Đứng yên một chỗ! Hoặc tệ hơn; đêm qua chúng tôi để mất nhiều quãng đường hơn cả quãng đường đi được ngày hôm qua.' Thực tế là họ đã bị đẩy lùi mất ba dặm trong số ba trăm dặm hướng bắc mà họ đã vất vả đi được. 'Con gà trống được cứu sống và quăng lên thuyền lúc tàu cháy vẫn còn sống, nó gáy vang khi bình minh hé rạng, làm chúng tôi phấn chấn lên rất nhiều.' Nó đã sống bằng cái gì suốt một tuần qua chứ? Liệu những con người đang chết đói có nhường chút lương thực ít ỏi cho nó không? 'Thuyền của thuyền phó hai lại hết sạch nước uống, chứng tỏ họ uống quá khẩu phần quy định. Thuyền trưởng đã mắng họ một trận vuốt mặt không kịp.' Đúng vậy: tôi có ghi chép lại câu mắng đó trong cuốn sổ tay cũ của mình; tôi nghe gã thuyền phó ba kể lại ở bệnh viện Honolulu. Nhưng ở đây không có chỗ để in, và câu đó cũng quá "bốc lửa" để đưa lên báo. Hơn nữa, gã thuyền phó ba lại rất khoái câu mắng đó, mà cái gì gã đã khoái thì gã thế nào cũng mắm muối thêm bớt.

Họ vẫn đăm đăm hy vọng tìm kiếm các con tàu. Thuyền trưởng là một người thấu đáo, và có lẽ ông không hề tiết lộ cho họ biết rằng việc đó về cơ bản chỉ làm lãng phí thời gian. 'Ở vùng vĩ độ này, đường chân trời đầy những đám mây dựng đứng nhìn trông chẳng khác nào những con tàu.' Ông Ferguson đã giữ lại được ba chai rượu vang từ kho riêng khi rời tàu, và đống rượu đó đã phát huy tác dụng tốt trong những ngày này. 'Thuyền trưởng phân phát hai thìa canh rượu vang pha nước—nửa nọ nửa kia—cho thủy thủ đoàn của chúng tôi.' Ý anh là nhóm trực ca; họ chia ca trực đàng hoàng—bốn tiếng trực bốn tiếng nghỉ. Thuyền phó một là một sĩ quan tuyệt vời—một con người điềm tĩnh, kiên định, giỏi giang toàn diện. Người viết nhật ký có ghi lại dòng này—thể hiện rõ khí chất của ông ấy: 'Tôi ngỏ ý tặng một chai rượu vang cho thuyền phó một, nhưng ông ấy từ chối, bảo rằng ông ấy có thể giữ cho nhóm thuyền sau trật tự, và chúng tôi không có đủ rượu cho tất cả mọi người.'

NHẬT KÝ CỦA HENRY FERGUSON TÍNH ĐẾN NAY, ĐƯỢC IN NGUYÊN VĂN:

Ngày 4, 5, 6 tháng 5, vùng đứng gió. Ngày 7, 8, 9 tháng 5, vùng đứng gió. Ngày 10, 11, 12 tháng 5, vùng đứng gió. Nói lên tất cả. Chưa từng thấy, chưa từng cảm nhận, chưa từng nghe, chưa từng trải qua cái nóng khủng khiếp, sự tăm tối, sấm chớp, gió bão và mưa trút nước như thế trong đời.

Cuốn nhật ký của gã thiếu niên đó thuộc loại kiệm lời mà người ta có thể hình dung được trong hoàn cảnh như thế—và sự kiệm lời đó hoàn toàn có thể cảm thông được. Anh trai của cậu, đang mòn mỏi vì bệnh lao, cơn đói, cơn khát, cái nóng thiêu đốt, những trận mưa như trút, sự thiếu ngủ và thiếu vận động, vẫn kiên trì và tỉ mỉ ghi chép nhật ký từ ngày đầu tiên cho đến ngày cuối cùng—một minh chứng về sự trung thành và quyết tâm đáng kinh ngạc. Mặc cho chiếc thuyền nhấp nhô và chao đảo, cậu vẫn viết chữ nhỏ và sắc nét, dễ đọc như in. Họ dường như không thể tiến lên phía bắc quá 7 độ Bắc; ngày hôm sau họ vẫn kẹt ở đó:

Ngày 12 tháng 5. Một trận mưa tốt đêm qua, chúng tôi hứng được khá nhiều nước, dù không đủ để đổ đầy bình chứa, thùng v.v. Mục tiêu của chúng tôi là thoát khỏi vùng đứng gió này, nhưng dường như không thể làm nổi. Hôm nay thời tiết rất thất thường, hy vọng chúng tôi đang ở mép phía bắc, dù chưa lên quá 7 độ Bắc là bao. Sáng nay tất cả chúng tôi đều tưởng nhìn thấy một cánh buồm; nhưng đó chỉ là một trong những đám mây lừa đảo. Mưa rất nhiều hôm nay, làm ai nấy ướt sũng và khó chịu; tuy nhiên chúng tôi đã hứng đầy hầu hết các bình nước. Tôi hy vọng đêm nay thời tiết sẽ đẹp, vì thuyền trưởng rất cần nghỉ ngơi, và hễ có nguy cơ cuồng phong hay bất kỳ nguy hiểm nào, ông ấy đều túc trực. Tôi chưa bao giờ tin rằng những chiếc thuyền mở như của chúng tôi, với tải trọng như thế này, lại có thể sống sót qua vài vùng biển mà chúng tôi đã trải qua.

Trong đêm ngày 12 rạng sáng 13, 'tiếng kêu TÀU KÌA! làm tất cả chúng tôi choàng dậy.' Đó dường như là ánh sáng lập lòe từ chiếc đèn tín hiệu của một con tàu nhô lên từ đường cong của biển cả. Đã có một khoảng thời gian nín thở hy vọng khi họ đứng nhìn, tay che mắt, tim đập liên hồi lên tận cổ họng; rồi lời hứa hẹn thất bại: ánh sáng đó chỉ là một ngôi sao mọc. Đã lâu lắm rồi—ba mươi hai năm—và giờ điều đó chẳng còn quan trọng nữa, vậy mà người ta vẫn thấy tiếc nuối cho sự thất vọng của họ. 'Hôm nay nghĩ nhiều đến những người ở nhà, và về sự thất vọng của họ vào Chủ nhật tới khi không nhận được điện tín của chúng tôi từ San Francisco.' Sẽ còn nhiều tuần nữa trước khi bức điện tín đó được gửi đi, và khi đó nó sẽ đến như một tiếng sét vui mừng, mang dáng dấp của một phép màu, bởi nó sẽ dựng đứng những con người đã được để tang như đã chết từ dưới nấm mồ dậy. 'Hôm nay khẩu phần ăn của chúng tôi giảm xuống còn một phần tư chiếc bánh quy cho mỗi bữa, cùng với khoảng nửa pint nước.' Đây là ngày 13 tháng 5, và còn hơn một tháng lênh đênh phía trước! Tuy nhiên, vì không biết điều đó, 'tất cả chúng tôi đều cảm thấy khá phấn chấn.'

Chiều ngày 14 có một trận bão kèm sấm chớp, 'đến tối dường như khép chặt xung quanh chúng tôi từ mọi phía, làm trời tối sầm và đầy giông lốc.' 'Tình cảnh của chúng tôi ngày càng trở nên tuyệt vọng,' vì họ chẳng tiến thêm được bao nhiêu về phía bắc 'và mỗi ngày trôi qua lại làm giảm đi đống lương thực ít ỏi.' Họ nhận ra rằng các thuyền sẽ sớm phải tách ra, mỗi thuyền tự chiến đấu giành giật sự sống. Việc kéo theo các thuyền nhỏ là một lực cản tai hại.

Đêm đó và ngày hôm sau, gió nhẹ và thất thường, chẳng tiến thêm được bao nhiêu. Thật khó mà chịu đựng nổi cái sự đứng yên dai dẳng đó trong khi lương thực cứ vơi dần. 'Mọi thứ ướt sũng hoàn toàn; và ai nấy đều chật chội, không có quần áo thay.' Chẳng mấy chạp mặt trời lại nhô lên thiêu đốt họ. 'Joe lại bắt được một con cá heo hôm nay; trong diều nó chúng tôi thấy một con cá bay và hai con cá ngừ skipjack.' Đúng là một sự kiện làm bùng lên ngọn lửa hy vọng: một con chim đất liền xuất hiện! Nó đậu trên cột buồm một lúc, họ tha hồ ngắm nhìn nó, ghen tị với nó, và cảm ơn tin nhắn mà nó mang đến. Như một chủ đề để bàn tán, nó vô giá—một chủ đề mới mẻ cho những cái lưỡi đã mệt mỏi đến chết vì chỉ nói về một chủ đề duy nhất: Liệu chúng ta có còn nhìn thấy đất liền nữa không; và khi nào? Con chim này đến từ Đá Clipperton sao? Họ hy vọng thế; và họ vin vào đó để tin là như vậy. Rốt cuộc con chim chẳng mang đến tin nhắn nào; nó chỉ đến để trêu ngươi.

Ngày 16 tháng 5, 'con gà trống vẫn sống, và hàng ngày cất tiếng gáy vang.' Sẽ là một đêm mưa, 'nhưng tôi không quan tâm miễn là chúng tôi hứng đầy được các thùng nước.'

Ngày 17, một trong những bóng ma kỳ vĩ của biển sâu, một vòi rồng khổng lồ, lướt qua bên cạnh họ, khiến họ run rẩy sợ hãi cho tính mạng của mình. Henry trẻ tuổi đã ghi lại sự việc trong cuốn nhật ký ngắn ngủi của mình với lời bình luận chí lý rằng 'đó có thể là một cảnh tượng đẹp nếu nhìn từ một con tàu lớn.'

Từ nhật ký của Thuyền trưởng Mitchell cho ngày này: 'Chỉ còn nửa bu-sơ mẩu bánh quy vụn.' (Và còn cả một tháng lênh đênh trên biển nữa!')

Trời mưa suốt đêm và cả ngày; ai nấy đều bứt rứt khó chịu. Rồi một con cá kiếm xuất hiện đuổi theo một con cá ngừ bonito; và sinh vật tội nghiệp đó, để tìm kiếm sự giúp đỡ và bạn bè, đã ẩn nấp dưới bánh lái của thuyền. Con cá kiếm to đùng cứ lảng vảng xung quanh, làm ai nấy sợ khiếp vía. Mồm đám thủy thủ thèm rỏ nước bọt vì nó, bởi nó sẽ là một bữa tiệc lớn; nhưng dĩ nhiên chẳng ai dám đụng vào nó, vì nó sẽ đánh chìm thuyền ngay lập tức nếu bị chọc giận. Chúa Trời đã bảo vệ con cá ngừ tội nghiệp khỏi con cá kiếm hung dữ. Điều này hoàn toàn công bằng và đúng đắn. Tiếp theo, Chúa Trời lại giúp đỡ những người thủy thủ đắm tàu: họ bắt được con cá ngừ. Điều này cũng hoàn toàn công bằng và đúng đắn. Nhưng trong việc phân phát lòng nhân từ, chính con cá kiếm lại bị bỏ quên. Giờ thì nó bơi đi chỗ khác; có lẽ là để suy ngẫm về những điều tinh tế này.

Trải qua một đêm kinh hoàng nhất. Mưa tầm tã gần như suốt thời gian, và giông lốc thổi mạnh, kèm theo sấm chớp dữ dội từ mọi hướng.—Nhật ký của Henry.

Đêm kinh hoàng nhất mà tôi từng chứng kiến.—Nhật ký của Thuyền trưởng.

Vĩ độ, ngày 18 tháng 5, 11 độ 11 phút. Vậy là trung bình họ chỉ đi được bốn mươi dặm về phía bắc mỗi ngày trong suốt hai tuần qua. Lại có thêm bàn tán về việc tách thuyền. 'Tệ thật, nhưng phải làm thế vì sự an toàn của tất cả.' 'Ban đầu tôi không bao giờ nằm mơ, nhưng giờ hầu như cứ chợp mắt được một lúc là lại nằm mơ thấy thứ này thứ nọ—chắc là do cơ thể quá yếu.' Họ nghĩ nếu không vì thảm họa thì có lẽ tầm này họ đã đến San Francisco rồi. 'Tôi ước gì có thể gửi cho B—- bức điện tín nhân dịp sinh nhật cô ấy.' Đó là một người em gái trẻ.

Ngày 19, thuyền trưởng gọi các thuyền nhỏ lại và nói một thuyền sẽ phải tự lực gánh sinh. Thuyền lớn không thể kéo theo cả hai thuyền được nữa. Thuyền phó hai từ chối đi riêng, nhưng thuyền phó một đã sẵn sàng; thực ra, ông ấy luôn sẵn sàng khi có công việc của một người đàn ông phía trước. Ông ấy lấy chiếc thuyền của thuyền phó hai; sáu thủy thủ trong nhóm đó quyết định ở lại, và hai thủy thủ trong nhóm của ông ấy đi theo ông (bây giờ có chín người trên thuyền, tính cả ông). Ông ấy giương buồm ra đi, và đến tầm chiều tà thì biến mất khỏi tầm mắt. Người viết nhật ký thấy tiếc khi ông ấy ra đi. Đó là lẽ tự nhiên; người ta thà chia tay gã "Bồ Đào Nha" còn hơn. Sau ba mươi hai năm, tôi thấy sự định kiến của mình đối với gã "Bồ Đào Nha" này lại bùng lên. Diện mạo của hắn đã phai nhạt khỏi ký ức của tôi từ lâu; nhưng không sao, tôi bắt đầu ghét hắn một cách tận tụy như ngày nào. 'Nước uống giờ sẽ là mặt hàng khan hiếm, vì khi thoát khỏi vùng đứng gió, chúng tôi sẽ chỉ thỉnh thoảng mới có mưa rào trong vùng gió mậu dịch. Cuộc sống này đang bào mòn sức lực của tôi dữ dội. Henry thì chịu đựng cực kỳ cừ.' Henry khởi đầu không tốt, nhưng qua gian khổ cậu ấy lại ngày càng tiến bộ.

Vĩ độ, Chủ nhật, ngày 20 tháng 5, 12 độ 0 phút 9 giây. Rằng ra họ phải thoát khỏi vùng đứng gió rồi mới đúng, nhưng họ vẫn chưa thoát nổi. Không một ngọn gió—những luồng gió mậu dịch được mong chờ vẫn bặt vô âm tín. Họ vẫn đỏ mắt ngóng chờ một cánh buồm, nhưng họ chỉ thấy 'những ảo ảnh về con tàu chẳng đi đến đâu—chỉ có bóng dáng mà không có hình hài.' Chiều nay thuyền phó hai bắt được một con chim điên booby, một loại chim chủ yếu toàn lông lá; 'nhưng vì không có loại thịt nào khác, ăn nó vẫn thấy ngon.'

Ngày 21 tháng 5, cuối cùng họ cũng đón được gió mậu dịch! Thuyền phó hai bắt thêm được ba con chim điên nữa, và chia cho thuyền lớn một con. Bữa trưa 'nửa hộp thịt băm chia đều ra ăn, giúp chúng tôi có thêm chút sức lực.' Họ phải cắt cử một người múc nước ra liên tục; cái lỗ thủng bị đâm trên thuyền khi hạ xuống từ con tàu cháy chưa bao giờ được sửa chữa tử tế. 'Bây giờ đang tiến về hướng tây-bắc.' Họ hy vọng mình đã đi đủ về hướng đông để chạm tới vài hòn đảo mơ hồ nào đó. Nếu thất bại, họ nghĩ mình sẽ ở vị trí thuận lợi hơn để được vớt. Đó là một cơ hội cực kỳ mong manh, nhưng thuyền trưởng có lẽ đã kiềm chế không nói ra điều đó.

Ngày hôm sau sẽ là một ngày đầy sự kiện.

Ngày 22 tháng 5. Đêm qua gió thổi ngược hướng, khiến có lúc chúng tôi phải lái về hướng đông-nam rồi lại tây-bắc, cứ thế tiếp tục. Sáng nay tất cả chúng tôi đều giật mình bởi tiếng kêu 'TÀU KÌA!' Quả thực, chúng tôi có thể nhìn thấy nó! Và trong một thời gian chúng tôi đã tách khỏi thuyền của thuyền phó hai, lái thuyền để thu hút sự chú ý của nó. Lúc đó khoảng năm giờ rưỡi sáng. Sau khi giương buồm trong trạng thái vô cùng hồi hộp suốt gần hai mươi phút, chúng tôi mới nhận ra đó là thuyền của thuyền phó một. Dĩ nhiên chúng tôi rất mừng khi gặp lại họ và nghe họ báo mọi người đều khỏe; nhưng đó vẫn là một sự thất vọng cay đắng cho tất cả chúng tôi. Bây giờ khi đã ở trong vùng gió mậu dịch, dường như không thể đi đủ về hướng bắc để đâm trúng các hòn đảo. Chúng tôi quyết định sẽ làm hết sức có thể, và đi vào tuyến đường của các con tàu. Với quyết định như vậy, cần phải tháo bỏ chiếc thuyền kia, sau một hồi bàn cãi không mấy dễ chịu thì việc đó cũng xong, chúng tôi lại chia đôi nước uống và lương thực, rồi đón Cox sang thuyền mình. Điều này làm số lượng người trên thuyền chúng tôi tăng lên mười lăm. Thủy thủ đoàn của thuyền phó hai đều muốn sang ở cùng chúng tôi, và bỏ mặc chiếc thuyền kia trôi dạt. Đó là một sự chia cắt vô cùng đau đớn.

Thế là những hòn đảo mà họ đã đấu tranh suốt thời gian dài và đầy hy vọng để hướng tới đành phải từ bỏ. Nào là những con chim dối trá đến trêu ngươi, nào là những hòn đảo chỉ là giấc mơ, rồi những 'ảo ảnh về con tàu chẳng đi đến đâu', họ đang trải qua một khoảng thời gian thảm thương, với bao nhiêu đau đớn trong lòng. Thật kỳ lạ là chiếc thuyền đã biến mất, mất tích suốt ba ngày giữa sự cô độc mênh mông đó, lại xuất hiện trở lại. Nhưng nó đã mang Cox đến—chúng ta không rõ tại sao. Nhưng nếu không có gã, người viết nhật ký sẽ chẳng bao giờ còn nhìn thấy đất liền nữa.

Cơ hội được cứu của chúng tôi khi đi về phía tây tăng lên, nhưng mỗi ngày khẩu phần ăn ít ỏi lại bị cắt giảm đi bấy nhiêu. Nếu không có cá, rùa và chim gửi đến, tôi không biết chúng tôi sẽ sống sót thế nào. Mấy ngày trước tôi đã ngỏ ý đọc lời cầu nguyện buổi sáng và buổi tối cho thuyền trưởng, và tối qua đã bắt đầu. Những người đàn ông, dù thuộc nhiều quốc tịch và tôn giáo khác nhau, đều rất chú ý và luôn bỏ mũ ra. Nguyện xin Chúa ban cho sự cố gắng yếu ớt của tôi có kết quả!

Vĩ độ, ngày 24 tháng 5, 14 độ 18 phút Bắc. Bữa trưa mỗi người năm con hàu và ba thìa nước hàu, một gill nước, và một miếng bánh quy to bằng đồng xu bạc. 'Chúng tôi rõ ràng đang yếu đi—xin Chúa rủ lòng thương hại tất cả chúng tôi!' Đêm đó sóng lớn đánh dồn dập qua mạn thuyền khiến ai nấy ướt sũng và khó chịu, lại còn phải liên tục múc nước ra.

Ngày hôm sau 'chẳng có gì đặc biệt xảy ra.' Có lẽ vài người trong chúng ta sẽ nhìn nhận điều đó theo cách khác. 'Đi qua một cột gỗ buồm, nhưng không đủ gần để xem đó là cái gì.' Họ thấy vài con cá voi phun nước; có những con cá bay lướt trên mặt biển, nhưng không con nào rơi vào thuyền. Thời tiết sương mù, với mưa nhỏ sương sương rất buốt giá.

Vĩ độ, ngày 26 tháng 5, 15 độ 50 phút. Họ bắt được một con cá bay và một con chim điên, nhưng phải ăn sống. 'Đám đàn ông ngày càng yếu đi, và tôi nghĩ họ đã nản lòng; tuy nhiên họ nói rất ít.' Và thế là, cùng với tất cả những sự kinh hoàng có thể hình dung và không thể hình dung khác, sự im lặng được cộng thêm vào—sự câm nín và sự ủ rột của tuyệt vọng đang đến. 'Xem ra cơ hội tốt nhất của chúng tôi là đi vào tuyến đường của các con tàu với hy vọng sẽ có chiếc nào đó chạy đủ gần cái chấm nhỏ của chúng tôi để nhìn thấy nó.' Cậu hy vọng các thuyền khác đã đi về phía tây và được vớt. (Họ sẽ không bao giờ được nghe tin tức gì nữa trên thế giới này.)

Chủ nhật, ngày 27 tháng 5, Vĩ độ 16 độ 0 phút 5 giây; kinh độ, theo đồng hồ bấm giờ, 117 độ 22 phút. Chủ nhật thứ tư của chúng tôi! Khi rời con tàu, chúng tôi tính toán có đủ lương thực cho mười ngày, và giờ chúng tôi hy vọng, bằng cách thắt lưng buộc bụng nghiêm ngặt, sẽ làm cho chúng kéo dài thêm một tuần nữa nếu có thể.(1) Đêm qua biển tương đối lặng, nhưng gió lại đổi hướng sang khoảng tây-tây-bắc, đó cũng là hướng đi của chúng tôi suốt cả ngày hôm nay. Một con cá bay khác lại rơi vào thuyền đêm qua, và thêm một con nữa hôm nay—cả hai đều nhỏ con. Không có chim. Bắt được một con chim điên là một chiến lợi phẩm lớn, và một con to đùng sẽ làm nên một bữa tối nhỏ cho mười lăm người chúng tôi—dĩ nhiên là theo tiêu chuẩn bữa tối trên chiếc thuyền lớn của tàu 'Hornet'. Sáng nay tôi đã cố tự đọc toàn bộ nghi lễ, cùng với Lễ Ban Thánh Thể, nhưng thấy quá sức; tôi quá yếu, lại hay buồn ngủ, không thể tập trung cao độ được; nên tôi để lại một nửa đến chiều nay. Tôi tin rằng Chúa sẽ lắng nghe những lời cầu nguyện gửi đến cho chúng tôi ở quê nhà hôm nay, và thương hại trả lời bằng cách gửi cho chúng tôi sự cứu giúp và viện trợ trong mùa gian nan sâu sắc này.

Ngày hôm sau là 'một ngày tốt để nhìn thấy tàu.' Nhưng chẳng thấy chiếc nào. Người viết nhật ký 'vẫn cảm thấy khá ổn,' dù rất yếu; em trai cậu, Henry, 'chịu đựng và giữ vững sức lực tốt nhất trong số những người trên thuyền.' 'Tôi chẳng cảm thấy nản lòng chút nào, vì tôi hoàn toàn tin tưởng rằng Đấng Toàn Năng sẽ lắng nghe lời cầu nguyện của chúng tôi và ở quê nhà, và Đấng không để một con chim sẻ nào rơi xuống đất sẽ nhìn thấy và chăm sóc chúng tôi, những sinh linh của Ngài.'

Xem xét tình hình và hoàn cảnh, ghi chép cho ngày hôm sau, 29 tháng 5, chứa đựng một sự ngạc nhiên cho những kẻ ngốc nghếch nghĩ rằng chẳng có gì ngoài thuốc me và bác sĩ mới chữa khỏi bệnh cho người ốm. Một chút nhịn đói thực sự có thể làm được nhiều điều cho một người ốm bình thường hơn là những loại thuốc tốt nhất và những bác sĩ giỏi nhất. Tôi không có ý nói đến một chế độ ăn kiêng hạn chế; tôi muốn nói đến việc hoàn toàn nhịn ăn trong một hoặc hai ngày. Tôi nói từ kinh nghiệm của bản thân; nhịn đói đã là bác sĩ chữa cảm lạnh và sốt của tôi suốt mười lăm năm qua, và lần nào cũng chữa khỏi hoàn toàn. Gã thuyền phó ba đã kể với tôi ở Honolulu rằng gã "Bồ Đào Nha" đã nằm ườn trên võng suốt nhiều tháng, nuôi đàn áp-xe của hắn và hốc như một kẻ ăn thịt người. Chúng ta đã thấy rằng mặc cho thời tiết kinh hoàng, thiếu ngủ, thiêu đốt, mưa trút, và đủ mọi thứ thảm thương, mười ba ngày nhịn đói đã 'hồi phục một cách kinh ngạc' cho hắn. Có bốn thủy thủ bị bệnh khi con tàu bị cháy. Mười lăm ngày nhịn đói tàn nhẫn trôi qua, và giờ chúng ta có ghi chép kỳ lạ này: 'Tất cả đàn ông đều khỏe mạnh và cường tráng; ngay cả những người từng nằm bệnh cũng đã khỏi, trừ Peter tội nghiệp.' Khi tôi viết một bài báo cách đây vài tháng kêu gọi tạm thời nhịn ăn như một liệu pháp chữa trị cho sự chán ăn và bệnh tật, tôi đã bị buộc tội là nói giỡn, nhưng tôi hoàn toàn nghiêm túc. 'Tất cả chúng tôi đều khỏe mạnh và cường tráng một cách kinh ngạc, nói một cách tương đối.' Vào ngày này, chế độ nhịn đói lại thắt chặt thêm một vài nấc dây lưng nữa: khẩu phần bánh quy giảm từ miếng bánh to bằng đồng xu bạc xuống còn một nửa miếng đó, và hủy bỏ một bữa ăn trong số ba bữa hàng ngày. Điều này sẽ làm suy yếu sức khỏe thể chất của đàn ông, nhưng nếu còn bất kỳ bệnh tật thông thường nào trong người họ, chúng sẽ biến mất.

Còn hai quart mẩu bánh quy vụn, một phần ba đùi lợn muối, ba hộp hàu nhỏ, và hai mươi gallon nước.—Nhật ký của Thuyền trưởng.

Tông giọng hy vọng của các cuốn nhật ký vẫn dai dẳng. Thật đáng kinh ngạc. Hãy nhìn vào bản đồ và xem chiếc thuyền đang ở đâu: vĩ độ 16 độ 44 phút, kinh độ 119 độ 20 phút. Nó đã nằm cách Quần đảo Revillagigedo hơn hai trăm dặm về phía tây, nên những hòn đảo đó hoàn toàn nằm ngoài khả năng tiến tới ngược gió mậu dịch với cánh buồm của chiếc thuyền này. Vùng đất gần nhất có thể đến được đối với một chiếc thuyền như thế là Quần đảo American, cách đó sáu trăm mươi dặm về phía tây; thế nhưng, chẳng có dòng ghi chép nào về sự đầu hàng, thậm chí là nản lòng! Tuy nhiên, ngày 30 tháng 5, 'chúng tôi hiện chỉ còn lại: một hộp hàu; ba cân nho khô; một hộp súp; một phần ba đùi lợn muối; ba pint mẩu bánh quy vụn.'

Và mười lăm con người chết đói phải sống dựa vào đó trong khi họ bò trườn sáu trăm mươi dặm. 'Không hiểu sao tôi cảm thấy rất phấn chấn bởi sự thay đổi hướng đi này (tây lệch bắc) mà chúng tôi đã thực hiện hôm nay.' Sáu trăm mươi dặm với một mũ đầy lương thực. Hãy tạ ơn, ngay cả sau ba mươi hai năm, rằng họ đã được xót thương khi không biết sự thật rằng đó không phải là sáu trăm mươi dặm họ phải bò trườn với cái mũ đầy lương thực đó, mà là hai ngàn hai trăm dặm!

Tình cảnh này chưa đủ lãng mạn sao? Chưa đâu. Chúa Trời đã thêm vào một chi tiết chấn động: kéo một mái chèo trên chiếc thuyền đó, với mức lương của một thủy thủ thông thường, là một công tước bị trục xuất—người Đan Mạch. Chúng ta không nghe thêm tin tức gì về ông ấy nữa; chỉ có lời nhắc đến đó, thế thôi, cùng với lời bình luận đơn giản thêm vào rằng 'ông ấy là một trong những người cừ nhất của chúng tôi'—một lời khen ngợi đủ cao quý cho một công tước hay bất kỳ người đàn ông nào trong những hoàn cảnh thử thách bản lĩnh con người đó. Với cái nhìn thoáng qua về ông ấy tại mái chèo, và lời khen ngợi cừ khôi đó, ông ấy biến mất khỏi hiểu biết của chúng ta vĩnh viễn. Vĩnh viễn, trừ khi ông ấy vô tình đọc được dòng ghi chú này và tự lộ diện.

Ngày cuối cùng của tháng Năm đã đến. Và giờ có một thảm họa phải báo cáo: hãy suy ngẫm về nó, ngẫm nghĩ về nó, và cố hiểu xem nó có ý nghĩa thế nào, khi bạn ngồi xuống cùng gia đình và lướt mắt qua bàn ăn sáng của mình. Hôm qua còn ba pint mẩu bánh quy vụn; sáng nay cái túi nhỏ được phát hiện đã mở và một số mẩu vụn đã biến mất. 'Chúng tôi không muốn nghi ngờ bất kỳ ai về một hành vi đê tiện như thế, nhưng không còn nghi ngờ gì nữa là cái tội ác nghiêm trọng này đã được thực hiện. Hai ngày nữa chắc chắn sẽ liếm sạch những mẩu vụn còn lại. Xin Chúa ban cho chúng tôi sức mạnh để đến được Quần đảo American!' Gã thuyền phó ba đã kể với tôi ở Honolulu rằng trong những ngày này đàn ông nhớ lại với sự cay đắng rằng gã "Bồ Đào Nha" đã ngấu nghiến mất hai mươi hai ngày khẩu phần ăn trong khi nằm chờ được chuyển khỏi con tàu cháy, và giờ họ chửi rủa hắn và thề một lời thề rằng nếu phải ăn thịt người thì hắn sẽ là kẻ đầu tiên phải chịu tội cho những người còn lại.

Thuyền trưởng đã mất kính mắt, do đó ông không thể đọc những cuốn sách cầu nguyện bỏ túi của chúng tôi nhiều như tôi nghĩ ông muốn, dù ông không quen thuộc với chúng.

Nói thêm về thuyền trưởng: 'Ông ấy là một người tốt, và rất tốt bụng với chúng tôi—gần như một người cha. Ông nói nếu ông được giao quyền chỉ huy con tàu sớm hơn thì ông đã mang theo hai cô con gái của mình.' Người ta vẫn thấy rùng mình khi nghĩ đến việc đó đã là một sự trốn thoát trong nghìn tấc như thế nào.

Hai bữa ăn (khẩu phần) một ngày như sau: mười bốn quả nho khô và một miếng bánh quy to bằng đồng xu cho bữa trà; một gill nước, và một miếng thịt lợn muối cùng một miếng bánh quy, mỗi miếng to bằng đồng xu, cho bữa sáng.—Nhật ký của Thuyền trưởng.

Ý ông là một đồng xu về độ dày cũng như chu vi. Nhật ký của Samuel Ferguson nói miếng thịt lợn muối được thái 'mỏng như thể có thể thái được.'

Ngày 1 tháng 6. Đêm qua và hôm nay biển rất cao và sóng cuộn, đánh tràn qua làm tất cả chúng tôi ướt sũng và lạnh giá. Thời tiết giông lốc, và không còn nghi ngờ gì nữa chỉ có sự quản lý cẩn thận—với sự chăm sóc bảo vệ của Chúa—mới giữ giữ được chúng tôi qua cả đêm lẫn ngày; và thực sự nhất là việc mỗi mẩu thức ăn đi qua môi chúng tôi đều được ban phước. Nó làm tôi nhớ đến phép màu về những ổ bánh mì và những con cá hàng ngày. Henry vẫn chịu đựng một cách kinh ngạc, đó là một sự an ủi lớn đối với tôi. Không hiểu sao tôi có niềm tin lớn, và hy vọng rằng những tai họa của chúng tôi sẽ sớm kết thúc, dù chúng tôi đang chạy nhanh qua tuyến đường của cả các con tàu đi ra và đi vào, và rời xa chúng; hy vọng chính của chúng tôi là một tàu đánh bắt cá voi, tàu chiến, hoặc một con tàu Úc nào đó. Các hòn đảo chúng tôi đang nhắm tới được ghi trong Bowditch, nhưng trên bản đồ của tôi thì ghi là nghi ngờ. Xin Chúa rủ lòng thương cho chúng có ở đó!

Ngày vất vả nhất từ trước đến nay.—Nhật ký của Thuyền trưởng.

Nghi ngờ! Nó còn tệ hơn thế. Một tuần sau họ giương buồm đi thẳng qua chúng.

Ngày 2 tháng 6. Vĩ độ 18 độ 9 phút. Giông lốc, nhiều mây, biển động dữ dội.... Tôi không thể không nghĩ về khoảng thời gian vui vẻ và thoải mái mà chúng tôi đã có trên tàu 'Hornet'.

Còn hai ngày khẩu phần ăn ít ỏi—mười phần nước cho mỗi người và một mẩu bánh quy nhỏ. NHƯNG MẶT TRỜI VẪN CHIẾU SÁNG VÀ CHÚA THẬT NHÂN TỪ.—Nhật ký của Thuyền trưởng.

Chủ nhật, ngày 3 tháng 6. Vĩ độ 17 độ 54 phút. Biển động dữ dội suốt đêm, và từ 4 giờ sáng trời rất ướt, biển liên tục đánh dồn dập qua thuyền, làm ướt sũng mọi thứ đặc biệt là phía sau lái. Cả ngày biển rất cao, và thật kỳ diệu là chúng tôi không bị đắm. Sự hồi hộp và tình cảnh của chúng tôi đang trở nên khủng khiếp. Sáng nay tôi đã cố gắng bò, đúng hơn là lết, ra phía đầu thuyền, và kinh ngạc khi thấy mình quá yếu, đặc biệt là ở chân và đầu gối. Mặt trời lại nhô lên, và tôi đã làm khô một số thứ, hy vọng có một đêm tốt hơn.

Ngày 4 tháng 6. Vĩ độ 17 độ 6 phút, kinh độ 131 độ 30 phút. Đêm qua hầu như không bị nước biển đánh vào, và hôm nay biển đã êm hơn đôi chút, dù vẫn còn quá cao để có thể thoải mái, vì thỉnh thoảng chúng tôi lại được nhắc nhở rằng nước thì ướt. Mặt trời chiếu sáng cả ngày, nên chúng tôi đã có một đợt phơi khô tốt. Tôi đã cố gắng suốt mười hoặc mười hai ngày qua để làm khô một chiếc quần trong đủ để mặc vào, và hôm nay cuối cùng đã thành công. Tôi nhắc đến điều này để cho thấy tình trạng mà chúng tôi đã sống. Nếu đồng hồ bấm giờ của chúng tôi chính xác đôi chút, chúng tôi sẽ nhìn thấy Quần đảo American vào ngày mai hoặc ngày kia. Nếu chúng không có ở đó, chúng tôi chỉ còn cơ hội, trong vài ngày, gặp một con tàu đi lạc, vì chúng tôi không thể kéo dài lương thực quá mươi lăm hoặc mười sáu ngày nữa, và sức lực của chúng tôi đang cạn kiệt rất nhanh. Hôm nay tôi rất kinh ngạc khi thấy chân mình đã teo tóp lại phía trên đầu gối: chúng khó lòng to hơn cánh tay trên của tôi trước đây. Tuy nhiên, tôi tin vào lòng nhân từ vô hạn của Chúa, và cảm thấy chắc chắn Ngài sẽ làm điều tốt nhất cho chúng tôi. Để sống sót, như chúng tôi đã làm, thirty-two ngày trên một chiếc thuyền mở, chỉ với khoảng mười ngày lương thực tươm tấp cho ba mươi mốt người ban đầu, và đống lương thực này sau đó đã bị chia đôi hai lần, còn hơn cả những gì nghệ thuật và sức mạnh CON NGƯỜI đơn thuần không có sự giúp đỡ có thể đạt được và chịu đựng.

Bánh quy và nho khô đã hết sạch.—Nhật ký của Thuyền trưởng.

Đám đàn ông ngày càng bất mãn dữ dội, và những lời cằn nhằn cằn nhằn và trò chuyện không mấy dễ chịu đang nổi lên. Xin Chúa cứu chúng tôi khỏi mọi sự tranh chấp của con người; và nếu chúng tôi phải chết bây giờ, hãy đón lấy chúng tôi, và đừng làm cho cái chết cay đắng của chúng tôi càng cay đắng hơn nữa.—Nhật ký của Henry.

Ngày 5 tháng 6. Đêm yên tĩnh và ngày khá thoải mái, dù cánh buồm và khối ròng rọc của chúng tôi có dấu hiệu hư hỏng, và cần phải hạ xuống—việc hạ xuống là một công việc khá vất vả, vì đòi hỏi phải leo lên cột buồm. Chúng tôi cũng nhận được tin tức từ phía trước, có sự bất mãn và một số lời phàn nàn đe dọa về việc phân phát khẩu phần ăn không công bằng, v.v., tất cả đều vô lý và ngu ngốc; tuy nhiên, những điều này bảo chúng tôi phải cảnh giác. Tôi đang trở nên yếu một cách thảm hại, nhưng cố gắng giữ vững tinh thần hết mức có thể. Nếu không thể tìm thấy những hòn đảo đó, chúng tôi chỉ có thể cố gắng đi về hướng tây-bắc và đi vào tuyến đường của các con tàu hướng đến Quần đảo Sandwich, sống bằng bất kỳ cách nào có thể trong thời gian này. Hôm nay chúng tôi chuyển sang một bữa ăn, và đó là vào khoảng giữa trưa, với một khẩu phần nước nhỏ vào 8 hoặc 9 giờ sáng, một phần khác vào 12 giờ trưa, và phần thứ ba vào 5 hoặc 6 giờ chiều.

Chẳng còn gì ngoài một miếng thịt lợn muối nhỏ và một gill nước, chia đều cho tất cả.—Nhật ký của Thuyền trưởng.

Bây giờ họ chỉ còn một bữa ăn một ngày—dù nó là cái gì đi nữa—và còn mười lăm trăm dặm phải bò trườn nữa! Và giờ đây những sự kinh hoàng sâu sắc hơn, và, dù họ đã thoát khỏi một cuộc nổi loạn thực sự, thái độ của đám đàn ông đã trở nên đáng báo động. Bây giờ chúng ta dường như thấy tại sao sự cố kỳ lạ đó lại xảy ra, từ rất lâu trước đây; ý tôi là sự trở lại của Cox, sau khi gã đã ở xa và mất tích vài ngày trên thuyền của thuyền phó một. Nếu gã không quay lại, thuyền trưởng và hai hành khách trẻ tuổi có thể đã bị sát hại, ngay lúc này, bởi những người thủy thủ đang trở nên phát điên vì sự chịu đựng của họ.

LỜI NHẮN LÉN LÚT NỘP BỞI HENRY CHO ANH TRAI CỦA CẬU:

Cox đã nói với em tối qua rằng đang có rất nhiều lời bàn tán xấu xa giữa đám đàn ông chống lại thuyền trưởng và chúng ta phía sau lái. Họ nói rằng thuyền trưởng là nguyên nhân của tất cả; rằng ông ấy đã không cố gắng cứu con tàu chút nào, cũng như không cố gắng lấy lương thực, và thậm chí ông ấy còn không cho phép đàn ông bỏ vào một số thứ họ có; và rằng sự thiên vị được thể hiện đối với chúng ta trong việc phân chia khẩu phần ăn phía sau lái.... đã hỏi Cox ngày nọ liệu gã sẽ chết đói trước hay ăn thịt người. Cox trả lời gã sẽ chết đói.... sau đó nói với gã rằng gã chỉ đang tự sát mà thôi. Nếu chúng ta không tìm thấy những hòn đảo đó chúng ta nên chuẩn bị cho bất kỳ điều gì. .... là kẻ nói to nhất trong tất cả.

CÂU TRẢ LỜI:

Chúng ta có thể trông cậy vào... em nghĩ thế, và... và Cox, có phải không?

LỜI NHẮN THỨ HAỊ:

Em đoán vậy, và rất có thể là vào...; nhưng không thể nói trước được... và Cox là chắc chắn. Chưa có điều gì cụ thể được nói hoặc gợi ý cho đến nay, như em hiểu từ Cox; nhưng những con người chết đói cũng giống như những kẻ điên. Sẽ tốt hơn nếu giữ một sự chú ý đến khẩu súng ngắn của anh, để có nó và đạn dược an toàn khỏi bị trộm cắp.

Nhật ký của Henry, ngày 5 tháng 6. Những điềm báo khủng khiếp. Xin Chúa cứu chúng tôi khỏi những sự kinh hoàng như thế! Một số đàn ông bắt đầu nói chuyện khá nhiều. Chẳng có gì để viết ra. Trong lòng rất buồn.

Nhật ký của Henry, ngày 6 tháng 6. Đi qua một số tảo biển và một thứ gì đó nhìn giống như thân của một cái cây cũ, nhưng không có chim; bắt đầu sợ rằng các hòn đảo không có ở đó. Hôm nay người ta đã nói với thuyền trưởng, trong tầm nghe của tất cả mọi người, rằng một số đàn ông sẽ không ngần ngại, khi một người đàn ông đã chết, sử dụng thịt của người đó, dù họ sẽ không giết người. Khủng khiếp! Xin Chúa cho tất cả chúng tôi sử dụng đầy đủ lý trí của mình, và cứu chúng tôi khỏi những điều như thế! 'Khỏi dịch bệnh, nạn dịch và nạn đói; khỏi trận chiến và vụ sát hại, và khỏi cái chết đột ngột, xin Chúa tốt lành giải thoát chúng tôi!'

Ngày 6 tháng 6. Vĩ độ 16 độ 30 phút, kinh độ (theo đồng hồ) 134 độ. Đêm khô ráo và gió đủ ổn định để không cần thay đổi buồm; nhưng sáng nay một nỗ lực hạ nó xuống đã thất bại. Đầu tiên thuyền phó ba đã thử và lên đến khối ròng rọc, và buộc một sự sắp xếp tạm thời để xỏ dây kéo qua, nhưng phải xuống, yếu ớt và gần như ngất xỉu, trước khi hoàn thành; sau đó Joe đã thử, và sau hai lần trèo lên, đã cố định nó và mang khối ròng rọc xuống; nhưng đó là công việc rất kiệt sức, và sau đó gã chẳng làm được gì trong cả ngày. Cái sắt móc mà chúng tôi đang cố gắng làm cho phục vụ cho khối ròng rọc bị hỏng hoạt động, tuy nhiên, rất kém, và tôi e rằng sẽ sớm cắt đứt dây thừng. Rất cần thiết phải làm cho mọi thứ kết nối với cánh buồm ở trong tình trạng chạy dễ dàng tốt trước khi chúng tôi quá yếu để làm bất kỳ điều gì với nó.

Chỉ còn ba bữa ăn.—Nhật ký của Thuyền trưởng.

Ngày 7 tháng 6. Vĩ độ 16 độ 35 phút Bắc, kinh độ 136 độ 30 phút Tây. Đêm ướt sũng và khó chịu. Hôm nay cho chúng tôi thấy khá kết luận rằng Quần đảo American không có ở đó, dù chúng tôi đã có một số dấu hiệu nhìn giống như chúng. Vào giữa trưa chúng tôi quyết định từ bỏ việc tìm kiếm thêm cho chúng, và tối nay kéo lê lệch về phía bắc một chút, để đi vào con đường của các con tàu Quần đảo Sandwich, may mắn thay đi xuống khá tốt theo cách này—chẳng hạn đến vĩ độ 19 độ đến 20 độ để lấy lợi ích của gió mậu dịch. Dĩ nhiên tất cả hướng tây chúng tôi đã làm là lợi thế, và tôi hy vọng đồng hồ bấm giờ sai lầm có lợi cho chúng tôi, vì tôi không thấy làm thế nào bất kỳ dụng cụ tinh tế nào như vậy có thể giữ thời gian tốt với sự rung chấn và đập liên tục chúng tôi nhận được từ biển. Với gió mậu dịch mạnh chúng tôi có, tôi hy vọng rằng một tuần kể từ Chủ nhật sẽ đặt chúng tôi trong tầm nhìn của Quần đảo Sandwich, nếu chúng tôi không an toàn vào thời điểm đó bằng cách được vớt.

Còn mười hai trăm dặm nữa mới đến Quần đảo Sandwich; lương thực về cơ bản đã cạn kiệt, nhưng không phải là sự dũng cảm của người viết nhật ký đang mòn mỏi.

Ngày 8 tháng 6. Cơn ho của tôi đã làm phiền tôi khá nhiều đêm qua, và do đó tôi hầu như không ngủ được chút nào. Tuy nhiên, tôi vẫn làm khá tốt, và không nên phàn nàn. Hôm qua thuyền phó ba đã sửa khối ròng rọc, và chiều nay cánh buồm, sau một số khó khăn, đã được hạ xuống, và Harry đã lên đến đỉnh cột buồm và xỏ dây kéo qua sau một số gian khổ, nên giờ đây nó hoạt động dễ dàng và tốt. Việc trèo lên cột buồm này không phải là việc dễ dàng vào bất kỳ lúc nào với biển chúng tôi có, và rất kiệt sức trong tình trạng hiện tại của chúng tôi. Chúng tôi chỉ có thể thưởng cho Harry bằng một khẩu phần nước thêm. Chúng tôi đã làm thời gian và khóa học tốt hôm nay. Lái cô ấy lên, tuy nhiên, làm thuyền bị nước đánh vào và giữ tất cả chúng tôi ướt sũng; tuy nhiên, không thể giúp được. Việc viết lách là một điều khá bấp bấp trong những thời điểm này. Bữa ăn của chúng tôi hôm nay cho mười lăm người gồm nửa hộp 'súp và thịt hầm'; nửa còn lại được dành cho ngày mai. Henry vẫn giữ vững tinh thần một cách vĩ đại, và là một người rất được yêu thích. Xin Chúa cho cậu ấy được sống sót.

Cảm xúc tốt hơn đang trị vì giữa đám đàn ông.—Nhật ký của Thuyền trưởng.

Ngày 9 tháng 6. Vĩ độ 17 độ 53 phút. Đã kết thúc hôm nay, tôi có thể nói, toàn bộ đống lương thực của chúng tôi.(2) Chúng tôi chỉ còn lại một phần dưới của xương đùi lợn muối, với một số rind bên ngoài và da trên đó. Tuy nhiên, về nước uống, tôi nghĩ chúng tôi có mười ngày cung cấp ở mức khẩu phần hiện tại của chúng tôi. Điều này, với những gì nuôi dưỡng chúng tôi có thể lấy từ cổ ủng và những chất có thể nhai như vậy, chúng tôi hy vọng sẽ cho phép chúng tôi vượt qua cho đến khi chúng tôi đến Quần đảo Sandwich, hoặc, giương buồm trong thời gian này trong tuyến đường của các con tàu hướng đến đó, được vớt. Hy vọng của tôi là ở điều sau, vì trong tất cả xác suất con người tôi không thể chịu đựng điều khác. Tuy nhiên, chúng tôi đã được bảo vệ một cách kỳ diệu, và Chúa, tôi hy vọng, sẽ bảo tồn tất cả chúng tôi trong thời gian và cách tốt riêng của Ngài. Đám đàn ông đang trở nên yếu hơn, nhưng vẫn yên tĩnh và trật tự.

Chủ nhật, ngày 10 tháng 6. Vĩ độ 18 độ 40 phút, kinh độ 142 độ 34 phút. Một đêm khá tốt đêm qua, với một số wettings, và lại một Chủ nhật đẹp trời khác. Tôi không thể không nghĩ làm thế nào tất cả chúng tôi sẽ tận hưởng nó ở nhà, và sự tương phản ở đây là gì! Sự hồi hộp của họ phải bắt đầu kinh hoàng đến mức nào! Xin Chúa cho nó có thể được giải tỏa trước không lâu nữa, và Ngài dường như chắc chắn ở cùng chúng tôi trong mọi điều chúng tôi làm, và đã bảo tồn chiếc thuyền này một cách kỳ diệu; vì kể từ khi chúng tôi rời con tàu chúng tôi đã giương buồm đáng kể hơn ba ngàn dặm, điều này, tính đến đống lương thực ít ỏi của chúng tôi, là hầu như chưa từng có tiền lệ. Cho đến nay tôi không cảm thấy sự thiếu hụt thức ăn nhiều như tôi cảm thấy sự thiếu hụt nước uống. Ngay cả Henry, người tự nhiên là một người uống nước tốt, có thể tiết kiệm một nửa khẩu phần của mình từ thời gian này sang thời gian khác, khi tôi không thể. Cổ họng bị bệnh của tôi có thể có một số điều để làm với điều đó, tuy nhiên.

Chẳng còn gì nữa mà bởi bất kỳ lời nịnh hót nào có thể được gọi là thức ăn. Nhưng họ phải xoay sở bằng cách nào đó trong mười tám ngày nữa, vì vào giữa trưa họ vẫn còn tám trăm dặm phải đi. Đó là một cuộc đua cho sự sống bây giờ.

Đây không phải là lúc cho những lời bình luận hoặc những sự gián đoạn khác từ tôi—mỗi khoảnh khắc đều quý giá. Tôi sẽ lấy nhật ký của người em trai thiếu niên tại điểm này, và dọn sạch các vùng biển trước nó và để nó bay.

NHẬT KÝ CỦA HENRY FERGUSON:

Chủ nhật, ngày 10 tháng 6. Xương đùi lợn muối của chúng tôi đã cho chúng tôi một hương vị thức ăn hôm nay, và chúng tôi còn lại một chút thịt và phần còn lại của xương cho ngày mai. Chắc chắn, chưa bao giờ có một khớp xương ngọt ngào như thế, hoặc một khớp xương được đánh giá cao đến thế.... Tôi không biết rằng tôi cảm thấy bất kỳ điều gì tệ hơn tôi đã làm Chủ nhật tuần trước, mặc dù giảm chế độ ăn uống; và tôi tin rằng tất cả chúng tôi sẽ có sức mạnh được trao cho để chịu đựng những đau đỡ và gian khổ của tuần tới. Chúng tôi ước tính rằng chúng tôi đang trong vòng bảy trăm dặm của Quần đảo Sandwich, và rằng trung bình của chúng tôi, hàng ngày, là hơn một trăm dặm một chút, nên những hy vọng của chúng tôi có một số cơ sở trong lý trí. Thiên Đường gửi chúng tôi tất cả có thể sống để nhìn thấy đất liền!

Ngày 11 tháng 6. Đã ăn thịt và rind của xương đùi lợn muối của chúng tôi, và có xương và tấm vải nhờn từ xung quanh đùi lợn muối còn lại để ăn ngày mai. Chúa gửi cho chúng tôi chim hoặc cá, và đừng để chúng tôi diệt vong vì đói, hoặc bị đưa đến sự lựa chọn thay thế kinh hoàng là ăn thịt con người! Như tôi cảm thấy bây giờ, tôi không nghĩ bất kỳ điều gì có thể thuyết phục tôi; nhưng bạn không thể nói những gì bạn sẽ làm khi bạn bị giảm bởi cơn đói và trí óc của bạn lang thang. Tôi hy vọng và cầu nguyện chúng tôi có thể làm ra để đến được các hòn đảo trước khi chúng tôi đến eo biển này; nhưng chúng tôi có một hoặc hai người đàn ông tuyệt vọng trên thuyền, mặc dù họ đủ yên tĩnh bây giờ. ĐÓ LÀ NIỀM TIN VÀ SỰ TIN TƯỞNG VỮNG CHẮC CỦA TÔI RẰNG CHÚNG TÔI SẼ ĐƯỢC CỨU.

Tất cả thức ăn đã hết.—Nhật ký của Thuyền trưởng.(3)

Ngày 12 tháng 6. Gió mạnh, và chúng tôi đang thực sự bay—bay thẳng trước nó—và hướng về các hòn đảo. Hy vọng tốt, nhưng triển vọng của cơn đói là kinh hoàng. Đã ăn xương đùi lợn muối hôm nay. Đó là sinh nhật của thuyền trưởng; ông ấy năm mươi tư tuổi.

Ngày 13 tháng 6. Mấy giẻ đùi lợn muối chưa hoàn toàn hết hẳn, và cổ ủng, chúng tôi thấy, rất ngon miệng sau khi chúng tôi lấy muối ra khỏi chúng. Một chút khói, tôi nghĩ, làm một chút tốt; nhưng tôi không biết.

Ngày 14 tháng 6. Cơn đói không làm chúng tôi đau đớn nhiều, nhưng chúng tôi yếu một cách kinh hoàng. Nước uống của chúng tôi đang trở nên thấp một cách đáng sợ. Xin Chúa cho chúng tôi nhìn thấy đất liền sớm! CHẲNG CÓ GÌ ĐỂ ĂN, nhưng cảm thấy tốt hơn tôi đã làm hôm qua. Đến chiều tối thấy một cầu vồng tuyệt vời—CẦU VỒNG ĐẦU TIÊN CHÚNG TÔI ĐÃ THẤY. Thuyền trưởng nói, 'Vui lên, các cậu; đó là một lời tiên tri—ĐÓ LÀ CUNG BẢO HẰNG!'

Ngày 15 tháng 6. Nguyện xin Chúa được ngợi khen mãi mãi vì lòng nhân từ vô hạn của Ngài! ĐẤT LIỀN TRONG TẦM NHÌN! nhanh chóng tiến gần đến nó và sớm CHẮC CHẮN về nó.... Hai người Kanaka cao quý đã bơi ra và đưa chiếc thuyền vào bờ. Chúng tôi đã được đón nhận một cách vui mừng bởi hai người đàn ông da trắng—Ông Jones và người phục vụ Charley của ông—và một đám đông nam giới, nữ giới và trẻ em bản địa. Họ đã xử sự với chúng tôi một cách tuyệt vời—giúp đỡ chúng tôi, và khiêng chúng tôi lên bờ, và mang cho chúng tôi nước, poi, chuối, và dừa xanh; nhưng những người đàn ông da trắng đã chăm sóc chúng tôi và ngăn chặn những người sẽ ăn quá nhiều khỏi làm như vậy. Mọi người vui mừng khôn xiết khi nhìn thấy chúng tôi, và tất cả sự cảm thông được thể hiện trong khuôn mặt, hành động, và lời nói. Sau đó chúng tôi được giúp đỡ lên nhà; và sự giúp đỡ chúng tôi cần. Ông Jones và Charley là những người đàn ông da trắng duy nhất ở đây. Đã xử sự với chúng tôi một cách tuyệt vời. Đã cho chúng tôi đầu tiên khoảng một thìa cà phê rượu mạnh trong nước, và sau đó cho mỗi người một tách trà ấm, với một chút bánh quy. Chăm sóc MỌI ĐIỀU cho chúng tôi. Cho chúng tôi sau đó một tách trà khác, và bánh quy tương tự, và sau đó để chúng tôi đi nghỉ ngơi. ĐÓ LÀ NGÀY HẠNH PHÚC NHẤT TRONG ĐỜI TÔI.... Chúa trong lòng nhân từ của Ngài đã nghe lời cầu nguyện của chúng tôi.... Mọi người đều quá tốt bụng. Lời nói không thể kể hết.

Ngày 16 tháng 6. Ông Jones đã cho chúng tôi một chiếc giường dễ chịu, và chúng tôi chắc chắn đã có một đêm nghỉ ngơi tốt; nhưng không phải ngủ—chúng tôi quá hạnh phúc để ngủ; muốn giữ thực tế và không để nó biến thành một ảo tưởng—sợ rằng chúng tôi có thể thức dậy và thấy mình trong chiếc thuyền một lần nữa.

Đó là một cuộc phiêu lưu kinh ngạc. Chẳng có gì thuộc loại của nó trong lịch sử vượt qua nó trong những điều không thể làm cho có thể. Trong một chi tiết phi thường—sự sống sót của mọi người trên thuyền—nó có lẽ đứng một mình trong lịch sử của những cuộc phiêu lưu thuộc loại này. Thường chỉ một phần của một nhóm thuyền sống sót—các sĩ quan, chủ yếu, và những người đàn ông học thức và được nuôi dưỡng một cách dịu dàng khác, không quen với gian khổ và lao động nặng nhọc; những người lao động chân tay thô ráp, không được huấn luyện gục ngã. Nhưng trong trường hợp này ngay cả những người thô ráp và thô bạo nhất cũng chịu đựng những sự tước đoạt và thảm thương của chuyến đi hầu như tốt như hai anh em trẻ tuổi có học thức đại học và thuyền trưởng đã làm. Ý tôi là, về mặt thể chất. Trí óc của hầu hết các thủy thủ suy sụp trong tuần thứ tư và đi đến sự sụp đổ tạm thời, nhưng về mặt thể chất sự chịu đựng thể hiện là kinh ngạc. Những người đàn ông đó không sống sót bởi bất kỳ công trạng nào của riêng họ, dĩ nhiên, mà bởi công trạng của tính cách và trí tuệ của thuyền trưởng; họ đã sống bởi sự làm chủ tinh thần của ông. Không có ông họ sẽ là những đứa trẻ không có vú nuôi; họ sẽ cạn kiệt lương thực của họ trong một tuần, và sự dũng cảm của họ sẽ không kéo dài ngay cả lâu như lương thực.

Chiếc thuyền đã đến gần việc bị đắm ở phần cuối. Khi nó tiến gần đến bờ cánh buồm được thả ra, và hạ xuống với một trận chạy; sau đó thuyền trưởng thấy rằng ông đang trôi nhanh về phía một rặng đá ngầm xấu xí, và một nỗ lực đã được thực hiện để kéo cánh buồm lên một lần nữa; nhưng không thể làm được; sức lực của đàn ông đã hoàn toàn cạn kiệt; họ thậm chí không thể kéo một mái chèo. Họ vô vọng, và cái chết đang cận kề. Chính lúc đó họ được phát hiện bởi hai người Kanaka, những người đã thực hiện cuộc cứu hộ. Họ bơi ra và lái chiếc thuyền, và dẫn dắt cô ấy qua một khe hở nhỏ và khó nhận ra trong rặng đá ngầm—khe hở duy nhất trong đó trong một khoảng kéo dài thirty-five dặm! Đốm nơi việc hạ cánh được thực hiện là đốm duy nhất trong khoảng kéo dài đó nơi điểm tựa chân có thể được tìm thấy trên bờ; mọi nơi khác các vách đá dốc đứng xuống thẳng vào forty fathom nước. Ngoài ra, trong tất cả khoảng kéo dài đó đây là đốm duy nhất nơi có ai đó sinh sống.

Trong vòng mười ngày sau khi hạ cánh tất cả đàn ông trừ một người đã dậy và bò trườn xung quanh. Đúng ra, họ nên tự giết mình với 'thức ăn' của mười ngày cuối cùng—một số người trong họ, ở bất kỳ tỷ lệ nào—những người đàn ông đã chất đầy dạ dày của họ với các dải da từ những chiếc ủng cũ và với các mảnh gọt từ thùng bơ; một tải trọng mà họ không zbrid khỏi bởi sự tiêu hóa, mà bởi các phương tiện khác. Thuyền trưởng và hai hành khách đã không ăn các dải và mảnh gọt, như các thủy thủ đã làm, mà cạo da ủng và gỗ, và làm thành một bột hồ từ các mẩu cạo bằng cách làm ẩm chúng với nước. Thuyền phó ba đã kể với tôi rằng những chiếc ủng đã cũ và đầy những lỗ thủng; sau đó nói thêm một cách trầm ngâm, 'nhưng những lỗ thủng tiêu hóa tốt nhất.' Nói về sự tiêu hóa, đây là một điều đáng ghi nhận, và đáng chú ý: trong chuyến đi kỳ lạ này, và trong một thời gian sau đó trên bờ, ruột của một số người đàn ông về cơ bản đã ngừng hoạt động từ các chức năng của họ; trong một số trường hợp không có hành động nào trong twenty và thirty ngày, và trong một trường hợp cho forty-four! Giấc ngủ cũng trở nên hiếm hoi. Tuy nhiên những người đàn ông đã làm rất tốt mà không có nó. Trong nhiều ngày thuyền trưởng đã không ngủ chút nào—twenty-one, tôi nghĩ, trên một chặng kéo dài.

Khi việc hạ cánh được thực hiện, tất cả đàn ông đều được bảo vệ thành công khỏi việc ăn quá nhiều trừ gã "Bồ Đào Nha"; hắn đã thoát khỏi sự theo dõi và ăn một số lượng chuối không thể tin được: một trăm năm mươi hai quả, thuyền phó ba nói, nhưng điều này chắc chắn là một sự thổi phồng; tôi nghĩ đó là một trăm năm mươi mốt quả. Hắn đã gần như nửa đầy da rồi; nó đang treo ra khỏi tai hắn. (Tôi không tuyên bố điều này trên thẩm quyền của thuyền phó ba, vì chúng ta đã thấy gã thuộc loại người nào; tôi tuyên bố điều đó trên thẩm quyền của chính tôi.) Gã "Bồ Đào Nha" đáng lẽ phải chết, dĩ nhiên, và ngay cả bây giờ dường như là một sự tiếc nuối rằng hắn đã không chết; nhưng hắn đã khỏe lại, và sớm như bất kỳ ai trong họ; và tất cả đều đầy da, nữa, cách hắn đã như vậy, và gỗ bơ và khăn tay và chuối. Một số người đàn ông đã ăn khăn tay trong những ngày cuối cùng đó, cũng như tất; và hắn là một trong số họ.

Đó là công trạng của đàn ông rằng họ đã không giết con gà trống gáy rất dũng cảm mỗi buổi sáng. Nó đã sống eighteen ngày, và sau đó đứng dậy và vươn cổ và làm một sự cố gắng dũng cảm, yếu ớt để làm nhiệm vụ của mình một lần nữa, và đã chết trong hành động. Đó là một chi tiết mang tính hội họa; và cầu vồng đó cũng vậy, nữa—cầu vồng duy nhất được nhìn thấy trong forty-three ngày,—dựng lên vòm chiến thắng của nó trên bầu trời cho những chiến binh kiên cường giương buồm bên dưới đến chiến thắng và sự cứu hộ.

Với mười ngày lương thực Thuyền trưởng Josiah Mitchell đã thực hiện chuyến đi đáng nhớ này của forty-three ngày và tám giờ trên một chiếc thuyền mở, giương buồm bốn ngàn dặm trong thực tế và thirty-three trăm và sáu mươi dặm bằng các tuyến đường trực tiếp, và đưa mọi người an toàn đến đất liền. Một người đàn ông tươi sáng, đơn giản, không tự cao, dũng cảm, và rất dễ mến. Tôi đã đi dạo trên boong tàu với ông twenty-eight ngày—khi tôi không chép nhật ký,—và tôi nhớ đến ông với sự kính trọng tôn kính. Nếu ông còn sống ông đã eighty-six tuổi bây giờ.

Nếu tôi nhớ không nhầm, Samuel Ferguson đã chết sớm sau khi chúng tôi đến San Francisco. Tôi không nghĩ cậu ấy đã sống để nhìn thấy quê hương của mình một lần nữa; bệnh tật của cậu ấy đã bị trầm trọng thêm nghiêm trọng bởi những gian khổ của cậu.

Trong một thời gian người ta hy vọng rằng hai chiếc thuyền nhỏ sẽ sớm được nghe tin tức, nhưng hy vọng này đã chịu sự thất vọng. Họ đã đi xuống với tất cả mọi người trên thuyền, không còn nghi ngờ gì nữa, thậm chí không tha cho người thuyền phó một mang tính hiệp sĩ đó.

Các tác giả của các cuốn nhật ký đã cho phép tôi chép lại chúng chính xác như chúng được viết, và các đoạn trích mà tôi đã đưa ra là không có bất kỳ sự làm mịn nào hoặc sự sửa đổi nào. Những cuốn nhật ký này khiêm tốn và không bị ảnh hưởng một cách đẹp đẽ, và với nghệ thuật không vô tình và không cố ý chúng tăng lên hướng tới đỉnh điểm với lực lượng và sự đung đưa và cường độ kịch tính tăng dần và thu thập; chúng quét bạn đi cùng với một sự vội vã tích lũy, và khi tiếng kêu vang lên cuối cùng, 'Đất liền trong tầm nhìn!' trái tim bạn ở trong miệng bạn, và trong một khoảnh khắc bạn nghĩ chính bạn đã được cứu. Hai đoạn cuối cùng không thể cải thiện được bởi nghệ thuật của bất kỳ ai; chúng là vàng văn học; và chính những sự tạm dừng và những câu chưa hoàn thành của chúng có trong chúng một sự hùng hồn không thể đạt được bởi bất kỳ lời nói nào.

Sự hứng thú của câu chuyện này là không thể dập tắt; nó thuộc loại mà thời gian không thể làm mục nát. Tôi đã không nhìn vào các cuốn nhật ký trong thirty-two năm, nhưng tôi thấy rằng chúng không mất đi điều gì trong thời gian đó. Mất đi? Chúng đã thu hoạch được; vì bởi một số luật lệ tinh tế tất cả những trải nghiệm bi kịch của con người đều thu hoạch được trong sự thảm thương bởi góc nhìn của thời gian. Chúng ta nhận ra điều này khi ở Naples chúng ta đứng suy ngẫm về người mẹ Pompeii tội nghiệp, bị mất tích trong cơn bão lịch sử của tro bụi núi lửa eighteen thế kỷ trước, người nằm với đứa con của cô được kẹp chặt vào ngực, cố gắng cứu nó, và sự tuyệt vọng và nỗi đau buồn của cô đã được bảo tồn cho chúng ta bởi phong bì lửa đã lấy đi sự sống của cô nhưng vĩnh cửu hóa hình dáng và các tính năng của cô. Cô ấy làm chúng ta xúc động, cô ấy ám ảnh chúng ta, cô ấy ở lại trong suy nghĩ của chúng ta trong nhiều ngày, chúng ta không biết tại sao, vì cô ấy chẳng là gì đối với chúng ta, cô ấy chẳng là gì đối với bất kỳ ai trong eighteen thế kỷ; trong khi đó của trường hợp tương tự ngày nay chúng ta sẽ nói, 'Tội nghiệp! thật đáng thương,' và quên nó đi trong một giờ.

(1) Còn mười chín ngày lênh đênh phía trước nữa.—M.T.

(2) Tuy nhiên vẫn còn sáu ngày giương buồm nữa.—M.T.

(3) Chính vào thời điểm này người ta phát hiện ra rằng những thủy thủ phát điên đã có ảo tưởng rằng thuyền trưởng giấu một triệu đô la vàng phía sau lái, và họ đang âm mưu sát hại ông cùng hai hành khách để chiếm đoạt nó.—M.T.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.