Thư từ phóng viên báo "Thời báo Luân Đôn"
Chicago, ngày 1 tháng 4 năm 1904.
Tôi lại tiếp tục nối máy cáp điện thoại điện tín từ cái đoạn dở dang hôm qua đây. Nhiều tiếng đồng hồ nay rồi, cái thành phố to chềnh ễnh này — cùng với cả cái quả đất này nữa chứ còn ai vào đây — đéo bàn cái gì khác ngoài cái vụ bê bối giật gân mà tôi đã phang trong bản tin trước. Theo chỉ thị của đại ca tòa soạn, tôi sẽ mò lại từ đầu cái thiên tình sử ly kỳ này cho tới lúc nó lên đỉnh vào ngày hôm qua — hoặc hôm nay, các ông muốn gọi sao thì tùy. Ơn trời phật, tôi lại vô tình đóng một vai ké trong cái vở kịch đời này. Màn mở đầu diễn ra tại Vienna. Thời gian: một giờ sáng, ngày 31 tháng 3 năm 1898. Tôi vừa cúp cua khỏi một buổi tiệc tùng đàn hát. Tầm nửa đêm, tôi quắp đít đi về cùng mấy tay tùy viên quân sự của mấy đại sứ quán Anh, Ý, Mỹ để làm vài điếu thuốc tàn cuộc. Cái chốn tụ tập này được ấn định tại sào huyệt của Trung úy Hillyer, cái gã đứng thứ ba trong đám tùy viên vừa nêu. Lúc mò đến nơi, bọn tôi thấy trong phòng đã có sẵn mấy mống: cu cậu Szczepanik;(1) lão K., kẻ chống lưng bơm tiền cho nó; lão W., thư ký của lão K.; và Trung úy Clayton thuộc Lục quân Hoa Kỳ. Thời đó, súng đạn đang chực nổ giữa Tây Ban Nha với phe ta, nên Trung úy Clayton được sếp cử sang Châu Âu làm việc công. Tôi thì nhẵn mặt cu cậu Szczepanik với hai gã cạ cứng kia rồi, còn Clayton thì chỉ biết sơ sơ. Lần đầu tôi gặp hắn là ở West Point mấy năm trước, hồi hắn còn là tân binh láo ngáo dưới thời Tướng Merritt làm giám đốc. Hắn nổi tiếng là tay sĩ quan có sỏi trong đầu, nhưng tính nết thì bốc đồng, ăn nói chả biết kiêng nể ai.
Cái chầu thuốc lá này tụ tập không chỉ để chém gió mà còn có mùi làm ăn. Mục đích là bàn xem cái máy "viễn thị điện từ" (telelectroscope) có xài được cho bên quân đội hay không. Giờ nghe thì thây kệ chứ hồi đó cái phát minh này chả ai coi ra cái đinh gì trừ chính chủ. Ngay cả lão nhà giàu bơm tiền cho nó cũng chỉ coi đó là cái đồ chơi lạ mắt cho vui tay. Lão tin chắc thế đến mức còn hoãn mẹ nó việc tung ra cho thế giới dùng tới tận cuối thế kỷ bằng cách ký hợp đồng cho một băng nhóm thuê độc quyền hai năm để mang đi khè ở Hội chợ Thế giới Paris. Lúc bọn tôi bước vào phòng hút thuốc, đã thấy Trung úy Clayton với Szczepanik đang cãi nhau chí chóe bằng tiếng Đức về cái máy viễn thị đó rồi. Clayton đang gầm lên:
‘Thôi ông biến đi, ông biết thừa quan điểm của tôi rồi đấy!’ vừa nói hắn vừa nện nắm đấm cái ‘chát’ xuống bàn.
‘Ngược lại, tôi coi ý kiến của ông chẳng bằng cái đinh gỉ,’ cu cậu phát minh trẻ tuổi đáp trả bằng cái giọng điềm tĩnh đến phát điên.
Clayton quay sang lão K., bảo:
‘Tôi đéo hiểu sao ông lại ném tiền qua cửa sổ cho cái thứ đồ chơi rẻ tiền này. Theo tôi, đéo bao giờ cái máy này làm được cái trò trống gì đáng giá một xu cắc cho cái giống người.’
‘Thì có thể, ừ thì có thể thế; nhưng ngộ lỡ phóng lao rồi thì phải theo lao thôi. Tôi cũng nghĩ nó chỉ là cái đồ chơi, nhưng cu Szczepanik này nó cam đoan ghê lắm. Mà tôi thì thừa biết cái đầu nó nhìn xa hơn tôi nhiều — dù có xài cái máy đó hay không.’
Cái câu vuốt ve đó đéo làm Clayton hạ hỏa, ngược lại càng làm hắn điên máu hơn; hắn lại nhai đi nhai lại cái luận điệu rằng cái phát minh này đéo đáng giá một cắc xu lẻ. Lần này hắn còn nhấn mạnh là "không đáng một cắc gỉ". Rút trong túi ra đồng cắc xu Anh đặt lên bàn, hắn bồi thêm:
‘Cầm lấy này lão K., cất đi; nếu có ngày cái máy nợ đời này làm nên trò trống gì có ích cho ai — nhớ nhé, thực sự có ích — thì làm ơn gửi trả lại cho tôi để tôi tự vả vào mặt mình vì mấy lời vừa nói. Nhắm làm được không?’
‘Được chứ,’ lão K. thản nhiên nhét đồng xu vào túi.
Nổi máu điên, Clayton quay sang chửi đểu Szczepanik — nhưng chưa kịp dứt câu thì đã bị cu cậu cướp lời bằng một cú đốp chát, rồi khuyến mãi thêm một đấm thẳng mặt. Một trận ẩu đả ra trò nổ ra trong vài phút; sau đó mấy tay tùy viên phải lao vào can hai cái đầu nóng ra.
Bây giờ cảnh trí chuyển sang Chicago. Thời gian: mùa thu năm 1901. Ngay khi cái hợp đồng ở Paris hết hạn, cái máy viễn thị điện từ được thả cho dân chúng xài, và chẳng mấy chốc đã nối mạng với toàn bộ hệ thống điện thoại trên toàn cầu. Cái điện thoại "khoảng cách vô tận" cải tiến được tung ra, thành ra chuyện thiên hạ xảy ra ở xó xỉnh nào trên trái đất cũng được bàn dân thiên hạ nhìn tận mắt, nghe tận tai và bàn tán xôn xao, dù có cách nhau hàng vạn dặm.
Thế rồi Szczepanik cũng mò đến Chicago. Clayton (giờ đã lên chức Đại úy) lúc đó đang công tác ở quân khu này. Hai gã lại ngứa nghề khơi lại mối hận cũ ở Vienna năm 1898. Tổng cộng ba lần gây nổ đĩa, lần nào cũng phải có người can ra mới êm. Rồi đùng một cái, mất tích hai tháng liền không ai thấy bóng dáng Szczepanik đâu. Ban đầu anh em tưởng nó đi phượt ngắm cảnh vài hôm rồi lại mò về. Nhưng đéo, đéo có một dòng tin tức. Người ta lại đoán chắc nó chuồn về Châu Âu rồi. Thời gian cứ thế trôi, vẫn biệt vô âm tín. Nhưng cũng đéo ai bận tâm lắm, vì cái giống phát minh với bọn thi sĩ tính tình hay dở dở trung trung, đi đi về về như ma trọc, thích là nhích đéo báo ai bao giờ.
Và đây, kịch hay bắt đầu biến thành bi kịch. Ngày 29 tháng 12, trong một cái hầm tối om bụi bặm dưới nhà Đại úy Clayton, một con mụ oshin nhà hắn phát hiện ra một cái xác chết. Bè bạn gã quá cố đến nhận dạng thì đúng là Szczepanik. Nạn nhân bị ăn đòn bỏ mạng. Clayton lập tức bị xích tay, bị khởi tố và đưa ra tòa vì tội giết người. Bằng chứng chống lại hắn nét nẹt từng chi tiết, cứng như thép đập đéo thể cãi vào đâu được. Chính Clayton cũng phải ngậm ngùi thừa nhận điều này. Hắn bảo một gã đầu óc tỉnh táo nhìn vào đống bằng chứng này thì có là thánh cũng phải kết tội hắn; nhưng đời lắm chuyện oái ăm, sự thật đéo phải thế. Clayton thề sống thề chết rằng hắn đéo vấy máu, đéo liên quan gì đến cái vụ án mạng này hết.
Như bà con độc giả đã biết, hắn bị tuyên án tử hình. Hắn vốn có nhiều vây cánh bự, bọn họ ra sức chạy chọt để cứu hắn, vì đéo ai tin một gã như hắn lại đi làm cái trò đó. Tôi cũng ráng nhúng tay giúp một chút trong khả năng của mình, vì từ lâu tôi với hắn đã là cạ cứng, tôi thừa biết bản tính hắn đéo phải loại tiểu nhân lừa kẻ thù vào góc tối rồi đâm lén. Trong suốt năm 1902 và 1903, Thống đốc đã mấy lần ký lệnh hoãn thi hành án; đầu năm nay lại hoãn tiếp phát nữa, dời ngày lên ghế điện sang 31 tháng 3.
Ghe lạnh đít cho Thống đốc từ ngày tuyên án tới giờ là ở chỗ: con vợ của Clayton lại chính là cháu gái ruột của lão. Hai đứa nó cưới nhau năm 1899, lúc Clayton ba tư còn con bé mới hai ba, sống với nhau êm ấm lắm. Có được mụn con gái ba tuổi. Thương tình hai mẹ con tội nghiệp nên ban đầu lũ báo chí với dư luận còn nương tay khép mồm; nhưng đời nào thế mãi được — ở cái đất Mỹ này cái gì mà đéo dính dấp tới chính trị — thế là mấy gã đối thủ chính trị của Thống đốc bắt đầu chọc ngoáy, lu loa lên rằng lão cố tình câu giờ đéo chịu thi hành pháp luật. Mấy lời châm biếm ngày càng dày đặc và gắt gao hơn. Kết quả là phe của lão bắt đầu xoắn quẩy. Mấy tay đầu sỏ kéo nhau xuống Springfield hội đàm kín với lão liên tục. Lão Thống đốc rơi vào thế đứng giữa hai làn đạn. Một bên là con cháu gái khóc lóc van xin tha mạng cho chồng; bên kia là lũ đại ca trong đảng ép lão phải làm tròn trách nhiệm của một quan chức bự nhất bang, đéo được cản trở việc xử tử Clayton nữa. Rốt cuộc cái ghế thắng cái tình, Thống đốc đành nheo mắt thề sẽ đéo hoãn án cho thằng tử tù thêm lần nào nữa. Chuyện xảy ra hai tuần trước. Con vợ Clayton lúc đó mới bảo:
‘Bác đã thề rồi thì hy vọng cuối cùng của cháu coi như tiêu tùng, vì cháu biết bác đéo bao giờ nuốt lời. Nhưng bác đã cố hết sức vì anh John rồi, cháu đéo trách bác đâu. Bác thương anh ấy, thương cháu, cháu biết nếu cứu được một cách danh chính ngôn thuận thì bác đã làm. Giờ cháu sẽ vào với anh ấy, giúp được gì thì giúp, an ủi nhau được chút nào hay chút nấy trong mấy ngày ngắn ngủi còn lại trước khi màn đêm vĩnh hằng buông xuống đời cháu. Ngày hôm đó bác sẽ ở bên cháu chứ? Bác đéo để cháu phải chịu đựng một mình đâu đúng không?’
‘Bác sẽ tự tay đưa cháu đến gặp nó, cháu gái tội nghiệp của bác, và bác sẽ đứng ngay bên cạnh cháu cho tới phút cuối cùng.’
Theo lệnh Thống đốc, Clayton từ đó được hưởng mọi đặc quyền ăn chơi ng ngơi theo yêu cầu để giải khuây cái đầu và bớt khổ cái thân tù tội. Vợ con hắn vào ở cùng ban ngày; còn ban đêm thì tôi túc trực làm cạ chém gió với hắn. Hắn được chuyển khỏi cái chuồng cọp chật hẹp đã giam cầm hắn suốt thời gian mịt mờ qua, sang ở hẳn căn phòng rộng rãi sang trọng của trưởng trại giam. Đầu óc hắn lúc nào cũng ám ảnh bởi cái tai họa đời mình và cái gã phát minh bị đâm chết, thế là hắn nảy ra ý định muốn lấy cái máy viễn thị điện từ về phòng để chơi cho đỡ cuồng chân cuồng tay. Hắn muốn là được. Ngay lập tức máy được nối với đài điện thoại quốc tế, thế là ngày cũng như đêm, hắn bật hết góc này đến góc khác của cái quả đất lên, ngắm nhìn cuộc sống thiên hạ, soi những trò kỳ lạ, chém gió với đủ loại người, và nhận ra rằng nhờ cái công cụ vi diệu này mà dù đang bị khóa chặt sau chấn song sắt, hắn vẫn tự do đéo kém gì chim trời. Hắn ít khi nói chuyện, còn tôi thì đéo bao giờ làm phiền khi hắn đang chìm đắm trong cái trò tiêu khiển đó. Tôi ngồi ở phòng khách đọc sách, phà thuốc lá, đêm nào cũng êm đềm và ấm cúng, nghĩ cũng thú. Thỉnh thoảng lại nghe hắn hô: ‘Nối máy cho tao đến Yedo (Tokyo);’ rồi lại, ‘Cho tao đến Hồng Kông;’ rồi, ‘Cho tao sang Melbourne.’ Còn tôi thì cứ nhàn nhã nhả khói đọc sách, trong khi hắn lang thang dưới lòng đất xa xôi bên kia bán cầu, nơi mặt trời đang tỏa nắng rực rỡ và thiên hạ đang tất bật đi làm. Đôi khi mấy cuộc trò chuyện từ những phương trời xa xôi dội qua cái loa phát thanh làm tôi chú ý, thế là tôi cũng hóng hớt nghe cùng.
Hôm qua — tôi cứ gọi là hôm qua theo thói quen thôi, cũng dễ hiểu thôi — cái máy nằm phủ bụi đéo ai rờ tới, mà cũng phải thôi, vì đó là đêm trước ngày ra pháp trường mà. Cả ngày chỉ toàn nước mắt, tiếng khóc lóc và những lời từ biệt đau thương. Thống đốc cùng hai mẹ con ở lại đến tận mười một giờ mười lăm đêm, những cảnh tượng tôi chứng kiến thật xót xa lòng mề. Giờ xử tử được ấn định là bốn giờ sáng. Khoảng hơn mười một giờ chút xíu, một tiếng búa nện chát chúa vang lên giữa đêm tĩnh mịch, cùng với ánh đèn sáng rực hắt vào, đứa con gái nhỏ liền kêu lên: ‘Cái gì thế bố?’ rồi lon ton chạy ra cửa sổ trước khi ai kịp giữ lại, nó vỗ hai bàn tay nhỏ xíu reo lên: ‘Ôi mẹ ơi ra xem này — người ta đang làm cái gì đẹp thế!’ Con mẹ nó thừa biết là cái gì — và xỉu ấp tại chỗ. Đó là cái pháp trường gông cổ!
Người ta phải bế người vợ tội nghiệp về chỗ trọ, giờ chỉ còn tôi với Clayton — cô độc hai thằng, ngồi suy ngẫm, trầm ngâm, mơ màng. Hai đứa tôi ngồi im như hai bức tượng đéo nhúc nhích. Một đêm giông bão kinh hoàng, vì mùa đông đột ngột quay trở lại theo đúng cái tính nết dở hơi của vùng này vào đầu mùa xuân. Bầu trời đen kịt đéo có lấy một ngôi sao, gió từ phía hồ thổi vào lồng lộn. Sự im lặng trong phòng sâu đến mức mọi tiếng động bên ngoài nghe cứ như bị phóng đại lên. Những âm thanh đó thật đúng lúc: chúng hòa nhịp hoàn hảo với hoàn cảnh lúc này: tiếng gió rít ầm ầm như sấm dội trên mái nhà và ống khói, rồi dịu đi thành những tiếng thút thít, than van quanh gờ tường; thỉnh thoảng một trận mưa đá lại nện vào lóa mắt nghiến ken két lên ô cửa kính; và lúc nào cũng văng vẳng tiếng búa nện trầm đục, ghê rợn của đám thợ đóng giàn giáo ngoài sân án.
Trôi qua cả một thế kỷ như thế, một âm thanh khác vang lên — từ xa xăm, bị bão tố nuốt chửng chỉ còn vọng lại yếu ớt — tiếng chuông điểm mười hai giờ đêm! Lại một thế kỷ nữa trôi qua, chuông lại điểm. Rồi lại một khoảng nghỉ dài lê thê gặm nhấm tâm trí, âm thanh ma quái đó lại trôi đến chỗ chúng tôi — một, hai, ba giờ; lần này hai đứa tôi nín thở; chỉ còn sáu mươi phút để sống!
Clayton đứng dậy, bước đến bên cửa sổ, ngước nhìn lên bầu trời đen kịt, lắng nghe tiếng mưa đá quật đùng đùng và tiếng gió rít chói tai; rồi hắn cất giọng:
‘Lần cuối cùng một kẻ sắp chết nhìn thấy cái quả đất này lại là thế này sao!’ Đứng một lúc hắn lại gầm lên: ‘Tao phải thấy mặt trời lần nữa — mặt trời đâu!’ và ngay giây tiếp theo hắn gào lên cuống quít vào cái máy: ‘Trung Quốc! Nối máy Trung Quốc cho tao — Bắc Kinh!’
Tôi xúc động đến gai cả người, tự nhủ: ‘Đù mạ, tưởng tượng xem một thằng người bằng thịt bằng xương lại làm nên cái phép màu đéo thể tin nổi này — biến mùa đông thành mùa hè, đêm đen thành ngày sáng, bão tố thành lặng gió, trao sự tự do của cả cái quả đất cho một thằng tù trong căn hộ giam, và dâng mặt trời rực rỡ cho một kẻ đang hấp hối trong cái tối tăm mù mịt này.’
Tôi ghé tai nghe ngóng.
‘Ánh sáng kìa! Sáng quá! Chói lọi quá!... Đây là Bắc Kinh đấy à?’
‘Đúng rồi.’
‘Mấy giờ rồi?’
‘Giữa chiều.’
‘Đông người thế làm cái quái gì mà ăn mặc sặc sỡ thế kia? Toàn quần áo gấm vóc lụa là đẹp mê hồn! Lại còn lấp lánh rực rỡ dưới ánh nắng mặt trời nữa chứ! Có sự kiện gì thế?’
‘Lễ đăng quang của vị Hoàng đế mới của chúng tôi — Nga Hoàng.’
‘Nhưng tao tưởng cái lễ đó diễn ra hôm qua rồi cơ mà.’
‘Thì với ông hôm nay mới là hôm qua đó.’
‘Đúng rồi nhở. Mấy nay cái đầu tao nó cứ lú lẫn thế nào ấy: cũng có lý do cả thôi.... Thế kia là đoàn diễu hành mới bắt đầu đấy à?’
‘Đâu có, đi được một tiếng rồi.’
‘Còn dài nữa không?’
‘Còn hai tiếng nữa cơ. Sao ông lại thở dài thế?’
‘Tại tao muốn xem cho bằng hết.’
‘Thế sao không xem?’
‘Tao sắp phải đi rồi...’
‘Có hẹn à?’
Sau một khoảng lặng, hắn thì thào: ‘Ừ.’ Lại lặng đi một lúc: ‘Mấy đứa ngồi trong cái lều lộng lẫy kia là ai thế?’
‘Hoàng gia với mấy tay vua chúa các nước đến dự đấy.’
‘Còn cái lều bên cạnh trái phải kia là ai?’
‘Bên phải là đại sứ với gia quyến; bên trái là khách khứa nước ngoài tự do.’
‘Nếu ông làm ơn thì tôi —’
Đùng! Tiếng chuông xa xăm lại vang lên, điểm ba giờ rưỡi đứt quãng qua trận bão tuyết lồng lộn. Cửa mở sầm, Thống đốc cùng hai mẹ con bước vào — người phụ nữ đã khoác lên mình bộ đồ tang đen đúa! Cô ta lao vào ngực chồng khóc nấc lên từng hồi, còn tôi — tôi đéo chịu nổi cảnh này nữa; tôi đéo đủ can đảm. Tôi chui tọt vào phòng ngủ, đóng chặt cửa lại. Tôi ngồi đó chờ đợi — chờ đợi — chờ đợi, lắng nghe tiếng cánh cửa sổ đập bần bật và tiếng gió bão gầm rú bên ngoài. Sau một hồi lâu tưởng chừng dài vô tận, tôi nghe thấy tiếng động sột soạt ngoài phòng khách, biết ngay là lão mục sư, tên cảnh sát trưởng với lũ bảo vệ đã tới. Có tiếng thì thầm nho nhỏ; rồi im lặng; rồi tiếng cầu nguyện lẫn trong tiếng thút thịt; ngay sau đó là tiếng bước chân — đoàn người tiến ra đoạn đầu đài; rồi tiếng con nít hồn nhiên vang lên: ‘Mẹ ơi đừng khóc nữa, mình lại có bố rồi, mình đưa bố về nhà thôi.’
Cửa đóng lại; bọn họ đã đi rồi. Tôi thấy nhục nhã quá: tôi là thằng bạn duy nhất của kẻ sắp chết mà lại hèn nhát, đéo có chút khí phách nào. Tôi bước ra phòng, tự bảo mình phải làm một thằng đàn ông, phải đi theo ủng hộ nó. Nhưng cái bản tính con người ta nó thế rồi, đéo cưỡng lại được. Rốt cuộc tôi đéo đi.
Tôi đi qua đi lại trong phòng một cách bồn chồn, rồi bị cái sức hút quỷ quái của những điều kinh hoàng kéo lại, tôi nhẹ nhàng mở ô cửa sổ ra và nhìn xuống sân án. Dưới ánh đèn điện sáng quắc, tôi thấy một nhóm nhỏ những nhân chứng có máu mặt, con vợ đang khóc gục trên ngực lão bác Thống đốc, thằng tử tù đứng trên giàn giáo với sợi dây thừng quấn quanh cổ, hai tay bị trói chặt vào thân, cái mũ đen chùm kín đầu, tên cảnh sát trưởng đứng bên cạnh tay đã đặt sẵn vào cái cần gạt, vị mục sư đứng trước mặt đầu trần tay cầm quyển kinh sách.
‘Ta là sự sống lại và là sự sống—’
Tôi quay mặt đi. Đéo thể nghe nổi; đéo thể nhìn nổi. Tôi đéo biết phải đi đâu hay làm cái quái gì nữa. Theo bản năng đéo suy nghĩ, tôi ghé mắt vào cái máy kỳ lạ đó, và đập vào mắt tôi lại là Bắc Kinh và đoàn diễu hành của Nga Hoàng! Ngay giây tiếp theo, tôi nhoài người ra ngoài cửa sổ, thở hổn hển, nghẹn ngào, cố gào lên nhưng họng lại cứng đờ vì cái sự cấp bách đến nghẹt thở. Lão mục sư thì vẫn thao thao bất tuyệt, còn tôi, kẻ đang thèm một tiếng chửi thề đến chết thì lại ngậm hột thị — ‘Và xin Chúa rủ lòng thương hại cho linh hồn con. Amen.’
Tên cảnh sát trưởng kéo cái mũ đen xuống, tay nắm chặt cái cần gạt. Lúc này tôi mới lấy lại được giọng, gào lên cháy cổ:
‘Dừng lại, đồ ngu! Nó vô tội! Vào đây mà xem thằng Szczepanik đang bằng xương bằng thịt đây này!’
Chưa đầy ba phút sau, Thống đốc đã lao đến chiếm chỗ tôi bên cửa sổ và gầm lên:
‘Tháo xiềng xích cho nó, thả tự do ngay!’
Ba phút sau, cả lũ lại quây quần trong phòng khách. Độc giả tự mà hình dung cái cảnh đó đi; tôi đéo rảnh mô tả lại làm gì. Đó là một trận cuồng loạn vì sung sướng.
Một tên đưa tin tức tốc gửi lời đến Szczepanik ở khán đài Bắc Kinh, người ta thấy rõ sự bàng hoàng kinh ngạc trên mặt hắn khi nghe xong câu chuyện. Rồi hắn mò đến đầu dây bên kia, chém gió với Clayton, Thống đốc và những người khác; con vợ Clayton thì xối xả trút lời cảm ơn lên đầu hắn vì đã cứu mạng chồng mình, và trong niềm biết ơn sâu sắc, cô ta trao cho hắn một nụ hôn qua khoảng cách mười hai ngàn dặm.
Mấy cái máy viễn thị trên khắp thế giới lúc này được huy động hết công suất, và trong nhiều giờ liền, vua chúa các nước (cùng với vài tay nhà báo mặt dày) thay nhau đàm đạo với Szczepanik, tung hô hắn lên tận mây xanh; còn mấy cái hội khoa học chưa kịp trao bằng danh dự cho hắn thì cũng vội vàng ban cho hắn cái vinh dự đó.
Thế đéo nào mà hắn lại biến mất khỏi giang hồ được cơ chứ? Giải thích thì dễ ợt. Hắn chưa quen với việc làm đại ca nổi tiếng thế giới, lại bị lũ hâm mộ làm phiền mất hết cả riêng tư với nghỉ ngơi nên phải chuồn. Thế là hắn nuôi râu, đeo kính râm, cải trang một tí, lấy một cái tên giả rồi dắt túi tung tăng đi chu du thiên hạ cho yên thân.
Đó là toàn bộ câu chuyện của cái kịch bản bắt đầu từ một vụ cãi lộn vặt vãnh ở Vienna vào mùa xuân năm 1898, và suýt chút nữa đã kết thúc thành một bi kịch đổ máu vào mùa xuân năm 1904.
Mark Twain.