Tay Sát Thủ Mù

Lượt đọc: 313 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NHÀ MÁY CÚC

❊ ❊ ❊

Cái nóng mùa hè đã về đầy đủ, vánh lại trên thị trấn như xúp kem. Tiết trời sốt rét, một thời; tiết trời thổ tả. Hàng cây che đường tôi đi xòe những tán ô rũ rượi, giấy ẩm nhớp dưới tay, chữ viết ra đâm râu tua tủa như son môi rỉ vào đường chân chim ven khuôn miệng già cỗi. Chỉ cần leo thang tôi đã trổ một hàng ria mồ hôi.

Tôi không nên đi bộ trong cái nóng thế này, sẽ làm tim mất sức. Tôi để ý ra điều này một cách ác ý. Tôi không nên thử thách tim mình kiểu đó, nhất là giờ đã được tin bệnh trạng của nó; nhưng tôi vẫn làm thế với nỗi khoái trá bệnh hoạn, như tôi là thằng đầu bò đầu bướu đang bắt nạt nó là đứa trẻ mè nheo yếu đuối tôi vẫn ghét.

Chiều chiều bắt đầu có sấm, tiếng thì thùng đì đùng đằng xa, như Chúa đang hờn lẫy đập phá. Tôi dậy đi tè, về lại giường, nằm uốn éo giữa lớp chăn ẩm, lắng nghe tiếng quạt rừ rừ buồn tẻ. Myra bảo tôi nên lắp điều hòa, nhưng tôi không muốn. Với lại cũng không có tiền. “Ai mà giả tiền cho cái đồ ấy được?” tôi bảo cô. Cô ả chắc nghĩ tôi có hòn ngọc giấu trên trán, như con cóc trong cổ tích.

Đích đến hôm nay là Nhà Máy Cúc, tôi định sẽ đến đó uống cà phê sáng. Bác sĩ đã răn tôi tránh cho xa cà phê, nhưng anh ta mới có năm chục tuổi - anh ta vẫn mặc quần soóc chạy bộ hằng ngày, cho thiên hạ có dịp ngắm nghía đôi cẳng chân lắm lông. Anh ta đâu có biết tuốt, dù chắc anh ta cũng chẳng biết chính điều này. Nếu tôi không chết vì cà phê thì thế nào chẳng chết vì thứ khác.

Phố Erie bứ lên vì du khách, hầu hết trung tuổi, gí mũi vào mọi cửa hàng xú vơ nia, sục sạo từng xó xỉnh trong hiệu sách, lang thang vô định trước khi lên xe sau bữa trưa đến liên hoan sân khấu mùa hè gần đó lấy vài giờ mua vui bằng phản bội, hung bạo, ngoại tình và giết chóc. Một số đi về cùng phía tôi đi - tới Nhà Máy Cúc, hòng kiếm một hai món đồ sặc sỡ ghi nhớ kỳ nghỉ một đêm rời khỏi thế kỷ hai mươi. Đồ tích bụi, Reenie hẳn sẽ mệnh danh những của lạ đó như vậy. Cũng áp dụng luôn cho cả chính đám du khách kia.

Tôi đi tiếp giữa đám bạn đồng hành áo màu nhạt, tới điểm phố Erie biến thành phố Mill và chạy dọc theo sông Louveteau. Cảng Ticonderoga có hai con sông, Jogues và Louveteau - những cái tên là dấu tích kho trữ hàng Pháp từng đặt ở ngã ba sông, nhưng miền này chúng tôi cũng chẳng đi sùng Pháp: người thị trấn gọi thành sông Jogs và sông Lovetow. Dòng nước xiết sông Louveteau đã rủ về những nhà xay bột đầu tiên, rồi đến các nhà máy thủy điện. Jogues ngược lại, sâu và chảy chậm, thuyền bè có thể đi đến ba chục dặm bên kia hồ Erie. Xưa dòng sông dùng để chuyên chở đá vôi, ngành công nghiệp sớm nhất của thị trấn, phát triển trên nguồn trầm tích khổng lồ để lại khi biển nội địa rút đi. (Từ kỷ Permi, kỷ Jura? Có thời tôi biết đấy.) Phần lớn nhà trong thị trấn đều xây bằng thứ đá này, kể cả nhà tôi.

Các mỏ đá bỏ hoang vẫn còn quanh khu ngoại ô, những khối vuông và chữ nhật xẻ rất sâu vào núi như từng có những tòa nhà được dỡ nguyên vẹn từ trong ra, bỏ lại cái khuôn rỗng ruột. Thỉnh thoảng tôi mường tượng toàn thị trấn trồi lên từ đại dương tiền sử nông choèn, nở chầm chậm như con hải quỳ hay năm ngón găng tay cao su ta thổi hơi vào - giật cục như những thước phim nâu lạo xạo quay hoa đang mở cánh thường chiếu trong rạp - hồi bao giờ nhỉ? - trước khi vào phim chính. Những kẻ săn hóa thạch lùng sục quanh đó, kiếm cá tuyệt chủng, dương xỉ cổ đại, san hô cuộn; và nếu đám trẻ mới lớn cần ăn chơi nhảy múa, chúng cũng chọn nơi này. Bọn trẻ đốt lửa trại, nốc rượu và rít cỏ, mò mẫm trong áo quần nhau với cái vẻ như người đầu tiên nghĩ ra trò đó trên đời, rồi đâm nát xe của cha mẹ trên đường trở lại thị trấn.

Vườn sau nhà tôi tiếp giáp Hẻm Louveteau, nơi con sông thu dòng rồi đổ xuống. Cái thác dốc gây nên kha khá sương mù, và chút ít kính sợ. Mùa hè đến cuối tuần du khách lượn trên đường mòn bên vách núi hoặc đứng ngay sát mép mà chụp ảnh; tôi nhìn thấy từng đoàn mũ phớt trắng ngây thơ đến bực mình diễu qua. Vách đá dễ lở nên rất nguy hiểm, nhưng thị trấn không muốn chi tiền dựng hàng rào: dân ở đây vẫn nhất trí, cho đến tận giờ, rằng nếu có ai đi làm một trò thậm ngu ngốc rồi lãnh hậu quả gì thì cũng đáng đời kẻ đó. Cốc giấy hàng bánh vòng tắc lại trong xoáy nước bên dưới, và thi thoảng lại thấy một cái xác, ngã hay tự nhảy hay bị đẩy cũng khó nói, tất nhiên trừ khi có thư để lại.

Nhà Máy Cúc nằm bên bờ Đông dòng Louveteau, một phần tư dặm từ Hẻm ngược lên. Suốt vài thập kỷ nó đứng đó điêu tàn, cửa sổ vỡ vụn, mái dột gần hết, làm mái ấm của chuột và dân nát rượu, tới khi được cứu khỏi kiếp bị ủi nhờ một ủy ban dân lập năng nổ, và đổi phận làm tổ hợp cửa hàng. Các luống hoa được khôi phục như xưa, mặt tiền được phun cát cho sạch, những tàn phá của thời gian và phá hoại của con người được sửa sang, dù vẫn nhìn rõ những lưỡi tro đen quanh các cửa sổ tầng trệt, từ vụ hỏa hoạn hơn sáu chục năm trước.

Tòa nhà xây bằng gạch đỏ nâu, cửa sổ rất lớn ghép nhiều ô kính theo lối các nhà máy thời xưa để tiết kiệm điện chiếu sáng. Nó khá xinh đẹp là khác, so với những nhà máy đồng loại: diềm hoa trang trí trên cửa, chính giữa có bông hồng đá, cửa sổ áp mái, mái vát bằng ngói tím và xanh. Bên cạnh là bãi để xe nhỏ gọn. Chào Mừng Quý Khách Đến Nhà Máy Cúc, tấm biển viết, lối chữ bay bướm kiểu cổ; và, nhỏ hơn, bên dưới: Cấm Để Xe Qua Đêm. Và dưới nữa, bằng bút dạ đen ngoằn ngoèo tức giận: Mày không phải Chúa và trái đất không phải Lối Xe Vào của Con Mẹ Nhà Mày. Dấu ấn địa phương chính hiệu.

Lối vào chính đã mở rộng thêm, xây thêm dốc cho xe lăn, những cánh cửa nặng nề đã thay bằng cửa kính: Ra - Vào, Kéo - Đẩy, bộ tứ hống hách của thế kỷ hai mươi. Bên trong có tiếng nhạc, vĩ cầm nông thôn một-hai-ba, một điệu van nhún nhảy não tình nào đấy. Có một giếng trời, đậy trên khoảnh sân trung tâm lót đá cuội giả, thêm vài ghế đá công viên mới sơn xanh và chậu đựng vài bụi cây quặt quẹo. Các cửa hàng sắp vòng quanh sân: không khác gì phố mua săm.

Tường gạch để trần, trang trí bằng những ảnh cũ lấy từ kho lưu trữ thị trấn, phóng to đại tướng. Đầu tiên là đoạn trích trong báo - một tờ báo Montreal, không phải báo ở đây - đề năm 1899:

Ai hình-dung những nhà xay tối-tăm của Quỷ như thời Cổ Anh quốc là nhầm. Các nhà-máy ở Cảng Ticonderoga mọc lên giữa cây-cối xanh tươi điểm hoa trái tươi-tắn, trong tiếng ru róc-rách của dòng nước chảy gần bên; phòng xưởng sạch-sẽ và thoáng khí, thợ-thuyền hăng-hái tươi-cười. Khi hoàng-hôn tới, đứng bên cầu Khánh-Tiết duyên-dáng mới xây, cong cong như chiếc cầu-vồng sắt cuốn bắc qua những luồng thác ào-ạt của dòng Louveteau, người ta ngỡ đang chiêm-ngưỡng cảnh thần-tiên mê-hồn khi đèn nhà máy cúc Chase bừng lên, phản-chiếu trên mặt nước lấp-lánh.

Những câu này, vào thời được viết ra, không phải hoàn toàn bịa đật. Ít ra trong một giai đoạn ngắn, ở đây đã biết thế nào là sung túc, đủ để vực dậy cả vùng.

Tiếp theo là hình ông nội tôi, áo bành tô và mũ quả dưa cùng đôi chòm ria bạc, đứng giữa một tốp chức sắc cũng bóng bẩy không kém chờ chào đón Công tước xứ York[1] đang làm chuyến công du Canada năm 1901. Rồi đến cha tôi ôm vòng hoa, trước Đài tưởng niệm chiến tranh trong lễ khánh thành - một người cao, nghiêm nghị, để ria, băng một bên mắt; nhìn gần hơn: một loạt đốm đen. Tôi đứng lùi lại xem hình ông có rõ nét hơn không - cố bắt ánh mắt bên lành - nhưng ông không nhìn tôi; ông đang nhìn về chân trời, thẳng lưng ưỡn ngực, như đang đối mặt đội hành quyết. Một người trung kiên, ai thấy hẳn cũng nói vậy.

Rồi một pô chụp bản thân nhà máy, năm 1911, theo dòng chữ đề dưới. Máy móc khua những cánh tay rầm rập như chân cào cào, bánh răng thép lớn nhỏ đủ hình thù, và những pit tông sầm sầm lên xuống, quai hình dạng cho sản phẩm; những bàn dài hai bên hai dãy thợ, gập người tới trước, tay thoăn thoắt. Đứng máy là đàn ông, đeo kính và mặc áo bảo hộ, tay xắn lên; bên bàn là đàn bà, tóc búi cao mặc tạp dề. Đàn bà là người đếm và đóng cúc vào hộp, hoặc khâu vào những vỉ bìa in chéo tên nhà Chase, mỗi vỉ sáu hoặc tám hoặc mười hai chiếc.

Tận cuối khoảng sân trống rải sỏi có một quán ăn, Trăm Món Đua Ngon, có nhạc sống vào thứ Bảy, bia thì quảng cáo là lấy của các lò bia gia đình trong vùng. Nội thất toàn ván gỗ đặt trên thùng bia làm bàn, một bên tường có các ngăn bàn ghế gỗ thông kiểu đầu thế kỷ. Thực đơn quán, dán trên cửa sổ - tôi chưa bao giờ vào trong - liệt kê những món tôi thấy sặc mùi ngoại quốc: burger pho mát chảy, vỏ khoai tây, bánh ngô nacho. Món chính giàu béo của đám trẻ hạ lưu, hoặc ít ra Myra bảo thế. Cô nàng nắm vị trí quan sát hàng đầu, ngay cửa hàng sát vách, và mọi trò mèo xảy ra tại Trăm Món chẳng cái nào thoát khỏi mắt cô. Cô nói có một thằng ma cô hay tới đó ăn, cả một gã cò ma túy, giữa ban ngày ban mặt. Cô còn chỉ cho tôi xem, kèm rất nhiều lời thì thầm rùng rợn. Tên ma cô mặc com lê vía, dáng vẻ như dân môi giới chứng khoán. Gã cò ma túy để ria xám, mặc đồ bò, như một thủ lĩnh công đoàn ngày xưa.

Cửa hàng của Myra có tên Nhà Bánh Gừng, Quà tặng và lưu niệm. Bên trong tỏa ra mùi vừa ngọt vừa cay - một thứ nước xịt phòng hương quế gì đó - và bày đủ thứ: lọ mứt nắp bọc vài hoa, gối trái tim nhồi lá thơm sấy ngửi như cỏ khô, những hộp lắp bàn lề xộc xệch do “nghệ nhân dân gian” đẽo tạc, chăn chần được cho là của đạo hữu Mennonite may, chổi cọ nhà xí hình đầu con vịt đang cười khẩy. Quan niệm của Myra về quan niệm của dân thành thị về đời sống nông thôn, đời sống những vị cố tổ quê mùa đồng nội - một mảnh lịch sử cho khách mang về nhà. Lịch sử, theo như tôi nhớ, chưa bao giờ lành mạnh thế này, và nhất là chưa bao giờ sạch sẽ thế này, nhưng hàng thật thì đừng hòng bán được: nói chung chẳng ai ưa một quá khứ nặng mùi.

Myra hay tặng quà cho tôi lựa từ kho bảo bối ấy. Nói cách khác, cô tống cho tôi những món đồ dân tình sẽ không đời nào mua. Tôi đã gom góp được một vòng cành tết bên nhỏ bên to, bộ vòng gỗ xỏ khăn ăn hình quả dứa thiếu vài cái, cây nến thơm béo phị ngửi như dầu hỏa. Vào ngày sinh nhật tôi nhận được đôi găng làm bếp hình càng tôm. Tôi chắc là cô có thiện ý.

Hoặc có thể cô đang cố khiến tôi mủi lòng: cô thuộc phái Báp tít, cô muốn tôi tìm được Giê su, hoặc Giê su tìm được tôi, trước khi quá muộn. Đấy không phải là tính nết di truyền: Reenie mẹ cô chưa bao giờ hứng thú nhiều với Chúa. Hai bên tương kính như tân, và nếu gặp họa thì người ta tất nhiên sẽ gọi tới ngài, cũng như gọi luật sư; nhưng cũng như luật sư, chỉ khi đấy là đại họa. Nếu không thì viễn chi vẫn lành hơn. Dĩ nhiên chị không muốn có ngài quanh quẩn trong bếp, chẳng cần thêm ngài thì chị cũng việc ngập đầu rồi.

Sau một hồi cân nhắc, tôi mua bánh quy tại Thợ Cả Bánh Quy - yến mạch rắc sô cô la vụn - với cà phê đựng cốc xốp, rồi ngồi lên một băng ghế đá mà nhấp cà phê và liếm ngón tay, cho đôi chân nghỉ, nghe nhạc trong băng phát ra những tiếng bật dây luyến láy sầu não.

Chính ông nội Benjamin của tôi là người xây nhà máy cúc, hồi đầu thập kỷ 1870. Hồi ấy nhu cầu cúc áo tăng cao, cũng như áo quần và mọi thứ râu ria trên áo quần - dân số tân lục địa đang bùng nổ với một tốc độ khủng khiếp - còn cúc có thể sản xuất với chi phí rẻ và bán cũng rẻ, và đó (theo Reenie nói) chính là cơ hội ngàn vàng cho ông tôi, người đã nhìn ra vận hội và đã dùng đến bộ óc Chúa ban cho ông.

Tổ tiên ông đã từ Pennsylvania đến đây vào thập kỷ 1820 để khai thác đất khi ấy còn rẻ mạt, cũng như thị trường xây dựng - thị trấn đã cháy trụi trong cuộc chiến 1812, khối lượng cần xây lại quả là không nhỏ. Những bậc tiền bối này là một sản phẩm Giéc-manh, thuộc nhánh giáo phái phi chính thống, pha trộn thêm Thanh giáo thế hệ thứ bảy thành một hỗn hợp cần cù nhưng dễ nổ, giữa hàng ngũ nhà nông đức hạnh và trì độn thường lệ đã sản xuất ra: ba mục sư lưu động, hai tay đầu cơ đất bất tài, và một gã biển thủ vặt - những kẻ ưa đùa cợt số mệnh có thiên hướng tiên tri và tham vọng hướng đến chân trời. Tới ông tôi nết đó thể hiện ra thành trò đen đỏ, cho dù thứ duy nhất ông đem cược là bản thân mình.

Cụ nhà ông làm chủ một trong những nhà xay đầu tiên ở Cảng Ticonderoga, một nhà xay lúa thường thường bậc trung, cái thời mọi thứ còn chạy bằng sức nước. Khi cụ chết, do chứng ngập máu như người ta gọi hồi ấy, ông tôi hai mươi sáu tuổi. Ông thừa hưởng nhà xay, vay mượn thêm tiền, nhập tận Hợp chúng quốc về máy móc làm cúc. Những hạt cúc đầu tiên làm bằng gỗ và xương, sang hơn một chút thì bằng sừng bò. Xương và sừng có thể kiếm được với giá rẻ bèo từ mấy lò mổ trong vùng, còn gỗ thì ê hề khắp nơi đến chật cả đất, còn phải đem đốt chỉ để tống khứ chúng đi. Vật liệu thô rẻ cũng như nhân công rẻ còn thị trường thì đang mở rộng, hỏi làm sao ông không phất lên nhanh chóng?

Cúc áo nhà máy ông tôi làm ra không phải loại khiến cô gái bé là tôi mê thích. Không có những viên xà cừ bé tẹo, không có hạt huyền lóng lánh, không có loại bọc da trắng đính vào găng tay các quý phu nhân. Cúc xưởng nhà giữa họ hàng cúc áo cũng như ủng cao su thô trong số dép giày: những viên cúc câm đụt, thực dụng, dành cho áo bành tô và quần áo bảo hộ hay sơ mi công nhân; chúng toát ra vẻ vâm váp, thậm chí lỗ mãng. Có thể mường tượng những cúc ấy nằm trên quần áo lót mùa đông, cài nắp túi mông quần, hay sắp hàng trên cửa quần dài đàn ông. Chúng sẽ che giấu gì, hẳn là những thứ lủng lẳng, yếu nhược, đáng thẹn, không có không được - những thứ thế giới cần đến nhưng khinh ghét.

Khó hình dung được có thứ hào quang lớn lao nào tìm đến với cháu gái người làm ra thứ cúc như vậy, nếu không phải vì tiền. Nhưng tiền hay ngay cả hơi hám về tiền luôn luôn phả ra một ánh sáng lóa mắt, khiến Laura và tôi lớn lên giữa một vầng cũng khá lung linh. Và ở Cảng Ticonderoga, không ai dám coi cúc nhà Chase là đáng cười hay hạ tiện. Cúc ở đây là vấn đề nghiêm túc: công ăn việc làm của quá nhiều người là ở chúng.

Năm lại năm ông tôi mua lại các nhà xay rồi biến cả thành nhà máy. Ông có một nhà máy đan quần đùi may ô, một nhà nữa làm tất, một cái thứ ba chế tạo đồ gốm cỡ nhỏ, ví như gạt tàn. Ông lấy làm hãnh diện về điều kiện lao động ở các nhà máy của mình: ông lắng nghe mọi lời than phiền khi có ai đủ can đảm lên tiếng, ông rầu lòng thương xót ca thương vong nào được thông báo đến ông. Ông theo sát mọi tiến bộ về cơ khí, mà thực ra là về mọi mặt. Ông là chủ nhà máy đầu tiên trong thị trấn sử dụng điện chiếu sáng. Ông cho rằng hoa cỏ sẽ khích lệ tinh thần công nhân - cúc gỗ và mõm chó là trợ thủ đắc lực của ông, bởi chúng không tốn kém mà lại lòe loẹt và sống được lâu dài. Ông tuyên bố rằng lao động nữ dưới quyền ông cũng được an toàn y như trong phòng khách của họ. (Ông tin rằng họ có phòng khách. Ông tin rằng ở đó họ an toàn. Ông hay nghĩ tốt cho người khác.) Ông không nương tay với kẻ nào say sưa trong giờ làm, hay có ngôn ngữ thô tục, hành vi phóng đãng.

Hoặc ít ra đấy là những gì biết được từ Lịch sử Công ty công nghiệp Chase, cuốn sách ông tôi đặt viết và in riêng năm 1903, bọc bìa da xanh, trên bìa mạ vàng không chỉ nhan đề mà cả chữ ký chân phương đồ sộ của ông. Ông thường đem cuốn biên niên sử rỗi hơi này làm quà tặng đối tác làm ăn, chắc đã khiến họ phải kinh ngạc, dù cũng có thể không. Chắc đó được coi như chuyện đã rồi, bởi nếu không, bà nội Adelia sẽ không đời nào cho phép ông làm thế.

Tôi ngồi trên ghế đá công viên, cần mẫn gặm bánh quy. Cái bánh to đùng, ngang một bánh phân trâu, cái kiểu ngày nay nó thế - nhạt phèo, nát vụn, nhờn mỡ - và có vẻ tôi sẽ không đời nào ăn xong được. Đấy không phải món thích hợp trong tiết trời ấm thế này. Tôi cũng hơi chóng mặt nữa, có thể tại cà phê.

Tôi đặt cốc xuống ghế, khiến cây gậy trên ghế lục cục lăn xuống đất. Tôi nhoài người sang bên với theo, nhưng không với tới. Tôi mất thăng bằng, va đổ cốc cà phê. Tôi cảm thấy nó qua lần váy, ấm hâm hẩm. Rồi sẽ có một vệt nâu khi tôi đứng dậy, sẽ giống như tôi vừa bĩnh ra. Ít nhất người ngoài sẽ nghĩ như thế.

Tại sao những lúc ấy chúng ta luôn cho cả thế giới đang dồn mắt vào mình? Thường thì chẳng có ai đâu. Nhưng lúc này có Myra. Cô nàng chắc đã thấy tôi vào đây, chắc đã để mắt trông chừng. Cô tế ra khỏi cửa hàng. “Trông bà trắng bệch như phấn ấy! Bà phờ phạc quá,” cô nói. “Mình lau chỗ đó đi thôi! Trời đất, bà đi bộ từ nhà đến tận đây hả? Bà không được tự đi về đâu! Tốt hơn là con gọi Walter đến đưa bà về.”

“Tôi đi được mà,” tôi bảo. “Tôi không sao đâu.” Nhưng tôi vẫn để cô gọi.

[1] Tước hiệu của hoàng tử thứ hai trong Hoàng gia Anh, ở đây là vua George V sau này.

Người dịch: An Lý
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Margaret Atwood

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.