Tay Sát Thủ Mù

Lượt đọc: 257 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
ẢNH TÔ MÀU

❊ ❊ ❊

Ngỗng trời bay về Nam, kêu kèn kẹt như bản lề cửa bị giày vò; dọc triền sông hoa đỏ bầm như nến trên những tán cây muối. Tháng Mười đã vào tuần đầu. Vào mùa đồ len dạ lấy khỏi hòm băng phiến; mùa sương móc xuống đêm và bậc thềm trơn trượt, và sên trần cuối vụ; mùa hoa mõm chó tranh thủ lả lơi lần cuối; mùa hoa bắp cải xoăn hồng hồng tím tím xưa chẳng bao giờ thấy, giờ nhan nhản khắp mọi nơi.

Mùa hoa cúc, giống hoa đám ma; cúc trắng, ý là thế. Người chết chắc phát ngán rồi.

Buổi sớm mát mẻ dễ chịu. Tôi ra vườn trước hái một bó nhỏ mõm chó vàng và hồng để đi nghĩa trang, đặt ở mồ dòng họ tặng đôi thiên thần trầm ngâm trên bệ trắng: ít ra cũng có gì đổi mới cho họ, tôi nghĩ. Khi đến nơi tôi làm những lễ nghi nho nhỏ thường lệ - một vòng chân bước quanh đài, một vòng tên nhẩm trong đầu. Tôi nghĩ mình chỉ đọc thầm, nhưng lúc lúc lại động nghe thấy giọng mình, rì rầm như gã dòng Tên đọc kinh nhật tụng.

Đọc tên người chết sẽ đánh thức họ sống lại, người Ai Cập cổ đại bảo thế: không phải lúc nào cũng là điều người ta muốn.

Khi đã đi tròn một vòng quanh tượng, tôi nhìn thấy một cô bé - một cô gái trẻ - đang quỳ trước mộ, đúng hơn là trước vị trí Laura. Đầu cô cúi thấp. Cô mặc tuyền đen: quần bò đen, áo phông và áo khoác đen, đeo ba lô nhỏ màu đen, cái loại bây giờ bọn trẻ dùng thay ví. Cô có mái tóc dài đen - như Sabrina, tôi nghĩ và thình lình tim nhảy lên: Sabrina đã trở về, từ Ấn Độ hay bất cứ nơi nào nó ở. Nó đã về không báo trước. Nó đã nghĩ lại về tôi. Nó muốn làm tôi bất ngờ, và giờ tôi đã làm hỏng cả.

Nhưng khi nhìn kỹ hơn, tôi thấy đó là một người lạ: một cô nghiên cứu sinh tâm thần xúc động nào đó, hẳn rồi. Đầu tiên tôi tưởng cô cầu nguyện, nhưng không phải, cô chỉ đang cúi đặt hoa: cẩm chướng trắng một bông duy nhất, cành quấn giấy bạc. Khi cô đứng dậy, tôi thấy cô đang khóc.

Laura động lòng người. Tôi thì không.

Sau buổi picnic nhà máy cúc, một bài tường thuật như thường lệ xuất hiện trên tờ Sứ điệp và Tinh kỳ - em bé nào giành giải Bé Khỏe Bé Đẹp, chủ nào có Chó Đẹp nhất. Nói cả về nội dung bài phát biểu của cha, lược bớt kha khá: Elwood Murray phủ một nước sơn lạc quan lên tất cả, nên nghe chỉ có vẻ sự vụ như mọi khi. Có cả vài tấm ảnh: con chó thắng cuộc, một búi chổi lau nhà đen sì; em bé thắng giải, một cục gối cắm kim béo ị, chụp mũ sơ sinh diềm ren; đội nhảy Ái Nhĩ Lan giơ cao cánh cỏ ba lá bằng cạc tông to đại tướng; cha đứng trên bục đang nói. Ảnh chụp xấu: miệng cha hơi há ra, nhìn như đang ngáp dở.

Trong số ảnh có Alex Thomas, giữa chúng tôi hai bên - tôi bên trái anh, Laura bên phải, như hai miếng chặn sách. Cả hai chúng tôi đều nhìn anh cười; anh cũng đang cười, nhưng tay xô ra phía trước, như bọn xã hội đen vẫn chặn ánh đèn flash khi bị bắt. Tuy thế anh cũng chỉ che được nửa mặt. Dưới ảnh có ghi chú, “Cô Chase và cô Laura Chase tiếp đãi một vị khách ngoài thị trấn”.

Elwood Murray không tóm được chúng tôi chiều hôm đó, để hỏi xem tên Alex là gì, và khi gõ cửa nhà ông ta đụng phải Reenie, chị một mực không được đánh lộn sòng tên chúng tôi với cái kẻ Chúa biết là ai, và không chịu nói cho ông ta biết. Đằng nào thì ông ta vẫn cho in tấm ảnh, và Reenie nổi điên, vì chúng tôi cũng ngang với vì Elwood Murray. Chị nghĩ tấm ảnh này chỉ cách thói vô sỉ có một bước, dù chúng tôi đều không lộ chân. Chị nghĩ chúng tôi đưa con mắt đến là ngớ ngẩn, như hai con ngỗng đói tình, mồm thì há hốc trông chẳng khác nào đang chảy nước miếng. Chúng tôi đã tự biến mình thành trò cười: khắp thị trấn sẽ cười nhạo sau lưng, ai lại nghệt cả mặt ra vì gã du đãng trông như da đỏ - hoặc tệ hơn, như Do Thái - thế kia, và xem tay áo xắn lên, còn là một gã cộng nữa không biết chừng.

“Thằng cha Elwood Murray đáng đem đánh đòn,” chị nói. “Nghĩ mình có duyên lắm đấy.” Chị xé nát tờ báo rồi nhồi vào thùng đồ nhóm bếp, để cha không nhìn thấy. Chắc đằng nào cha cũng thấy rồi, ở nhà máy, nhưng kể cả thế ông cũng không nói gì.

Laura ghé thăm Elwood Murray. Nó không trách cứ cũng không nhắc lại câu nào Reenie đã nói. Thay vào đó nó bảo muốn trở thành một nhiếp ảnh gia, như ông ta. Mà không - nó không biết nói dối trắng trợn như thế. Đấy chỉ là ông ta tự luận ra. Còn nó chỉ nói là muốn học cách in ảnh từ âm bản. Cái này thì là sự thật tuyệt đối.

Elwood Murray thấy lâng lâng khi từ đỉnh Avilion có người rủ lòng để mắt - dù đểu, ông ta vẫn là một tay nhát sợ thích học sang - và đồng ý cho Laura tới giúp trong buồng tối, ba buổi chiều mỗi tuần. Nó được xem ông ta in ảnh chân dung - nghề tay trái của ông ta - ảnh cưới và ảnh trẻ con tốt nghiệp các loại. Ngoại trừ sắp chữ và in ấn là việc của vài người ở phòng sau, Elwood làm hầu hết mọi việc còn lại cho tờ tuần báo, kể cả tự phóng ảnh.

Có lẽ ông ta sẽ dạy nó tô màu ảnh nữa, ông ta nói: đấy là xu hướng thời thượng mới. Khách hàng mang ảnh đen trắng cũ tới để được thêm màu sắc cho tươi tắn. Kỹ thuật là tẩy trắng những vùng tối nhất bằng bút lông, sau đó xử lý ảnh bằng mực sepia để tạo tông hồng dịu. Sau đó mới là lúc tô màu. Màu đựng trong tuýp và lọ nhỏ, phải tô thật cẩn thận bằng bút lông ngòi tí xíu, thừa chút nào thì phải thấm đi thật tỉ mẩn. Làm việc này phải có khiếu thẩm mỹ và khả năng trộn màu nữa, để má không biến thành những vòng tròn đỏ hay da thịt thành miếng vải màu kem. Lại phải có mắt tinh tay vững. Đấy là một nghệ thuật, Elwood bảo - và ông ta rất kiêu hãnh vì đã luyện thành tài, kể cả là mèo khen mèo dài đuôi. Ông ta chọn những tấm ảnh tô tay đạt nhất đặt góc cửa sổ tòa báo, thường xuyên thay đổi, như một kiểu quảng cáo. Cho ký ức thêm sống động, tấm biển viết tay đặt bên giục giã.

Các chàng trai trẻ trong bộ quân phục Thế chiến đã lỗi thời là nhân vật thường gặp nhất; tiếp đến là các đôi uyên ương. Sau nữa là chân dung chụp trong buổi tốt nghiệp, buổi rước lễ lần đầu, những ảnh gia đình nghiêm trang, bé sơ sinh trùm áo rửa tội, bé gái mặc lễ phục, trẻ con xúng xính đồ dự tiệc, chó hoặc mèo. Đôi lúc có con thú cảnh lạc loài - rùa hay vẹt đuôi dài - và, thảng hoặc, trẻ nhỏ đặt trong áo quan, mặt trắng bợt, xung quanh nhồi đăng ten.

Màu không bao giờ hiện rõ như khi tô lên giấy trắng: chúng có một vẻ sương khói, như nhìn qua vải lọc. Màu không khiến người trong ảnh trông giống thực hơn, trái lại họ trở thành siêu thực: cư dân một bán vương quốc lạ lùng, huy hoàng mà lại nhạt nhòa, nơi hiện thực là điều không quan trọng.

Laura kể cho tôi những việc nó làm bên Elwood Murray, mặt giáp mặt; nó kể cho cả Reenie. Tôi đồ chừng sẽ có phản đối, có nổi giận, đồ chừng Reenie sẽ nói Laura đang hạ thấp mình, hay đang xử sự một cách rẻ tiền, một cách liều lĩnh. Ai mà nói được chuyện gì sẽ xảy ra trong buồng tối, có một cô bé và một người đàn ông và đèn thì tắt? Nhưng Reenie giữ quan điểm đây không phải như Elwood đang trả tiền cho Laura làm việc: đúng hơn ông ta đang dạy nghề cho nó, và đấy lại là chuyện khác. Như thế ông ta đứng vào hàng kẻ ăn người làm. Còn việc Laura ở trong buồng tối với ông ta thì, chẳng ai nghĩ gì xấu cả đâu, vì Elwood là một gã tám vía cơ mà. Tôi ngờ rằng Reenie thầm thấy nhẹ người khi Laura tỏ ra hứng thú với cái gì đó không phải Chúa.

Laura rõ ràng là có thích thú, nhưng cũng như mọi khi nó đi quá đà. Nó phỗng một ít mực tô của Elwood mang về nhà. Tôi tình cờ phát hiện ra - tôi đang ở thư viện, nhặt bừa sách mà đọc, thì để ý thấy mấy bức chân dung lồng khung của ông nội Benjamin, mỗi bức chụp với một thủ tướng khác nhau. Sir John Sparrow Thompson lúc này khuôn mặt mang màu hoa cà dìu dịu, Sir Mackenzie Bowell màu xanh lờ như nước mật, Sir Charles Tupper nhàn nhạt màu cam. Ông nội Benjamin có bộ ria mép và râu cằm màu đỏ thẫm hơi ửng.

Tối hôm đó tôi bắt tận tay nó. Trên bàn gương của nó bày những tuýp thuốc nhỏ, những bút lông tí hon. Cả tấm chân dung Laura và tôi nữa, váy nhung và giày búp bê. Laura đã gỡ ảnh khỏi khung, đang tô tôi màu xanh biển nhạt. “Laura,” tôi nói, “nói có trời em đang làm cái gì thế? Sao em lại tô màu những ảnh đó? Những ảnh trong thư viện ấy. Cha sẽ nổi điên lên mà xem.”

“Em chỉ đang tập thôi,” Laura nói. “Dù sao thì những ông đó cũng cần sống động một tí. Em nghĩ bây giờ trông họ đẹp hơn.”

“Trông họ rất kinh dị,” tôi nói. “Hoặc rất ốm yếu. Chẳng ai mặt màu xanh cả! Lại còn hoa cà nữa.”

Laura không nao núng. “Đấy là màu tâm hồn họ. Đấy là màu lẽ ra họ phải có.”

“Em sẽ bị mắng cho mà xem! Mọi người sẽ biết là tại ai.”

“Chẳng ai thèm nhìn lên đó bao giờ,” nó nói. “Chẳng ai thèm biết.”

“Được rồi, tốt hơn em đừng động đến bà nội Adelia,” tôi nói. “Cũng đừng làm gì hai chú đã mất! Cha sẽ đem em lột da!”

“Em muốn tô màu vàng kim, cho rõ vinh quang,” nó nói. “Nhưng không có màu vàng kim. Hai chú ấy, chứ không phải bà. Em sẽ tô bà màu xám thép.”

“Đừng có liều! Cha không tin có vinh quang. Và tốt nhất là em mang trả lại chỗ màu về trước khi mang tiếng ăn cắp.”

“Em có dùng nhiều đâu,” Laura nói. “Với lại, em mang cho Elwood một lọ mứt rồi. Như thế là hòa.”

“Mứt của Reenie, phải không? Từ trong hầm lạnh - em đã hỏi chưa? Chị ấy đếm từng lọ một em biết không.” Tôi nhặt tấm ảnh có hai chúng tôi lên. “Sao chị lại màu xanh?”

“Vì chị đang ngủ,” Laura nói.

Dụng cụ tô màu không phải thứ duy nhất Laura lấy trộm. Một trong những việc nó được giao là sắp xếp giấy tờ. Elwood muốn văn phòng mình luôn gọn gàng sạch sẽ, buồng tối cũng vậy. Phim âm bản đặt trong các phong bì giấy bóng mờ, xếp theo ngày chụp, thế nên Laura dễ dàng tìm được tấm phim hôm picnic. Nó rửa ra hai tấm đen trắng, hôm Elwood đi vắng và cả văn phòng nằm trong tay nó. Nó không nói với ai, cả tôi cũng không - cho đến mãi sau này. Đến khi rửa xong, nó giấu phim vào túi xách mang về nhà. Nó không coi đấy là đánh cắp: Elwood mới là người đánh cắp bức ảnh trước vì không xin phép chúng tôi, nó chỉ lấy lại một thứ đằng nào cũng chưa bao giờ thuộc về ông ta.

Sau khi hoàn thành mục tiêu ban đầu, Laura thôi không đến chỗ Elwood Murray nữa. Nó không cho ông ta biết lý do, cũng chẳng báo một câu. Tôi nghĩ nó làm thế là vụng, mà quả đúng vậy, vì Elwood thấy phật lòng. Ông ta cố hỏi han Reenie xem có phải Laura ốm không, nhưng Reenie chỉ trả lời độc có là Laura chắc đã đổi ý về chuyện ảnh ót. Nó lúc nào cũng lắm ý tưởng, con bé đó; lúc nào cũng có con ong nào đấy vo ve trong đầu nó, và bây giờ chắc đã thành con khác rồi.

Chuyện này đánh động tính tò mò của Elwood. Ông ta bắt đầu để mắt đến Laura, trên mức thói tọc mạch mọi khi. Tôi không hẳn coi đấy là do thám - không phải là ông ta đi nấp sau bụi rậm. Ông ta chỉ chú ý đến Laura hơn thôi. (Mặc dầu thế, ông ta vẫn chưa phát hiện ra tấm phim biến mất. Ông ta không nghĩ đến chuyện Laura có thể có mưu đồ giấu giếm gì khi đến gặp ông. Laura có cái nhìn thẳng thắn thế, có đôi mắt to tròn vô ý thế, có vầng trán đầy trong trẻo thế, hiếm người nào lại nghi nó chơi trò lá mặt lá trái bao giờ.)

Ban đầu Elwood không thấy có gì đáng chú ý. Theo dõi Laura chỉ thấy nó đi trên phố chính, trên đường tới nhà thờ mỗi sáng Chủ nhật, tới dạy lớp giáo lý cho trẻ lên năm. Ngoài ra tuần ba buổi sáng, nó tới giúp bếp phát chẩn của Giáo hội Thống nhất, mở cạnh ga xe lửa. Sứ mạng của trạm bếp là phân phát từng bát xúp bắp cải cho những đàn ông và thiếu niên bẩn thỉu đói khát, dân bám đường tàu: một công cuộc đáng quý, nhưng không phải ai trong thị trấn cũng nhìn bằng con mắt thiện cảm. Một số cho những người đó là bọn âm mưu khởi loạn, hay tệ hơn, bọn cộng; số khác nghĩ nuôi không miệng ăn là chuyện vô lý, trong khi họ phải đổ mồ hôi mỗi miếng cơm. Đôi lúc lại nghe tiếng hét “Đi mà tìm việc!” (Lời qua tiếng lại tất nhiên không chỉ một chiều, dù từ phía dân lưu đãng có lí nhí hơn. Tất nhiên họ thù Laura và dân từ bi nhà chùa như nó. Tất nhiên họ có cách tỏ thái độ của mình. Một câu chớt nhả, một mép cười, một cú huých, một khóe mắt u ám. Không có gì nặng nhọc hơn lòng biết ơn cưỡng ép.)

Cảnh sát thị trấn đứng gần đó để biết chắc đám người này không nảy ra ý định hay ho gì trong đầu, chẳng hạn như tìm cách ở lại Cảng Ticonderoga. Họ phải bị lùa đi, chuyển đi nơi khác. Nhưng họ cũng không được phép nhảy toa hàng ngay trong sân ga, bởi công ty đường sắt sẽ không chịu để yên. Thấy có xô đẩy và vung nắm đấm, và - như Elwood Murray diễn đạt, trên mặt báo - dùi cui được sử dụng tùy nghi.

Vì thế những người này lê bước dọc đường ray và cố nhảy lên ở quãng sau, nhưng lúc đó khó hơn nhiều vì xe lửa đã tăng tốc độ. Nhiều vụ tai nạn xảy ra, cả một người chết - một thiếu niên chắc không quá mười sáu tuổi ngã xuống dưới bánh tàu và gần như bị cắt đôi. (Laura nhốt mình trong phòng suốt ba ngày tiếp đó, không ăn gì: nó từng mang một bát xúp cho thằng bé.) Elwood Murray viết một bài xã luận nhấn mạnh rằng vụ bất hạnh này thật đáng tiếc nhưng không phải lỗi nhà tàu, và tất nhiên càng không phải lỗi của thị trấn: ngu ngốc tự đâm đầu vào nguy hiểm thì còn trông đợi gì?

Laura xin xỏ Reenie từng khúc xương, cho nồi xúp nhà thờ. Reenie nói người chị không làm bằng xương, mà xương cũng không phải vỏ hến. Gần hết chỗ xương đó chị cần cho mình - cho Avilion, cho chúng tôi. Chị nói dành được xu nào coi như kiếm được xu đó, và Laura không thấy trong thời kỳ khó khăn này cha cần đến từng xu ư? Nhưng chị không bao giờ cưỡng lại Laura được lâu, và một hai hoặc ba khúc xương sẽ tòi ra. Laura không muốn chạm vào khúc xương, cũng không dám nhìn - tính nó dễ gớm - nên Reenie sẽ bọc lại cho nó mang đi. “Đấy cho cô. Những ông bợm lang thang này sẽ ăn cho chúng ta sập nhà sập cửa mất thôi,” chị sẽ thở dài. “Tôi đã bỏ thêm một củ hành đấy.” Chị không nghĩ Laura nên làm việc ở bếp phát chẩn - nơi đó quá thô bạo, mà nó còn trẻ măng.

“Gọi họ là bợm là không đúng,” Laura nói. “Ai cũng xua họ đi. Họ chỉ muốn có việc thôi. Họ chỉ đòi hỏi có một chỗ làm.”

“Cứ cho là thế,” Reenie nói vẻ hoài nghi, nghe đến bực mình. Rồi với tôi, khi vắng người, chị sẽ bảo: “Đúng in như bà mẹ.”

Tôi không đến bếp phát chẩn với Laura. Nó không nhờ, mà đằng nào tôi cũng không có thời gian: giờ cha đã đinh ninh trong đầu rằng tôi phải nằm lòng các mẹo mực của nghề làm cúc, làm tròn bổn phận. Faute de mieux[1], tôi sẽ phải làm đứa con trai trong Chase và Con trai, và nếu sau này tôi có bao giờ đứng mũi chịu sào thì tôi phải nhúng tay vào đi là vừa.

Tôi biết mình không có chút khả năng kinh doanh nào, nhưng quá hãi không dám chối. Sáng sáng tôi đi theo cha đến nhà máy, để biết (như ông nói) đời thực vận hành ra sao. Nếu tôi là con trai chắc cha đã đặt tôi đứng trong dây chuyền, theo đúng phương châm nhà binh là sĩ quan không thể đòi hỏi lính những điều bản thân mình không làm nổi. Hoàn cảnh này, ông chỉ giao tôi kiểm kho và cân đối sổ sách giao hàng - nhập vật liệu thô, xuất thành phẩm.

Tôi làm rất kém, phần nào là do cố tình. Tôi vừa chán lại vừa sợ. Mỗi lần đến nhà máy vào buổi sáng, mặc áo sơ mi váy dài như ni cô, theo sát gót cha như chó con, tôi đều phải đi qua các hàng thợ. Tôi cảm thấy đàn bà thì bỉ, đàn ông thì lom lom nhìn mình. Tôi biết họ lôi tôi ra đùa cợt sau lưng - đùa cợt về cách cư xử (giữa thợ nữ) hay về cơ thể tôi (giữa thợ nam), và đối với họ đấy là một cách trả thù. Nghĩ theo cách nào đó tôi không trách họ - nếu là họ tôi cũng sẽ làm vậy thôi - nhưng dù gì cũng vẫn thấy mình chịu nhục.

Điệu rơi điệu rụng. Cứ tưởng mình là nữ hoàng Sheba.

Cứ đè ra một chập là cô nàng hết tinh tướng.

Cha không nhận thấy chút nào. Hoặc cố tình không thấy.

Một chiều Elwood Murray gõ cửa bếp của Reenie với bộ ngực ưỡn ra và điệu bộ quan trọng như mọi kẻ đưa tin xấu. Tôi đang giúp Reenie đóng hộp: đã cuối tháng Chín, chúng tôi đang lèn những quả cà chua cuối cùng từ vườn rau. Reenie bình thường vốn đã ki kiệt, nhưng vào thời buổi này lãng phí là có tội. Chị chắc phải nhận thấy mối dây đã căng đến đâu - mối dây từ những đồng thừa ràng buộc chị vào chỗ làm này.

Có một điều chúng tôi nên biết, Elwood Murray nói, vì lợi ích của bản thân. Reenie liếc nhìn ông ta, cả ông ta lẫn điệu bộ tự mãn, đánh giá độ trầm trọng của cái tin, và quyết định là đủ nghiêm trọng đáng mời ông ta vào. Thậm chí chị còn rót mời một chén trà nữa. Rồi chị bảo ông ta chờ chị lấy kẹp gắp nốt những hũ cuối cùng khỏi nồi nước sôi và vặn nắp thật chặt. Rồi chị ngồi xuống.

Tin là thế này. Cô Laura Chase đã bị bắt gặp quanh thị trấn - Elwood nói - cùng với một anh chàng, chính cái anh chàng trong tấm ảnh chụp cô trong buổi picnic nhà máy cúc. Họ bị nhìn thấy đầu tiên ở bếp phát chẩn, rồi sau đó, cùng ngồi trên ghế đá công viên - không chỉ một cái ghế đá của một công viên - và hút thuốc. Hoặc ít ra là anh chàng hút thuốc, còn về Laura, ông không đảm bảo được, ông ta nói và dẩu môi. Người ta còn thấy họ bên đài tưởng niệm cạnh tòa thị chính, dựa vào lan can cầu Khánh Tiết, nhìn xuống khúc ghềnh - địa điểm truyền thống của các cặp hẹn hò tán tỉnh. Có thể họ còn xuất hiện gần Bãi Trại, mà nếu thế thì gần như chắc chắn có hành vi đáng ngờ ở đây, hoặc ít ra là màn mở đầu - dù cái này ông ta không khẳng định được, vì không phải tận mắt nhìn thấy.

Dù sao thì ông ta cũng nghĩ chúng tôi cần biết. Anh chàng kia đã là người trưởng thành, còn cô Laura chẳng phải mới mười bốn sao? Thật đáng hổ thẹn, đi lợi dụng cô như thế. Ông ta tựa người vào ghế, rầu rĩ lắc đầu, kênh như chuột chũi, mắt long lanh khoan khoái hiểm độc.

Reenie nổi giận đùng đùng. Chị rất ghét kẻ nào trên cơ mình trong ngành đưa chuyện. “Hẳn nhiên là chúng tôi biết ơn ông đã cho biết tin,” chị nói lễ phép và cứng nhắc. “Tốt hơn nhiều để nước đến chân mới nhảy.” Đấy là cách chị bảo vệ danh dự Laura: cho đến giờ, còn chưa xảy ra chuyện gì không thể ngăn chặn được.

“Tôi đã bảo mà,” Reenie nói, khi Elwood đã về. “Hắn ta không biết liêm sỉ.” Chị không nói Elwood, tất nhiên, mà là Alex Thomas.

Khi bị chất vấn, Laura không chối điều gì, trừ chuyện gặp ở Bãi Trại. Ghế đá công viên và mọi thứ - có, nó có ngồi đó, dù không lâu. Nó cũng không hiểu làm sao Reenie phải sốt sình sịch lên như thế. Alex Thomas không phải là một gã nịnh đầm rẻ mạt (ngôn từ Reenie dùng). Anh cũng không phải một gã bám váy đào mỏ (một mỹ từ khác). Nó không nhận đã bao giờ hút một điếu thuốc từ lúc đẻ ra tới giờ. Còn về chuyện “ve vãn nhau” - cũng là lời Reenie - nó nghĩ thật là bỉ ổi. Nó đã làm gì mà gây những nghi ngờ xấu xa như thế? Rõ ràng là nó không hiểu.

Làm Laura, tôi nghĩ, cũng như làm một người mù nhạc: nhạc cất lên và nó có nghe thấy, nhưng không phải cùng một điều như mọi người khác nghe.

Theo như Laura, tất cả mọi lần đó - mà chỉ có đúng ba lần - nó và Alex Thomas đã tranh luận những vấn đề nghiêm túc. Vấn đề gì? Vấn đề Chúa. Alex Thomas đã đánh mất đức tin, và Laura đang cố giúp anh ta tìm lại. Đấy là một việc rất khó vì anh ta khá chua chát, hoặc có lẽ hoài nghi là từ nó cần. Anh ta nghĩ thời hiện đại sẽ là thời đại của thế giới bên này chứ không phải là bên kia - của con người, cho loài người - và anh ta hết lòng ủng hộ thời đại ấy. Anh ta tự nhận không có linh hồn, và nói cóc thèm biết những gì sẽ đổ xuống đầu anh sau khi chết. Tuy thế, nó quyết tâm đẩy mạnh những nỗ lực của mình, dù nhiệm vụ có vẻ khó đến đâu.

Tôi ho khẽ vào lòng bàn tay. Tôi không dám cười. Tôi đã thấy Laura dùng thái độ đức hạnh đó trước mặt thầy Erskine khá nhiều lần, và nghĩ bây giờ chính là nó đang làm thế: kéo vải che mắt thánh. Reenie, tay chống nạnh, chân giạng ra, miệng há mở, trông như mẹ gà mái ở thế cùng.

“Tại sao hắn ta vẫn còn ở đây, đấy là điều tôi muốn biết,” Reenie, không biết nói tiếp thế nào, đổi sang chuyện khác. “Tôi tưởng hắn ta chỉ đến thăm bạn rồi đi.”

“Ồ, anh ấy có việc cần làm ở thị trấn,” Laura bình thản nói. “Nhưng anh ấy có thể ở chỗ nào mình muốn. Đây không phải một đất nước nô lệ. Ngoại trừ đồng lương nô lệ, dĩ nhiên.” Tôi đoán là nỗ lực cải đạo không chỉ một chiều: Alex Thomas cũng đã nhúng tay vào việc. Nếu tình hình cứ thế tiếp diễn chúng tôi sắp có một cô Bôn sê vích nhỏ trong nhà.

“Anh ta có già quá không?” tôi nói.

Laura ném cho tôi cái nhìn tóe lửa - so với gì mà già? - thách tôi dám chõ vào. “Linh hồn không có tuổi,” nó nói.

“Người ta xì xào đấy,” Reenie nói: đấy luôn là lập luận chốt hạ của chị.

“Đấy là việc của họ,” Laura nói. Giọng điệu nó chỉ thấy có công phẫn cao quý: người khác là cây thập giá bắt nó mang.

Reenie và tôi đều bó tay. Phải làm gì đây? Chúng tôi có thể báo với cha, ông có thể cấm Laura gặp Alex Thomas. Nhưng nó sẽ không nghe lời, nhất là khi đang có một linh hồn sắp mất. Nói với cha chỉ gây phiền toái nhiều hơn có ích, chúng tôi kết luận; mà suy cho cùng, đã có chuyện gì thực sự xảy ra đâu? Không có gì chỉ mặt đặt tên được cả. (Reenie và tôi đến lúc này đã thành đôi tâm phúc, trong việc này; chúng tôi đã chụm hai cái đầu lại.)

Ngày qua ngày tôi dần cảm thấy Laura đang gạt mình, dù không thể xác định rõ là sao. Nói dối thì tôi không nghĩ thế, nhưng cũng không phải nó nói hoàn toàn sự thật. Một lần tôi thấy nó cùng Alex Thomas, mải mê trò chuyện, thả bộ qua gần đài tưởng niệm, lần nữa ở cầu Khánh Tiết, lại một lần nhàn tản ngoài Quán điểm tâm Betty, hoàn toàn không biết đến những cái đầu đang quay nhìn, trong đó có tôi. Ngông ngạo hết sức.

“Cô phải nói lý cho cô ấy nghe,” Reenie bảo tôi. Nhưng tôi không nói lý cho Laura được. Càng lúc tôi càng không thể nói chuyện với nó được nữa; hoặc là tôi nói đấy, nhưng nó nghe hay không? Cứ như nói chuyện với mảnh giấy thấm trắng tinh: lời lẽ rơi khỏi miệng tôi rồi biến mất sau gương mặt nó, như sau bức tường tuyết rơi.

Những khi không ở nhà máy cúc - một bài tập mỗi ngày lại thấy thêm vô dụng, ngay cả đối với cha - tôi bắt đầu lang thang một mình. Tôi thường rảo bước dọc bờ sông, vờ như biết chắc mình đi đâu, hoặc đứng trên cầu Khánh Tiết như đang đợi người nào, nhìn dõi xuống dòng nước đen mà nhớ lại chuyện những người đàn bà từng quăng mình xuống đó. Họ làm thế vì tình, vì tình yêu có cái tác động kiểu đó lên con người ta. Nó lẻn đến từ phía sau, nó tóm lấy trước khi người ta nhận biết, và đến lúc đó ta chẳng còn làm gì được. Một khi đã rơi vào đó - vào tình yêu - người ta sẽ bị cuốn đi, bất chấp mọi thứ. Hoặc ít ra là sách nói vậy.

Hoặc là tôi đi trên phố chính, chăm chú quan sát bất kỳ cái gì bày trong cửa sổ các quầy hàng - những đôi tất và giày, mũ và găng tay, cờ lê và tua vít. Tôi thường săm soi những tấm áp phích in hình minh tinh màn bạc trong hộp kính đặt ngoài rạp Bijou và so sánh họ với hình ảnh chính mình, hoặc chính mình giá thử tôi chải tóc rủ xuống một bên mắt và ăn mặc đúng điệu. Tôi không được phép vào trong; tôi chưa từng vào rạp chiếu bóng nào mãi tới sau khi cưới, bởi Reenie nói vào rạp Bijou là tự hạ giá, ít nhất là với những cô gái trẻ không ai đi kèm. Đàn ông tới đó rình mồi, lũ đàn ông tâm hồn hạ tiện. Chúng sẽ chiếm ghế cạnh mình và đặt tay dính lấy mình như giấy bẫy ruồi, và chưa kịp nhận ra thì chúng đã trèo cả lên người.

Theo mô tả của Reenie cô gái hay người đàn bà ấy chắc chắn sẽ đờ ra, khắp người chỗ nào cũng thành tay vịn, như cái nhà tập leo trèo. Như trúng phép, cô ta sẽ mất khả năng la thét hay cử động. Cô ta sẽ bị đông cứng, bị tê liệt - vì choáng váng, hay giận dữ, hay hổ thẹn. Cô ta sẽ không có cách nào thoát ra.

[1] Tiếng Pháp: Không có trâu bắt chó kéo cày.

Người dịch: An Lý
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Margaret Atwood

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.