Hôm nay tôi đi đến tận cầu Khánh Tiết, rồi đi tiếp đến cửa hàng bánh vòng, tại đó tôi ăn được gần một phần ba cái bánh xoắn cam. Một khối bự bột và mỡ béo, trôi nổi trong động mạch như phù sa.
Rồi tôi ghé vào nhà vệ sinh. Ngăn giữa đang có người, nên tôi đợi, tránh nhìn vào gương. Tuổi tác làm da mỏng đi, nhìn vào thấy cả mạch máu, cả gân. Thêm nữa cũng làm người ta đặc lại. Khó mà trở lại như thời xưa, cái thời da coi như không có.
Cuối cùng cửa cũng mở cho một cô bé bước ra - da ngăm ngăm, ăn mặc tăm tối; vành mí bôi đen nhọ nồi. Nó bật rú khẽ, rồi cười. “Cháu xin lỗi,” nó nói, “cháu không nhìn thấy bà, bà làm cháu sợ quá.” Giọng nó lơ lớ, nhưng nó thuộc về nơi này: quốc tịch nó là quốc tịch người trẻ. Giờ đây tôi mới là kẻ lạc loài.
Dòng tin mới nhất bằng bút dạ vàng: Chẳng ai lên được Thiên Đàng nếu không có Giê su. Giới bình luận đã kịp vào cuộc: có Giê su bị gạch đi, ở trên viết bút đen, Chết.
Dưới nữa, bút xanh: Thiên đàng ở trong hạt cát. Blake.
Dưới nữa, bút cam: Thiên đàng trên Hành tinh Xenor. Laura Chase.
Lại trích nhầm.
Chiến tranh chính thức kết thúc tuần đầu tiên tháng Năm - chiến tranh châu Âu, ấy thế. Tức là phần duy nhất liên quan đến Laura.
Một tuần sau nó gọi điện. Nó chọn thời gian buổi sáng, một giờ sau bữa sáng, nó phải biết Richard chắc chắn không có nhà. Tôi không nhận ra giọng nó, tôi đã thôi chờ nó gọi. Ban đầu tôi tưởng là cô nhân viên cửa hàng may.
“Em đây,” nó nói.
“Em ở đâu thế?” tôi thận trọng hỏi. Phải nhớ cho với tôi đến lúc này nó đã trở thành đại lượng không nắm được - biết đâu còn trí óc bấp bênh nữa.
“Em ở đây,” nó nói. “Trong thành phố.” Nó không chịu nói ở khách sạn nào, nhưng nói tên góc phố để tôi đến đón chiều hôm ấy. Vậy thì mình đi uống trà, tôi nói. Cửa hàng Bánh kẹo Diana là nơi tôi định đưa nó tới. Ở đấy an toàn, vắng vẻ, chủ yếu là khách đàn bà; ở đó họ biết tôi. Tôi nói sẽ lái xe đến.
“Ồ, chị có xe rồi cơ à?”
“Gần như thế.” Tôi mô tả cái xe.
“Nghe có vẻ giống xe ngựa La Mã nhỉ,” nó tươi tỉnh nói.
Laura đứng trên góc phố King cắt phố Spadina, đúng nơi nó hẹn. Khu này thuộc hàng mờ ám, nhưng nó có vẻ không bận tâm. Tôi bấm còi, nó vẫy tay rồi chạy lại lên xe. Tôi cúi người tới hôn lên má nó. Lập tức tôi thấy mình đang phản bội.
“Chị không tin nổi là em thật đang ở đây,” tôi bảo nó.
“Nhưng đúng là em đây.”
Bất chợt tôi muốn òa khóc; nó có vẻ chẳng động lòng. Nhưng má nó thì rất mát. Mát và gầy.
“Nhưng em mong là chị không nói gì với Richard,” nó nói. “Nói em ở đây. Hay Winifred thì cũng vậy,” nó thêm, “bọn họ chẳng khác gì nhau.”
“Chẳng đời nào,” tôi nói. Nó không nói gì.
Tôi đang lái xe, nên không nhìn thẳng mặt nó được. Muốn thế phải đợi đến tận lúc tôi đã đỗ xe, tận khi đi bộ đến Bánh kẹo Diana, tận khi chúng tôi ngồi vào bàn đối diện nhau. Cuối cùng thì tôi cũng thấy trọn vẹn nó, toàn bộ.
Nó vừa đúng vừa không đúng là Laura tôi còn nhớ. Già hơn, cố nhiên - cả hai chúng tôi đều vậy - nhưng còn nhiều cái khác. Nó ăn mặc tề chỉnh, thậm chí khắc khổ, áo váy chẽn eo màu xanh trầm, thân áo xếp ly, hàng cúc nhỏ chạy dọc ngực; tóc búi tó nghiêm khắc sau đầu. Trông nó như teo lại, như sập vào trong mình, như rút cạn mọi màu sắc, nhưng mặt khác lại gần như trong suốt - như có những kim ánh sáng nhỏ xuyên qua da từ bên trong nó cắm ra, như những gai ánh sáng tóa ra quanh nó thành màn sương tua tủa, như bông kế giơ trước nắng. Cảm giác rất khó miêu tả. (Nhưng cũng đừng lấy đó làm quan trọng quá: mắt tôi lúc này bắt đầu suy giảm, đã cần có kính, dù tôi còn chưa nhận ra. Ánh mờ ảo bao lấy Laura rất có thể chỉ là ảo giác thị lực.)
Chúng tôi gọi nước. Nó gọi cà phê chứ không uống trà. Cà phê đây dở lắm, tôi cảnh báo - những chỗ thế này chẳng có cà phê ngon đâu, chiến tranh mà. Nhưng nó nói, “Em uống cà phê dở quen rồi.”
Im lặng một lúc. Tôi không biết phải bắt đầu từ đâu. Tôi vẫn chưa đủ tinh thần hỏi nó định làm gì mà quay lại Toronto. Nó ở đâu từ bấy đến nay? tôi hỏi. Nó làm những gì?
“Ban đầu em ở Avilion,” nó nói.
“Nhưng đóng cửa rồi mà!” Quả là thế, suốt cuộc chiến. Chúng tôi không về đó mấy năm rồi. “Làm sao em vào được?”
“Ôi, chị biết đấy,” nó nói. “Ai muốn vào là người đó vào được thôi.”
Tôi nhớ đến hầm than, đến cái khóa sắp long trên một cửa hầm. Nhưng cái đó đã sửa lại, từ lâu rồi. “Em đập kính cửa à?”
“Việc gì phải thế. Reenie có chìa,” nó nói. “Nhưng đừng bảo ai.”
“Lò sưởi chắc chắn không bật được. Làm sao có hơi ấm,” tôi nói.
“Đúng là không có,” nó đáp. “Nhưng chuột thì có rất nhiều.”
Cà phê ra. Nếm có vị vỏ bánh mì cháy và rễ rau diếp xoăn nướng, cũng chẳng lạ vì đúng là người ta trộn vào mấy thứ đó. “Em muốn ăn bánh hay gì không?” tôi hỏi. “Bánh ngọt ở đây không tệ đâu.” Nó gầy quá, tôi nghĩ ăn miếng bánh cũng tốt cho nó.
“Không cần đâu.”
“Sau đó em làm gì?”
“Sau đó em tròn hai mốt, thế là em có ít tiền, cha để lại. Thế rồi em đến Halifax.”
“Halifax à? Sao lại Halifax?”
“Tàu về cảng đó.”
Tôi không truy thêm. Chuyện này có nguyên do, Laura bao giờ cũng có; và đấy là một nguyên do tôi chùn lại không muốn nghe. “Nhưng em làm cái gì chứ?”
“Việc này việc khác,” nó nói. “Em cố gắng làm người có ích.” Nó sẽ chỉ trả lời đến thế. Tôi đoán chắc lại là bếp phát chẩn gì đấy, hoặc đại loại thế. Kỳ cọ hố xí bệnh viện, những chuyện như vậy. “Chị không nhận được thư của em à? Gửi từ Bella Vista ấy? Reenie nói chị không nhận được.”
“Không,” tôi nói. “Chẳng có thư nào cả.”
“Em đoán là họ lấy trộm rồi. Và họ không cho chị gọi, cũng không cho đến thăm em?”
“Họ nói làm thế sẽ có hại cho em.”
Nó cười khe khẽ. “Sẽ có hại cho chị ấy,” nó nói. “Thực tình chị không nên ở lại đó, ở cái nhà ấy. Chị không nên ở với ông ta. Ông ta đúng là ác quỷ.”
“Chị biết trước giờ em vẫn thấy thế, nhưng chị làm gì được đây?” tôi nói. “Ông ta chẳng bao giờ cho chị ly dị đâu. Và chị cũng chẳng có tiền.”
“Không lấy cớ đó được.”
“Có thể với em thì không. Em còn có quỹ ủy thác, cha để lại, chứ chị làm gì có. Còn Aimee thì sao?”
“Chị có thể mang nó theo.”
“Nói thì dễ. Có thể nó không muốn đi. Hiện giờ nó đang bám chặt lấy Richard rồi, nói cho em biết.”
“Sao lại thế?” Laura hỏi.
“Ông ta cưng nựng nó. Ông ta quà cáp đủ thứ.”
“Em có viết thư từ Halifax,” Laura nói, chuyển đề tài.
“Những thư đó chị cũng không nhận được nữa.”
“Em đoán là Richard đọc thư từ của chị,” Laura nói.
“Chị cũng đoán thế,” tôi nói. Câu chuyện đang chuyển hướng không như tôi tưởng. Tôi đã hình dung mình sẽ an ủi Laura, chia sẻ với nó, nghe thổ lộ câu chuyện buồn, nhưng ngược lại nó đang lên lớp cho tôi. Thật dễ dàng trở lại các vai trò cũ.
“Ông ta bảo chị là em làm sao?” bây giờ nó hỏi. “Giải thích chuyện nhốt em vào đó?”
Đã đến rồi đây, bài đã ngửa rồi. Đây là ngã ba đường: hoặc Laura điên, hoặc Richard dối. Tôi không thể tin cả hai đằng. “Ông ta kể một câu chuyện,” tôi trả lời quanh.
“Câu chuyện thế nào? Đừng lo, em không bực mình đâu. Em chỉ muốn biết thôi.”
“Ông ta bảo em - ờm, rối loạn thần kinh.”
“Hẳn nhiên. Ông ta phải nói thế. Ông ta còn nói gì nữa?”
“Ông ta nói em tưởng em có thai, nhưng đấy chỉ là hoang tưởng.”
“Em có thai thật,” Laura nói. “Tất cả vấn đề là ở đấy - đấy là lý do họ vội vàng tống em đi khuất mắt. Ông ta và Winifred - cả hai sợ cứng người. Chuyện sỉ nhục, chuyện tai tiếng - chị tưởng tượng xem họ nghĩ cái đó sẽ ảnh hưởng đến tương lai vàng ngọc của ông ta thế nào.”
“Phải. Chị tưởng tượng được.” Và tôi tưởng tượng được thật - cú điện thoại thì thào của tay bác sĩ, nỗi sợ quýnh, hai cái đầu chụm vào khẩn cấp, kế hoạch nảy ra tại trận. Rồi chuỗi sự kiện thứ hai, hoàn toàn bịa đặt, chế ra chỉ để dọn cho tôi. Bình thường tôi vốn nhu mì, nhưng chắc họ biết cũng có giới hạn ở đâu đó. Họ chắc cũng sợ điều tôi có thể làm, một khi giới hạn bị vượt qua.
“Dù sao thì em cũng không sinh con. Đấy là một trong những việc người ta làm, ở Bella Vista.”
“Một trong những?” Tôi đang thấy đầu óc mù tịt.
“Ngoài những trò xiếc mồm, ý em là thế, ngoài thuốc thang máy móc. Chúng nó hút nạo,” nó nói. “Chúng dùng ê te đánh cho chị xỉu, như đi nha sĩ ấy. Rồi chúng lấy thai ra. Rồi chúng bảo chị đã tự bịa ra mọi chuyện. Rồi khi chị buộc tội chúng làm thế, chúng bảo chị nguy hiểm cho bản thân và xã hội.”
Nó nói năng thật bình tĩnh, thật rành rọt đáng tin. “Laura,” tôi nói, “em có chắc không? Chuyện đứa bé ấy. Em có chắc là đã có đứa bé không?”
“Tất nhiên là em chắc,” nó nói. “Em bịa ra chuyện như thế làm gì?”
Vẫn còn có chỗ có thể nghi hoặc, nhưng lần này tôi tin Laura. “Làm sao lại có chuyện ấy?” tôi thì thầm. “Cha nó là ai?” Việc như thế không thể không thì thầm.
“Nếu bây giờ chị còn chưa biết, em không nghĩ là em có thể nói cho chị,” Laura nói.
Tôi đoán hẳn phải là Alex Thomas. Alex là người đàn ông duy nhất Laura từng tỏ ý quan tâm - nghĩa là ngoài cha, và Chúa. Tôi ghét phải thừa nhận khả năng này, nhưng thực tình không còn lối nào khác. Chắc hai người đã gặp gỡ những ngày nó thường trốn học, lần đầu đến trường ở Toronto, và rồi sau này, khi nó không đi học nữa; khi mọi người nghĩ nó đang động viên dân không nhà quặt quẹo trong bệnh viện, khoác cái tạp dề cao đạo sùng tín, và lẻo mép điêu toa từ đầu đến cuối. Hẳn là cái tạp dề làm anh ta sướng run mình, đấy đúng là cái nết lập dị vẫn hấp dẫn anh ta. Có thể nó bỏ học là vì thế - để gặp gỡ Alex. Hồi ấy nó bao nhiêu tuổi - mười lăm, mười sáu? Sao anh ta có thể làm chuyện như thế được?
“Em có yêu không?” tôi hỏi.
“Yêu à?” Laura hỏi. “Yêu ai?”
“Yêu… đấy,” tôi không nói nổi.
“Ôi không,” Laura nói, “không đời nào. Đấy là một việc kinh khủng, nhưng em phải làm. Em phải chấp nhận hy sinh. Em phải tự mình gánh lấy đau đớn khổ sở. Đấy là lời hứa em đã dâng lên Chúa. Em biết nếu làm thế, em sẽ cứu được Alex.”
“Em nói cái quái gì vậy?” Lòng tin mới có lại vào sự tỉnh trí của Laura lại lung lay: chúng tôi đã trở lại cõi siêu hình rồ dại của nó. “Cứu Alex khỏi cái gì cơ?”
“Khỏi bị bắt. Nếu không chúng sẽ đem bắn anh ấy. Callie Fitzsimmons biết anh ấy ở đâu, chị ta đã nói. Chị ta nói với Richard.”
“Chị không tin nổi.”
“Callie là quân chỉ điểm,” Laura nói. “Chính Richard bảo thế - ông ta bảo Callie là nguồn tin cho ông ta. Có nhớ hồi chị ta vào tù, rồi Richard đưa chị ta ra không? Lý do chính là vì thế. Ông ta mang nợ chị ta.”
Tôi thấy diễn tiến sự việc kiểu này thật đến điếng người. Lại còn gớm guốc nữa, mặc dù vẫn có khả năng, có khả năng cực nhỏ, đấy có thể là sự thực. Nhưng nếu vậy thì Callie hẳn đã nói dối. Làm sao chị ta biết Alex ở đâu được? Anh chuyển nhà thường xuyên.
Cũng có thể anh giữ liên lạc với Callie. Có thể là vậy. Chị ta thuộc số người có thể anh tin cậy.
“Em đã làm tròn phần mình,” Laura nói, “và đã thành công. Chúa không gian lận. Nhưng rồi Alex lên đường nhập ngũ. Sau khi từ Tây Ban Nha về, ý em là thế. Callie nói vậy - chị ta có bảo em.”
Tôi không hiểu được chuyện này. Đầu óc tôi quay quay. “Laura,” tôi nói, “em đến đây làm gì?”
“Vì chiến tranh chấm dứt rồi,” Laura kiên nhẫn đáp, “và Alex chẳng mấy nữa sẽ trở lại. Nếu em không ở đây, anh ấy sẽ không biết tìm em ở đâu. Anh ấy không thể biết chuyện Bella Vista, anh ấy không thể biết em đến Halifax. Địa chỉ duy nhất anh ấy có thể tới chỗ em là qua chị. Cách nào đó anh ấy sẽ gửi tin đến được em.” Nó có lòng tin sắt đá đến tức mình của tín đồ chân chính.
Tôi muốn lắc nó thật mạnh. Tôi nhắm mắt một lúc. Tôi thấy cái ao ở Avilion, thấy ả tiên nữ đá nhúng chân xuống nước; tôi thấy mặt trời nóng bỏng lóe trên lá xanh như cao su, cái ngày sau tang mẹ. Tôi thấy bụng dạ nôn nao, vì quá nhiều bánh ngọt và đường. Laura đang ngồi trên thành ao cạnh tôi, ư ử hát rất hài lòng, mang xác tín vững chắc rằng tất cả quả thực đâu vào đấy và các thiên thần đều đứng về phe nó, bởi nó đã ký với Chúa một giao kèo bí mật, dở hơi.
Những ngón tay tôi ngứa ran thù ghét. Tôi biết chuyện gì đã xảy ra tiếp theo. Tôi đã xô nó xuống.
Bây giờ đã tới phần đến giờ vẫn ám ảnh tôi. Bây giờ là lúc lẽ ra tôi phải cắn lưỡi, phải khóa miệng. Vì tình yêu, lẽ ra tôi đã phải nói dối, hay nói bất kỳ điều gì khác: gì cũng được miễn không phải sự thực. Đừng bao giờ đánh thức kẻ mộng du, Reenie từng nói. Người đó sẽ chết vì sốc.
“Laura, chị ghét phải cho em biết điều này,” tôi nói, “nhưng dù em có làm gì thì cũng không cứu được Alex đâu. Alex chết rồi. Anh ấy chết trong chiến tranh, từ sáu tháng trước rồi. Ở Hà Lan.”
Quầng sáng quanh nó tối đi. Nó biến thành trắng bệch. Cứ như nhìn sáp đang đông lại.
“Làm sao chị biết?”
“Chị có điện báo,” tôi nói. “Người ta gửi cho chị. Anh ấy ghi chị là người thân gần nhất.” Ngay đến đó tôi vẫn có thể chuyển hướng; tôi có thể nói, Chắc là lầm lẫn gì đó thôi, chắc phải là dành cho em. Nhưng tôi không nói thế. Mà tôi nói, “Anh ấy thật sơ suất quá. Lẽ ra không nên làm thế, có Richard ở đấy. Nhưng anh ấy chẳng có ai thân thích, mà chị với anh ấy là tình nhân, em hiểu không - bí mật, từ rất lâu rồi - mà anh ấy còn ai đâu chứ?”
Laura không nói gì. Nó chỉ nhìn tôi. Nó nhìn xuyên thấu tôi. Chúa biết nó đã thấy gì. Thấy con tàu đắm, thành phố chìm trong lửa, lưỡi dao cắm ngọt vào lưng. Nhưng ánh mắt thì tôi nhận ra: đấy là ánh mắt cái ngày nó suýt chết đuối dưới sông Louveteau, giữa lúc đang chìm xuống - khiếp đảm, lạnh lùng, mê đắm. Ánh lên như thép.
Một giây sau nó đứng dậy, vươn tay sang bên bàn, cầm ví tôi lên, rất nhanh và gần như dịu dàng, cứ như trong có cái gì mỏng manh dễ vỡ. Rồi nó quay người bước ra khỏi quán. Tôi không có cử chỉ nào ngăn nó lại. Tôi bị bất ngờ, và đến lúc chính tôi đứng dậy được khỏi ghế thì Laura đã đi rồi.
Đến lúc lấy hóa đơn có chút lộn xộn - tôi không mang thêm tiền, đã để hết trong ví, mà em gái tôi - tôi phân bua - đã cầm nhầm. Tôi hứa ngày mai sẽ quay lại trả. Sau khi dàn xếp vụ đó, tôi đi như chạy đến chỗ đậu xe. Xe đi mất rồi. Chìa khóa xe cũng nằm trong ví. Tôi chưa hề biết Laura đã học lái xe.
Tôi đi bộ vài khối nhà, thêu dệt chuyện này rồi chuyện khác. Tôi không thể nói với Richard và Winifred số phận thực sự của cái xe được: sẽ chỉ thêm một bằng chứng chống lại Laura. Thay vào đó tôi sẽ nói xe hỏng giữa đường và đã kéo đến xưởng sửa xe, người ta đã gọi tắc xi cho tôi, tôi lên xe về đến tận nhà mới nhận ra để quên ví trong xe mình. Chẳng có gì phải lo đâu, tôi nói. Đến sáng mai sẽ thu xếp ổn ấy mà.
Đến đó tôi gọi tắc xi thật. Murgatroyd vợ chắc có nhà, sẽ mở cửa và trả tiền xe cho tôi.
Richard không về nhà ăn tối. Ông ta đến câu lạc bộ nào đấy, ăn bữa tối dở tệ, diễn thuyết này nọ. Hiện giờ ông ta đang chạy hết tốc lực, cái đích đã gần kề. Cái đích này - giờ tôi hiểu - không còn chỉ là tiền tài hay quyền lực nữa. Ông ta muốn là muốn được trọng vọng - trọng vọng, bất kể thân phận tiền mới. Ông ta mong mỏi, ông ta thèm khát; ông ta muốn nắm trọng vọng trong tay, không chỉ như cây búa mà như cây quyền trượng. Bản thân những khao khát đó thì không có gì đáng bỉ.
Cái câu lạc bộ hôm nay chỉ dành riêng cho giới đàn ông; nếu không tôi đã phải có mặt, ngồi làm nền, mỉm cười, vỗ tay khi kết thúc. Những dịp này tôi cho vú em Aimee nghỉ đêm, tự mình lo liệu giờ đi ngủ. Tôi cho Aimee tắm, đọc truyện cho nó nghe, rồi đắp chăn cho nó. Vào cái đêm hôm ấy con bé trằn trọc mãi rất bất thường: chắc nó biết tôi đang lo lắng chuyện gì. Tôi ngồi bên nó, nắm tay và vuốt ve trán nó, nhìn mãi ra cửa sổ đến lúc nó thiếp đi.
Laura đi đâu, nó đang ở đâu, nó đã làm gì với cái xe rồi? Làm sao tôi tìm được nó, tôi phải nói gì để mọi chuyện lại yên bình?
Có con cánh cam đang lập cập bên cửa sổ, bị ánh sáng hút lại gần. Nó va vào mặt kính như một ngón tay mù. Nó có vẻ tức tối vì bị ngáng trở, lại thêm bất lực.