Tay Sát Thủ Mù

Lượt đọc: 257 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHÒNG HOÀNG ĐẾ

❊ ❊ ❊

Mùa đang lật cửa, trái đất lăng mình ra xa ánh sáng; dưới những bụi cây bên đường giấy rác mùa hè bay bay như điềm báo tuyết sắp đến. Khí trời khô dần, cho người tập sống chung với sa mạc mùa hệ thống sưởi trung tâm. Chưa gì đầu hai ngón tay cái tôi đã nẻ, mặt đã héo thêm. Giá nhìn được da mình trong gương - giá tôi đến được đủ gần, hoặc đứng cách đủ xa - sẽ thấy trên đó nhằng nhịt những đường tí xíu, giữa những nếp nhăn cái, như bức chạm trên xương cá voi.

Đêm qua tôi mơ thấy chân mình mọc lông. Không phải lớt phớt mà nhiều khủng khiếp - lông đen túa ra từng cụm từng chùm ngay trước mắt tôi, lan lên khắp đùi như da thú chưa thuộc. Tôi mơ mùa đông đang tới, nên tôi sẽ ngủ đông. Đầu tiên tôi sẽ mọc lông, rồi bò vào hang, rồi ngủ. Mọi chuyện đều thấy bình thường, như tôi đã làm trước đấy rồi. Rồi tôi nhớ ra, dù vẫn đang mơ, rằng mình chưa bao giờ lông lá đến mức ấy và đến giờ thì đã trụi thùi lụi, hoặc ít nhất là chân tôi đã trụi, vì thế cặp chân này, dù có vẻ gắn vào người tôi, ắt không phải chân tôi. Thêm nữa chúng không có cảm giác. Đấy là chân của một vật gì khác, hay một người nào khác. Tôi chỉ cần lần theo đôi chân, đưa tay vuốt dọc lên, là sẽ biết người hay vật đó là gì.

Nỗi hoảng hốt khiến tôi tỉnh dậy, hoặc là tôi tưởng thế. Trong mơ tôi thấy Richard trở lại. Tôi nghe thấy tiếng ông ta thở trên giường ngay cạnh mình. Nhưng không có ai ở đó.

Rồi tôi tỉnh dậy thật. Hai chân tê điếng: tôi nằm ngủ vặn người. Tôi lập cập dò mở đèn giường, phiên dịch mặt đồng hồ: đã hai giờ sáng. Tim tôi đang nện khó khăn, như vừa chạy một quãng dài. Ngày xưa người ta vẫn nói đúng ghê, tôi nghĩ. Ác mộng có thể chết người.

Tôi hối hả, tiến như cua ngang trang giấy. Bây giờ là một cuộc đua chậm chạp, giữa tôi và quả tim, nhưng tôi quyết phải đến nơi trước. Nơi đó là đâu? Kết thúc, hoặc Kết Thúc. Hoặc cái này hoặc cái kia. Cả hai đều là đích đến, theo cách riêng.

Tháng Giêng và tháng Hai năm 1935. Cao điểm mùa đông. Tuyết rơi, hơi thở cô đặc; lò sưởi cháy, khói bốc cao, máy sưởi cành cạch. Ô tô xéo khỏi đường lao xuống rãnh; tài xế tuyệt vọng, không mong cứu nạn, để máy nổ suốt đêm rồi chết ngạt. Dân lang thang chết cóng đầy ghế đá công viên hay nhà kho bỏ không, cứng đơ như ma nơ canh, như đang làm dáng trong cửa hàng trưng bày cảnh đói rét. Xác người không chôn được vì không đào nổi mộ trên nền đất cứng như thép, dồn hàng chờ trong nhà phụ của các phu đào huyệt bồn chồn. Chuột sống khỏe. Các bà mẹ ôm con, không tìm nổi việc và không trả nổi tiền, bị đẩy ra ngoài giữa trời tuyết, của nả vứt theo. Trẻ con trượt băng trên hồ cối xay sông Louveteau, hai đứa ngã xuống băng, một chết đuối. Đường ống nước đóng băng rồi vỡ tung.

Laura và tôi càng lúc càng ít gần nhau. Nói cho đúng là chẳng dễ thấy mặt nó nữa: nó đang phụ giúp chiến dịch cứu tế của Giáo hội Thống nhất, hoặc là nó bảo thế. Reenie nói sang tháng sau chị sẽ chỉ làm cho nhà tôi tuần ba buổi thôi; chị bảo chân dạo này đau, để lấp đi sự thật là chúng tôi không còn đủ tiền nuôi chị cả tuần như trước nữa. Đằng nào thì tôi vẫn biết, chuyện đó lồ lộ như cái mũi nằm giữa mặt. Như cái mũi nằm giữa mặt cha, khuôn mặt như buổi sáng sau khi tàu lật. Gần đây ông ở trên tháp khá nhiều.

Nhà máy cúc rỗng không, bên trong tan tành đen nhẻm. Không đủ tiền sửa: công ty bảo hiểm đang rụt lại, dẫn ra những chuyện bí hiểm xoay quanh vụ đốt nhà. Người ta thì thầm với nhau rằng chuyện không phải như bề ngoài: một số buông lời ám chỉ chính cha đã tự mình phóng hỏa, tìm cách vu vạ cho ông. Hai nhà máy kia vẫn đóng cửa, cha đang nát óc nghĩ xem có cách nào mở lại được không. Ông đi Toronto càng lúc càng thường xuyên, lo làm ăn. Đôi lúc ông cho tôi đi cùng, cha con tôi ở Khách sạn hoàng gia York, được coi là hàng đầu thời đó. Đấy là nơi mọi chủ tịch công ty hay bác sĩ luật sư, nếu có nhu cầu, đến gửi tình nhân và mở những cuộc truy hoan cả tuần liền, nhưng hồi ấy tôi không biết.

Ai trả tiền những chuyến du ngoạn ấy cho cha con tôi? Tôi ngờ đấy là Richard, người luôn có mặt trong mọi dịp. Ông ta là đối tác làm ăn của cha tôi: người cuối cùng sót lại, trong một lĩnh vực đã thu hẹp. Nội dung làm ăn là việc bán hai nhà máy, nội tình khá phức tạp. Cha đã thử rao bán từ trước rồi, nhưng vào thời buổi này không ai muốn mua, với những điều kiện cha đặt ra. Cha chỉ muốn bán cổ phần thiểu số. Ông muốn giữ quyền điều hành. Ông muốn được rót vốn. Ông muốn nhà máy mở cửa lại, để lính của ông lại có việc làm. Ông gọi “lính của ông”, cứ như họ vẫn còn trong quân ngũ và ông vẫn là chỉ huy của họ. Ông không muốn giảm thiệt hại cho mình và bỏ rơi họ, vì như ai cũng hiểu, hoặc từng hiểu, thuyền trưởng phải chìm theo tàu. Nhưng thời buổi này chẳng ai buồn hiểu nữa. Thời buổi này họ sẽ thanh lý rồi rút dù, và dọn đến Florida.

Cha nói cần đưa tôi đi cùng để “ghi chép”, nhưng tôi chẳng bao giờ ghi chép gì. Tôi tin mình đi theo cốt để ông có người ở bên - hỗ trợ về mặt tinh thần. Rõ ràng ông cần hỗ trợ. Ông gầy như que củi, đôi bàn tay run rẩy miết. Phải vận sức lắm ông mới viết xong tên mình.

Laura không đi cùng những chuyến này. Nó không cần có mặt. Nó ở nhà, tự chia nhỏ miếng bánh mì để ba ngày và bát xúp loãng. Nó đã bắt đầu biếng ăn, như thể thấy mình không xứng đáng.

“Giê su vẫn ăn đấy chứ,” Reenie nói. “Ngài ăn đủ mọi thứ. Ngài không bóp dạ dày.”

“Phải,” Laura nói, “nhưng em không phải Giê su.”

“Hừ, ơn trời cô nàng ít nhất còn đủ tỉnh táo mà biết điều đó,” Reenie càu nhàu với tôi. Chị gạt hai phần ba bữa tối Laura bỏ lại vào nồi xúp, bởi đổ đi thì vừa có tội vừa đáng thẹn. Đấy là niềm tự hào của chị, trong những năm đó: chị không bao giờ vứt đi thứ gì.

Cha không nuôi tài xế nữa, mà cũng không đủ tự tin cầm lái. Cha con tôi đi xe lửa đến Toronto, xuống ga Thống Nhất, băng ngang đường tới khách sạn. Tôi cần phải tự tìm đường giải trí các buổi chiều, trong khi cha đi làm ăn. Nhưng chủ yếu tôi ngồi trong phòng, bởi tôi sợ thành phố lớn và ngượng vì mớ quần áo xoàng xĩnh trên người, chúng khiến tôi nhỏ lại mấy tuổi. Tôi ngồi trong phòng đọc tạp chí: Cẩm nang phụ nữ và gia đình, Tuần báo Collier, Mayfair. Chủ yếu tôi đọc các truyện ngắn, thế nào cũng có yêu đương. Tôi không thích thú gì món hầm hay mẫu móc, nhưng các mẹo làm đẹp khiến tôi chú ý. Thêm vào đó tôi đọc các mẩu quảng cáo. Coóc xê tạo hình Latex giãn hai chiều sẽ giúp tôi chơi bridge giỏi hơn. Dù tôi có hút thuốc như ống khói cũng không ai nhận ra, vì miệng tôi sẽ thơm tho nếu chung thủy với Spuds. Cái gì đó gọi là Larvex sẽ chấm dứt nỗi lo âu về mối của tôi. Tại nhà nghỉ Bigwin, bên hồ Vịnh xinh đẹp nơi mỗi giây phút đều sảng khoái, tôi có thể tập cho thân hình mảnh mai trong tiếng nhạc trên bờ cát.

Sau khi việc làm ăn trong ngày đã xong, ba người chúng tôi - cha, Richard và tôi - sẽ ăn tối ở khách sạn. Những dịp đó tôi thường không nói gì, bởi có gì mà nói? Đề tài bên bàn luôn là kinh tế và chính trị, cơn Đại suy thoái, tình hình châu Âu, những bước tiến đáng ngại của Cộng sản Toàn cầu. Richard theo quan điểm rằng Hitler rõ ràng đã xốc lại nước Đức trên khía cạnh tài chính. Ông ta ít ưa Mussolini hơn, tay này vừa tài tử lại vừa tay mơ. Có người đã đề nghị Richard bỏ vốn đầu tư vào một loại sợi mới người Ý đang nghiên cứu chế tạo - chuyện bí mật lắm - làm từ protein sữa đun nóng. Nhưng nếu dính ướt, Richard nói, nó sẽ bốc mùi pho mát nồng nặc, và các quý bà Bắc Mỹ sẽ chẳng bao giờ chịu nổi. Ông ta sẽ trung thành với tơ nhân tạo thôi, dù thứ đó vẫn nhăn nhúm khi trời ẩm, và sẽ để tai nghe ngóng nếu có gì khả quan. Rồi sẽ phải có một phát kiến gì chứ, một loại sợi nhân tạo đủ sức đẩy bật lụa khỏi thị trường, và đẩy vải bông đi kha khá nữa. Các bà muốn là muốn một mặt hàng không cần ủi - phơi trên dây là xong, tự khô đi mà không nếp nhăn. Họ cũng muốn tất dài vừa bền lại vừa trong suốt, để còn khoe đôi chân đẹp. Phải thế không? ông ta hỏi tôi, miệng mỉm cười. Ông ta có thói quen viện ý tôi về những đề tài liên quan đến các bà.

Tôi gật. Lúc nào tôi cũng gật. Tôi không bao giờ để ý nghe kỹ, không chỉ vì những chuyện trò kiểu ấy làm tôi chán mà còn vì chúng làm tôi đau. Tôi đau lòng thấy cha tôi hùa theo những quan niệm tôi nghĩ ông không đồng ý.

Richard nói rất muốn mời chúng tôi đến nhà ăn tối, nhưng vì ông ta hãy còn độc thân nên đấy sẽ là một cử chỉ liều lĩnh. Ông ta sống trong một căn hộ buồn tẻ, ông ta bảo thế; ông ta bảo ông ta về cơ bản là một thầy tu. “Người không có vợ, người không có đời” ông ta nói, miệng mỉm cười. Nghe như nhặt từ cuốn sách nào đó. Tôi nghĩ đúng là như thế.

Richard cầu hôn tôi trong Phòng Hoàng Đế của Khách sạn hoàng gia York. Ông ta đã mời tôi ăn trưa, có cả cha; nhưng đến phút cuối, trong lúc hai chúng tôi đi dọc hành lang khách sạn ra thang máy, cha nói mình không đi được. Tôi sẽ phải đến một mình thôi, ông nói.

Tất nhiên đấy là chuyện dàn xếp sẵn giữa bọn họ.

“Richard sẽ hỏi con một điều,” cha bảo tôi. Nghe giọng ông có vẻ hối lỗi.

“Vâng?” tôi đáp. Chắc là lại chuyện giặt ủi, nhưng tôi không quan tâm lắm. Trong mắt tôi Richard thuộc về thế giới người lớn. Ông ta ba mươi lăm, tôi mười tám. Ông ta đã bỏ xa giới hạn tôi để tâm.

“Cha nghĩ có thể ông ấy sẽ hỏi cưới con,” ông nói.

Lúc này chúng tôi đã xuống đến đại sảnh. Tôi ngồi xuống. “Ồ,” tôi nói. Bỗng nhiên tôi nhận ra điều đáng phải nhìn thấy từ lâu lắm rồi. Tôi những muốn phá lên cười, như khi lộ tẩy một màn ảo thuật. Tôi cũng thấy ruột gan lộn tùng phèo. Nhưng giọng tôi vẫn điềm tĩnh. “Con nên làm gì?”

“Cha đã chấp thuận rồi,” cha tôi nói. “Thế nên tùy con.” Rồi ông thêm: “Có vài điều phụ thuộc vào chuyện đó.”

“Có vài điều?”

“Cha phải nghĩ đến tương lai của các con. Trong trường hợp có gì xảy ra với cha, con hiểu không. Nhất là tương lai của Laura.” Ý ông muốn nói là trừ khi tôi lấy Richard, chúng tôi sẽ không có đồng nào. Ý ông muốn nói còn là hai chúng tôi - tôi, và nhất là Laura - sẽ không bao giờ đủ sức tự lo lấy thân. “Cha còn phải nghĩ đến nhà máy nữa,” ông nói. “Cha phải nghĩ đến việc làm ăn nữa. Vẫn còn có cơ cứu vãn được, nhưng bọn nhà băng đang bám riết. Chúng sắp chộp lấy cha rồi. Chúng không chờ lâu nữa đâu.” Ông đang tì vào ba toong, nhìn đăm đăm xuống thảm, và tôi thấy ông tủi hổ làm sao. Kiệt quệ làm sao. “Cha không muốn tất cả cuối cùng lại đổ xuống sông xuống biển. Ông nội con, rồi thì… Năm chục, sáu chục năm vất vả, rốt cuộc xôi hỏng bỏng không.”

“Ồ. Con hiểu.” Tôi đã bị dồn đường cùng. Không có vẻ tôi còn lựa chọn nào mà đưa ra.

“Chúng sẽ chiếm cả Avilion nữa. Chúng sẽ bán đi.”

“Bán Avilion?”

“Avilion đã đem thế chấp đến tận móng nhà.”

“Ồ.”

“Sẽ cần đến một chút nghị lực nhất định. Một chút can đảm. Ngậm bồ hòn vân vân.”

Tôi không trả lời.

“Nhưng tất nhiên,” ông nói, “con quyết định thế nào là việc của con.”

Tôi không trả lời.

“Cha không muốn con phải làm gì mà con nhất quyết không chịu,” ông nói, nhìn lướt qua tôi bằng con mắt lành, mày hơi nhíu lại, như thấy vật gì đó có tầm quan trọng lớn lao vừa lọt vào mắt. Sau lưng tôi chỉ có bức tường.

Tôi không trả lời.

“Tốt. Thế là xong, vậy đó.” Cha có vẻ nhẹ nhõm. “Ông ta rất biết điều, Griffen ấy. Cha tin là ông ta vững vàng, đằng sau mọi sự.”

“Con tin thế,” tôi nói. “Con tin là ông ta vững vàng.”

“Con sẽ được trông nom cẩn thận. Và Laura nữa, tất nhiên.”

“Tất nhiên,” tôi nói yếu ớt. “Laura nữa.”

“Vậy tươi lên đi.”

Tôi có trách tội ông không? Không. Bây giờ không còn nữa. Mắt nhìn lại quá khứ lúc nào chẳng mười trên mười, nhưng ông chỉ làm theo điều sẽ được coi - đã được coi, lúc ấy - là trách nhiệm. Ông đang cố hết sức mình theo cách ông có thể.

Như được ra hiệu Richard đến nhập hội, và hai người bắt tay. Tay của tôi cũng được nắm lấy, bóp nhẹ. Rồi đến khuỷu tay. Đấy là cách đàn ông lái đường phụ nữ thời ấy - cầm khuỷu tay - và tôi được lái khuỷu tay vào Phòng Hoàng Đế. Richard nói ông ta muốn ra quán Cà phê Venice, sáng hơn và không khí nhộn nhịp hơn, nhưng tiếc là ở đấy đã kín chỗ.

Bây giờ nhớ lại thì thấy kỳ, nhưng Khách sạn hoàng gia York là tòa nhà cao nhất Toronto hồi ấy, và Phòng Hoàng Đế là phòng tiệc to nhất ở đây. Richard thích những gì đồ sộ. Căn phòng có những dãy cột vuông rất lớn, trần nhà khảm, một hàng đèn chùm trên trần, cái nào cũng rủ đuôi tua: cảnh dư dật cô đặc. Nó toát lên vẻ da thuộc, nặng, kềnh càng - cảm giác còn chằng chịt đường gân. Nó gợi đến từ porphyry, dù có thể ở đây không hề dùng đá đó.

Lúc ấy giữa trưa, một trong những ngày mùa đông dễ khiến lòng người bất ổn, sáng hơn bình thường. Ánh nắng trắng đổ vào từng vệt qua kẽ hở giữa các lớp màn nặng nề, chắc là màu gụ, hình như thế, và chắc chắn bằng nhung. Đằng sau những mùi quen thuộc của phòng tiệc khách sạn, mùi rau trên bàn giữ nhiệt và cá hâm hẩm ấm, có một thứ mùi kim loại nóng và vải ngún khói. Bàn Richard đặt nằm một góc mờ tối, tránh xa ánh sáng xói vào. Một nụ hồng cắm trong bình thon; tôi nhìn Richard qua đầu nó, tò mò không biết ông ta sẽ tiến hành kiểu gì. Ông ta có nắm lấy tay tôi, bóp chặt, ngại ngần, lúng búng? Tôi ngờ là không.

Tôi không ghét ông ta quá đáng. Tôi chỉ không thích ông ta. Tôi chẳng có mấy khái niệm về ông ta bởi tôi chưa bao giờ nghĩ nhiều đến ông ta, dù có để ý - thỉnh thoảng - áo quần quyến rũ ông ta mặc. Nhiều lúc ông ta khá hợm hĩnh, nhưng ít nhất ông ta cũng không phải xếp vào dạng xấu, không hề. Tôi nghĩ có thể coi là ông ta khá sáng giá. Tôi thấy hơi chóng mặt. Tôi vẫn chưa biết mình sẽ làm gì.

Người bồi đến. Richard gọi món. Rồi nhìn đồng hồ. Rồi nói chuyện. Tôi không nghe mấy ông ta nói gì. Ông ta cười. Ông ta xòe ra cái hộp nhỏ bọc nhung đen, mở nắp. Một vệt sáng lóng lánh nằm trong.

Đêm đó tôi nằm co, run rẩy giữa cái giường khách sạn mênh mông. Bàn chân tôi lạnh ngắt, đầu gối so lên, đầu đặt nghiêng trên gối; trước mặt tôi là cảnh hoang vu băng giá, ga giường trắng hồ cứng trải dài đến vô cùng. Tôi biết mình không bao giờ còn lội ngược lại, lần theo dấu cũ, trở lại nơi còn ấm; tôi biết mình đã mất phương hướng, tôi biết mình đã lạc đường. Sẽ có người phát hiện tôi ở đây nhiều năm sau, một đội thám hiểm can trường nào đấy - thấy tôi quỵ giữa đường đi, một tay vung ra như chết đuối vớ phải rạ, mặt mũi đã khô kiệt, các ngón tay bị sói gặm dở.

Cảm giác tôi đang có là khiếp sợ, nhưng không phải khiếp sợ Richard. Tôi thấy như thể mái vòm tỏa sáng trên nóc Khách sạn hoàng gia York đã bị vặn ra và tôi đang phơi mình dưới mắt một thực thể độc ác đâu đó bên kia bề mặt đen trống rỗng gắn sao của bầu trời. Đấy là Chúa, đang chĩa con mắt đèn pha thờ ơ mỉa mai nhìn xuống. Ngài ta đang quan sát tôi, đang quan sát cơn khốn khổ của tôi; đang quan sát tôi mất hết niềm tin vào ngài. Phòng không có sàn: tôi đang lơ lửng giữa không trung, chuẩn bị bổ nhào. Cú ngã này sẽ vô tận - vô tận rơi.

Những cảm giác suy sụp này tuy vậy thường không đọng lại trong ánh sáng trong trẻo ban ngày, khi người ta trẻ.

Người dịch: An Lý
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Margaret Atwood

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.