Ngày tối dần, cây cối ủ ê, mặt trời lăn xuống dốc tiến tới gần điểm đông chí, nhưng vẫn chưa vào đông. Tuyết không có, mưa tuyết không, gió hú gào chưa thấy. Nỗi trì hoãn nhuốm mùi gở. Cái im lặng màu hung xâm tỏa mọi người.
Hôm qua tôi đi bộ đến tận cầu Khánh Tiết. Trong dân chuyện phiếm đã thấy nói đến gỉ sét, đến xói mòn, đến nhược điểm trong kết cấu, đã thấy nói chuyện dỡ bỏ cái cầu. Một gã địa ốc không tên, không mặt mũi nào đó đang nhỏ dãi muốn trồng chung cư lên bãi đất công kế cận, Myra nói - đây là địa chỉ vàng vì có phong cảnh đẹp. Phong cảnh ngày nay đáng giá hơn khoai tây, dù cũng chẳng phải từng có khoai tây ở đúng mảnh này. Tin đồn rằng một cọc tiền bẩn đã trao tay cửa sau để thúc đẩy cái gật đầu, mà tôi chắc cũng chính là điều đã xảy ra hồi cây cầu được cất, danh nghĩa là tôn vinh Nữ hoàng Victoria. Một nhà thầu nào đó chắc đã mua gọn những đại diện được bầu của Nữ hoàng để trúng được quả đó, và thị trấn chúng tôi vẫn tôn trọng những lề thói xưa: Làm gì cũng phải ra tiền. Những lề thói xưa là thế.
Thật lạ lùng khi nghĩ xưa trên cầu đây đã có những phu nhân, hông đeo khung váy, cổ áo có diềm, dạo chơi và tựa mình vào thành cầu uốn lượn, thưởng ngoạn phong cảnh nay đã đắt đỏ và ít nữa sẽ tư nhân hóa: nước lồng lộn dưới cầu, những vách đá vôi diễm lệ đằng Tây, bên dưới là các nhà máy vận hành hết cỡ mười bốn giờ một ngày, giấu trong lòng đám nhà quê khúm núm lúng túng chân tay, lấp lánh trong ánh tà như các sòng bạc đốt đèn khí.
Tôi đứng trên cầu ngó qua thành, nhìn dòng nước thượng nguồn, mịn như kẹo chảy, thẫm đen lặng lẽ, tiềm tàng hung hãn nhường kia. Qua thành cầu bên kia là thác đổ, là xoáy nước, là tiếng ồn trắng. Từ đây xuống là một quãng ra trò. Tôi bất chợt nhận ra tim mình đang đập, nhận ra đầu mình choáng váng. Nhận ra cả cảm giác ngạt thở, cứ như đang ngập lút đầu. Nhưng ngập trong cái gì cơ? Không phải nước, mà là gì đó đặc hơn. Là thời gian: thời gian lạnh cũ xưa, những niềm sầu muộn cũ, lắng lại từng lớp, như phù sa đáy hồ.
Chẳng hạn như:
Richard và tôi, sáu mươi tư năm trước, xuống thang rời tàu Berengeria bên kia bờ Đại Tây Dương, mũ ông ta đội lệch hớn hở, bàn tay tôi đi găng đặt nhẹ trên cánh tay ông - đôi tân nhân bắt đầu kỳ trăng mật.
Tại sao trăng mật lại gọi là trăng mật? Lune de miel, mặt trăng bằng mật - cứ như thể mặt trăng chẳng phải là cái khối cầu bằng đá rỗ hoa lạnh lẽo trọc lốc yếm khí, mà êm ái, vàng ruội, khêu gợi - một trái mận nhúng đường sáng óng, loại mận vàng, bỏ miệng là tan, dính như ham muốn, ngọt nhức tim và nhức cả chân răng. Bóng đèn pha ấm áp lửng lơ, không phải trên trời, mà ngay trong thân thể.
Tôi biết hết những chuyện ấy. Tôi còn nhớ kỹ. Nhưng không phải trong tuần trăng mật này.
Cảm xúc tôi nhớ rõ nhất về tám tuần ấy - chỉ có tám tuần thôi ư? - là nỗi lo âu. Tôi sợ Richard thấy cuộc sống vợ chồng của chúng tôi - ý tôi là cái phần xảy ra trong bóng tối và không phải đề tài có thể đem bàn - cũng đáng thất vọng như tôi thấy. Cho dù nhìn ngoài thì có vẻ là không: ban đầu ông ta cũng khá hòa nhã với tôi, ít nhất khi sáng ngày. Tôi cố hết sức giấu giếm vẻ lo lắng, và tắm thường xuyên: tôi cảm thấy bên trong mình đang trở ung, như quả trứng thối.
Sau khi cập bến ở Southampton, Richard và tôi lên tàu lửa tới Luân Đôn, nghỉ lại khách sạn Brown. Bữa sáng được phục vụ tận phòng suite, tôi sẽ mặc áo lót nhiều lớp, một trong ba chiếc Winifred chọn: tro của hoa hồng, bạch cốt viền ren xám bồ câu, tím hoa cà pha xanh biển - những màu nhạt, màu của nước, phỉnh phờ bộ mặt chưa phấn son. Chiếc nào cũng có kèm dép xa tanh riêng, viền lồng thú nhuộm hoặc lông tơ thiên nga. Tôi đoán đây là thứ phụ nữ trưởng thành vẫn mặc vào buổi sáng. Tôi đã thấy những phối hợp kiểu này trong ảnh (nhưng ảnh nào? Có thể là các mẫu quảng cáo chăng, cho một thương hiệu cà phê chẳng hạn?) - ông com lê ca vát, tóc chải mượt ra sau đầu, bà áo lót nhiều tầng không kém nuột nà, một tay đưa lên, cầm bình cà phê bạc vòi cong cong, cả hai mỉm miệng cười đắm đuối nhìn nhau qua đĩa bơ.
Laura chắc sẽ cười khẩy vào mấy bộ đồ ấy. Nó đã cười từ khi thấy người ta đóng đồ. Mặc dù không hẳn là cười khẩy - Laura không có khả năng cười khẩy thực sự. Nó không có cái độc ác cần thiết. (Không có cái độc ác cố tình cần thiết. Mọi sự độc ác của nó đều vô tình - hiệu ứng phụ của khái niệm cao quý nào đang chiếm ngự đầu óc nó thời điểm ấy.) Phản ứng của nó đúng ra phải gọi là kinh ngạc - như kiểu không tin. Nó đưa tay vuốt mặt xa tanh và khẽ rùng mình, làm cho tôi cảm thấy chất vải vừa nhờn vừa lạnh, vừa trơn tuồn tuột trên đầu ngón tay chính mình. Như da thằn lằn. “Chị sẽ mặc những đồ này á?” nó hỏi.
Những sáng hè Luân Đôn ấy - bởi lúc đó mùa hè - chúng tôi ăn sáng bên rèm rủ nửa để chặn ánh mặt trời quá tỏ. Richard thường ăn hai quả trứng luộc, hai lát thịt xông khói dày và một quả cà chua nướng, thêm bánh mì nướng phết mứt cam, lát bánh giòn tan để nguội trong ngăn lò. Tôi thường ăn nửa quả bưởi chùm. Chè thường đặc và lờm lợm, như nước đầm lầy. Đây là lối chuẩn, lối pha trà Ăng Lê đấy, Richard bảo.
Chuyện trò thường không có gì nhiều, ngoài mấy câu nghĩa vụ: “Ngủ ngon chứ mợ nó?” - “Ừm, cậu thế nào?” Richard nhận báo, cùng với điện tín. Lúc nào cũng có vài bức. Ông ta thường đọc lướt các tờ báo, rồi mở điện, đọc hết, gập cẩn thận làm đôi rồi làm bốn, bỏ hết vào túi. Nếu không ông ta sẽ xé cho vụn. Không bao giờ thấy ông ta vò nát rồi quăng vào sọt giấy, mà nếu có cũng chưa chắc tôi đã moi ra đọc, ít ra thời kỳ đó thì chưa.
Tôi đinh ninh tất cả điện đều gửi cho ông ta: cả đời tôi chưa nhận điện bao giờ, và cũng không tưởng tượng nổi có ai đánh điện cho tôi vì cớ gì cả.
Ngày của Richard để vào các cuộc gặp gỡ. Tôi cho tất cả đều là đối tác làm ăn. Ông ta thuê cho tôi ô tô và tài xế, tôi được đưa đi ngắm những cảnh ông ta cho là cần ngắm. Các đối tượng soát duyệt của tôi chủ yếu là tòa nhà nào đó, còn lại là công viên. Ngoài ra nữa là tượng, cắm ngoài các tòa nhà hoặc trong các công viên - các lãnh tụ chính trị bụng hóp vào, ngực ưỡn ra, chân trước gập lại, túm chặt những cuộn giấy; các nhà quân sự ngồi ngựa. Nelson cao ngất trên đỉnh cột, Hoàng thân Albert ngự trên ngai với một bộ tứ đàn bà ăn vận lạ mắt lồng lộn nhe nhởn quanh chân, phun ra hoa quả và lúa mì. Đấy được coi là bốn châu lục, còn Hoàng thân Albert chết rồi vẫn cai trị họ, nhưng ông ta không tưởng gì đến họ; ông ta ngồi nghiêm khắc và lặng lẽ dưới nhà vòm dát vàng cầu kỳ chạm trổ, mắt dõi về phương xa, tâm trí bận bịu với những điều cao cả.
“Hôm nay mợ xem được gì?” Richard thường hỏi trong bữa tối, và tôi chăm chỉ kể tên, hoàn thành từng hạng mục trong danh sách tòa nhà công viên tượng đài: tháp Luân Đôn, điện Buckingham, công viên Kensington, tu viện Westminster, nhà nghị viện. Ông ta không giục tôi đến bảo tàng, ngoại trừ Bảo tàng tự nhiên. Đến bây giờ tôi tự hỏi, vì sao ông ta nghĩ nhìn ngắm vô số thú nhồi tổ chảng sẽ có tác dụng giáo dục cho tôi? Bởi sau này có thể nhận ra từng ấy chuyến tham quan chỉ nhằm một mục đích - giáo dục cho tôi. Vì sao đám tiêu bản thú nhồi lại bổ ích cho tôi, hoặc cho mẫu hình tôi cần đạt đến theo quan niệm của ông ta, hơn một phòng toàn tranh chẳng hạn? Tôi nghĩ mình hiểu, nhưng cũng có thể tôi lầm. Có thể bầy thú nhồi cũng từa tựa như sở thú - nơi người ta đưa trẻ đến, khi cần đi chơi.
Mặc dù vậy tôi cũng có đến Bảo tàng nghệ thuật quốc gia. Người bồi cửa ở khách sạn đã gợi ý cho tôi, khi danh sách tòa nhà đã cạn. Bảo tàng nghệ thuật khiến tôi mệt nhoài - cứ như một cửa hàng bách hóa, cơ man là cơ thể người xếp bên tường, đủ khiến đầu hoa mắt váng - nhưng cũng khiến tôi náo nức vô cùng. Tôi chưa bao giờ thấy từng ấy thân thể đàn bà ở trần ở cùng một chỗ. Cũng có cả đàn ông ở trần, nhưng trông họ có vẻ không trần trụi bằng. Cũng có rất nhiều trang phục lộng lẫy. Có lẽ đấy là hai chủng loại chính, như đàn bà/đàn ông: đây là ở trần/mặc áo. Chúa cũng bảo vậy còn gì. (Laura, hồi còn nhỏ: Chúa mặc gì?)
Ở mỗi nơi xe và tài sẽ đợi, còn tôi thoăn thoắt đi vào, qua bất cứ cửa hay cổng gì trước mặt, cố gắng làm vẻ biết mình muốn gì: cố đừng lộ vẻ cô đơn và trống rỗng. Vào đến trong tôi sẽ nhìn lấy nhìn để, để có gì thuật lại lúc về. Nhưng tôi chẳng hiểu được gì nhiều những thứ tôi thấy. Nhà cũng chỉ là nhà thôi. Chúng chẳng nói lên gì nếu anh không am hiểu kiến trúc, hoặc biết những sự kiện từng xảy ra ở đây, mà tôi thì không biết. Tôi thiếu khả năng bao quát; cứ như lúc nào mắt tôi cũng ghé sát vào cái tôi có nhiệm vụ nhìn, và nhìn xong tôi chỉ còn giữ lại ấn tượng về bề mặt: nếp rám của gạch hay đá, độ trơn tru của tay vịn gỗ đánh xi, vẻ xù xì của lông khô xác. Sọc vằn trên mặt sừng, sắc bóng ấm của ngà. Mắt thủy tinh.
Ngoài những chuyến tham quan học hỏi, Richard còn khuyến khích tôi đi mua sắm. Mỗi người bán hàng đều làm tôi sợ, và tôi hầu như chẳng mua gì. Một vài dịp khác tôi đi làm đầu. Ông ta không muốn tôi tỉa hay phi dê, nên tôi tránh. Để tóc giản dị là hợp với tôi nhất, ông ta nói. Hợp với tuổi trẻ của tôi.
Những lúc khác tôi chỉ thả bộ loanh quanh, hoặc ngồi ghế đá công viên, đợi đến giờ về. Thỉnh thoảng một gã đàn ông đến ngồi cạnh bắt chuyện. Lúc đó tôi bỏ đi.
Tôi dành phần lớn thời gian thay áo xống. Hí hoáy điều chỉnh dây đeo mắt khóa, mũ nghiêng bao nhiêu cho vừa, đường chỉ tất xoay thế nào cho thẳng. Băn khoăn không biết chiếc này hoặc chiếc kia có hợp, cho giờ này hoặc giờ kia. Chẳng có ai gài móc sau gáy cho tôi hoặc cho tôi biết trông đằng sau thế nào, đã gọn gàng phẳng phiu chưa. Reenie vẫn thường lãnh việc ấy, không thì Laura. Tôi nhớ cả hai, và cố gắng tránh nhớ.
Giũa móng tay, ngâm chân trong nước. Nhổ lông, hoặc cạo đi: cần phải trơn tuột, tẩy sạch những gì lún phún. Địa mạo kiểu đất sét ướt, bàn tay vuốt là trượt qua.
Trăng mật được coi là thời gian cho đôi vợ chồng mới cưới hiểu nhau hơn, nhưng mỗi ngày tôi lại thấy mình càng bớt hiểu Richard. Ông ta đang cố xóa mình đi, hay đấy là giấu giếm? Rút lên cao cho tiện quan sát. Còn tôi, mặt khác, lại đang thành hình - thành cái hình dạng vẽ ra cho tôi, theo ý ông ta. Mỗi lần nhìn vào gương tôi lại thấy mình đã được tô đầy thêm một góc.
Sau Luân Đôn là Paris, chúng tôi đi phà qua eo Manche rồi đi xe lửa. Đại thể một ngày ở Paris cũng như lúc ở Luân Đôn, dù bữa sáng nội dung có khác: bánh mì ốc sên rắn, mứt dâu, cà phê pha sữa nóng. Hai bữa còn lại rất thịnh soạn, Richard hoắng cả lên vì chúng, đặc biệt là vì rượu vang. Ông ta nhắc đi nhắc lại rằng chúng tôi có còn ở Toronto đâu, dù tôi thấy chuyện đó hiển nhiên.
Tôi đã đến tháp Eiffel nhưng không trèo lên tháp, vì ghét độ cao. Tôi đến điện Panthéon, đến mộ Napoleon. Tôi không đến nhà thờ Đức Bà, vì Richard không ưa nhà thờ, ít nhất là nhà thờ Công giáo, chúng làm con người bạc nhược. Nhang khói là ông ta đặc biệt ghét, chỉ tổ làm trí não u mê.
Khách sạn ở Pháp có bồn rửa hạ bộ, Richard đã giảng giải cho tôi có thoáng nhạo báng sau khi bắt gặp tôi rửa chân vào đó. Tôi nghĩ, Họ quả có hiểu một số điều không phải ai cũng hiểu, cái dân Pháp này. Họ hiểu được nỗi lo âu về thân xác. Ít ra họ cũng thừa nhận nó có tồn tại.
Chúng tôi ở khách sạn Lutetia, rồi sau sẽ là tổng hành dinh của Đức Quốc xã trong chiến tranh, nhưng làm sao chúng tôi biết trước? Tôi thường dùng cà phê sáng trong quán khách sạn, vì sợ không dám đi đâu. Tôi có cảm giác chỉ cần để khách sạn đi khuất mắt tôi sẽ không bao giờ tìm đường quay lại được. Cho đến lúc ấy tôi đã biết vốn tiếng Pháp ít ỏi thầy Erskine dạy nói chung vô dụng: Le cœur a ses raisons que la raison ne connaît point chẳng mang lại cho tôi thêm tí sữa nóng nào.
Một ông bồi già có bộ mặt hải tượng phục vụ tôi; ông ta có trò rót cà phê và sữa nóng từ hai bình, giơ thật cao trên không, và tôi mê mải ngắm, như đứa trẻ ngắm nhà ảo thuật. Một hôm ông ta hỏi tôi - bằng thứ tiếng Anh lõm bõm - “Làm sao cô buồn?”
“Tôi có buồn đâu,” tôi nói, và bật khóc. Nỗi thương cảm từ người lạ có khi khiến người ta quỵ.
“Cô không nên buồn,” ông ta nói, cặp mắt hải tượng nhăn nheo âu sầu nhìn tôi. “Chắc là vì ái tình. Nhưng cô còn trẻ và đẹp, cô sẽ có thời gian buồn sau.” Người Pháp là chuyên gia cự phách về cái buồn, họ nắm rõ mọi thể loại. Vì thế họ mới nghĩ ra bồn rửa hạ bộ. “Ái tình là một tội phạm,” ông ta nói và vỗ vỗ vai tôi. “Nhưng không có còn tệ hơn.”
Ấn tượng có chút xấu đi vào ngày hôm sau, khi ông ta tìm cách dụ tôi lên giường, hoặc ít ra là tôi hiểu thế - tiếng Pháp của tôi không mạnh lắm. Mà ông ta cũng chẳng đến nỗi già - bốn lăm, khoảng đó. Lẽ ra tôi nên nhận lời. Thế nhưng về chuyện cái buồn thì ông ta nhầm - tốt hơn hết là nên có từ lúc trẻ. Một cô gái đẹp u buồn khiến người ta động lòng an ủi, chứ không phải một mụ khọm u buồn. Nhưng thôi bỏ qua.
Rồi chúng tôi qua Rome. Rome trước mắt tôi có vẻ quen thuộc - ít ra tôi cũng có nắm bối cảnh, từ lâu lắm, nhờ thầy Erskine và các bài học tiếng La tinh. Tôi đã đến xem Quảng trường thành phố, hay đúng hơn là những mảnh còn sót lại, xem đường La Mã - Via Appia, và đấu trường Colosseo, nhìn như miếng pho mát chuột gặm dở. Rất nhiều cầu, rất nhiều thiên thần mòn nhẵn, trầm tư mặc tưởng. Tôi đã thấy dòng Tevere chảy, nước vàng như viêm gan. Tôi đã thấy nhà thờ Thánh Pietro, dù chỉ bên ngoài. Nhà thờ rất to. Tôi nghĩ chắc là mình cũng đã gặp những toán phát xít quân phục đen của Mussolini, hành quân trên đường và xô đẩy dân chúng - lúc này đã bắt đầu chưa? - nhưng tôi không nhìn thấy chúng. Những việc kiểu ấy thường không ai nhìn thấy giữa lúc đang xảy ra, trừ những người chẳng may là đối tượng. Mọi người khác chỉ nhìn thấy mãi về sau, trên các bản tin, hoặc trên màn bạc khi sự việc chỉ còn là dĩ vãng.
Đến chiều tôi thường đòi một tách trà - tôi bắt đầu quen đòi hỏi và ra lệnh, bắt đầu lượng được giọng nào dùng nói với bồi bàn, làm sao để giữ khoảng cách an toàn. Trong lúc uống trà tôi thường viết bưu thiếp. Bưu thiếp gửi cho Laura và Reenie, vài cái cho cha. Bưu ảnh chụp những tòa nhà tôi được đưa đến - cung cấp hình ảnh những gì tôi được cho là đã thấy, từng chi tiết tỉ mỉ màu sepia. Trên thiếp tôi viết những câu ngớ ngẩn. Gửi Reenie: Thời tiết đẹp tuyệt vời. Em thích hết sức. Gửi Laura: Hôm nay chị đến xem đấu trường Colosseo, ngày xưa ở đây người Thiên Chúa giáo bị vứt cho sư tử ăn. Chắc là em sẽ thích. Gửi cha: Con mong cha khỏe. Richard gửi lời chào. (Câu cuối này nói dối, nhưng tôi đang dần học, với tư cách vợ, có những điều dối tôi phải tự biết mà nói.)
Khi thời gian định cho trăng mật sắp cạn chúng tôi nghỉ một tuần ở Berlin. Richard có vụ làm ăn gì đó ở đây, liên quan gì đó đến cán xẻng. Một trong những công ty của Richard chuyên làm cán xẻng, mà người Đức thì thiếu gỗ. Cần phải đào xới rất nhiều, và theo ước tính thì còn nhiều nữa, còn Richard thì có thể cung cấp cán xẻng với giá thành ăn đứt các đối thủ cạnh tranh.
Như Reenie vẫn nói: Đỡ chút nào hay chút đó. Cũng như chị thường nói: Làm ăn là làm ăn, nhưng cũng có khi làm càn ăn bẩn. Nhưng tôi không biết gì về làm ăn. Nhiệm vụ của tôi là tươi cười.
Tôi phải thú nhận mình thích Berlin. Chưa ở đâu tôi thấy tóc mình vàng đến thế. Đàn ông lịch sự đến quá quắt, dù họ không nhìn đằng sau khi bước qua cửa xoay. Hôn tay ẩn giấu một trăm thứ tội lỗi. Chính ở Berlin tôi đã biết bôi nước hoa vào cổ tay.
Tôi nhớ các thành phố thông qua khách sạn, nhớ khách sạn thông qua phòng tắm. Mặc đồ, cởi đồ, dầm mình trong nước. Nhưng chép phiêu lưu ký thế là đủ rồi.
Chúng tôi trở lại Toronto từ New York, vào giữa tháng Tám, đúng đợt nóng. Từ châu Âu và New York về, Toronto có vẻ lụp xụp và tù túng. Bên ngoài ga Thống Nhất khói nhựa đường mờ không khí, người ta đang lấp ổ gà. Một chiếc xe thuê đón, đưa chúng tôi về qua những xe điện bụi mù và leng keng điếc óc, rồi qua những ngân hàng đỏm dáng và cửa hàng bách hóa, rồi theo đường dốc chênh chếch vào tới vùng bóng rợp dẻ và thích khu Rosedale.
Xe dừng trước ngôi nhà Richard đã mua cho chúng tôi qua điện tín. Ông ta kiếm được nó chỉ mất một bài ca, ông nói, sau khi chủ trước tự dẫn thân vào chỗ phá sản. Richard thích nói mình mua đồ chỉ mất một bài ca, một chuyện kỳ cục, bởi ông ta không bao giờ hát. Huýt sáo cũng không. Ông ta không phải loại người ưa âm nhạc.
Ngôi nhà bề ngoài tối, thường xuân giăng trên tường, các cửa sổ cao và hẹp ngoảnh vào trong. Chìa khóa giấu dưới thảm chùi chân, tiền sảnh đầy mùi thuốc tẩy. Winifred đã trang hoàng lại trong lúc chúng tôi chưa về, và công việc chưa hoàn tất hẳn - vẫn còn giẻ thợ sơn bỏ trên sàn các phòng trước, nơi người ta đã lột hết giấy dán tường cũ kiểu Victoria. Giấy mới đều màu ngọc trai hay nhàn nhạt - những màu nói lên sự thờ ơ sang cả, vẻ hững hờ lạnh nhạt. Những sợi mây ti nhuốm màu hoàng hôn dìu dịu, lửng lơ trôi tít trên cánh chen chúc thô lậu toàn chim và hoa bên dưới. Đây là bối cảnh đề xuất cho tôi, bầu khí pha loãng để tôi đong đưa trong đó.
Reenie sẽ rất bỉ cái nội thất này - cái vẻ trống rỗng sáng loáng, cái nhợt nhạt của nó. Trông chả khác gì cái nhà tắm. Mặt khác chị cũng sẽ bị nó làm cho khiếp sợ, giống như tôi. Tôi triệu về bà nội Adelia - bà sẽ biết phải làm gì. Bà sẽ nhận ra những nỗ lực làm sang bốc mùi tiền mới; bà sẽ lịch thiệp nhưng khinh rẻ. Trời, thật là hiện đại quá đi, có thể bà sẽ nói. Bà sẽ hạ bệ Winifred trong nháy mắt, tôi nghĩ, nhưng chẳng thấy an ủi chút gì: giờ đây tôi đã thuộc nòi Winifred. Hoặc ít nhất một phần.
Còn Laura thì sao? Laura sẽ lén mang vào bộ bút chì màu, bộ tuýp màu nước. Nó sẽ làm đổ gì đó ra nhà, đánh vỡ gì đó, làm biến dạng dù chỉ là một góc nhỏ trong nhà. Nó sẽ để lại dấu ấn.
Một mảnh giấy nhăn của Winifred gác vào máy điện thoại trong tiền sảnh. “Chào mừng hai chú bồ câu đã về nhà! Em bắt chúng nó làm xong phòng ngủ đầu tiên! Em hy vọng hai người thích - phòng sành điệu ra trò! Freddie.”
“Em không biết Winifred làm cái này đấy,” tôi nói.
“Chúng tôi muốn tạo bất ngờ,” Richard nói. “Chúng tôi không muốn mợ bị sa lầy vào tiểu tiết.” Tôi cảm thấy, không phải lần đầu, như một đứa trẻ bị cha mẹ gạt ra rìa. Những bậc cha mẹ ân cần và tàn bạo, tràn ngập thông đồng, đoan chắc việc mình làm là phải, chuyện gì cũng vậy. Tôi có thể đoán ngay quà sinh nhật Richard tặng mình từ đây về sau sẽ toàn những thứ tôi không thích.
Tôi lên trên nhà rửa mặt cho tỉnh táo, theo lời Richard gợi ý. Chắc hẳn mặt mũi tôi trông phờ phạc lắm. Chắc chắn là bên trong tôi thấy mình nhớp nháp héo hon. (“Bông hồng thôi ngậm sương rồi,” đấy là nhận xét của ông ta.) Mũ tôi nhàu nát cả, tôi quăng lên bàn phấn. Tôi vã nước lên mặt rồi thấm vào một trong số khăn tắm thêu tên tắt Winifred để sẵn. Phòng ngủ nhìn ra vườn sau, ở đó chưa sửa gì. Tôi giãy giày ra, nằm phịch xuống cái giường màu kem rộng miết mát. Giường giăng màn rèm, muslin quây quanh như lều sàn Phi châu. Vậy đây là nơi tôi sẽ phải cắn răng mà chịu - cái giường tôi không tạo ra, nhưng giờ phải nằm trong. Và đây là cái trần nhà từ giờ tôi sẽ phải nhìn, qua màn khói muslin, trong lúc những sự vụ trần tục diễn ra từ họng trở xuống.
Máy điện thoại bên giường màu trắng. Chuông reo. Tôi nhấc máy. Bên kia là Laura, giọng nghẹn ngào nước mắt. “Chị ở đâu thế?” nó nức nở. “Sao chị không về?”
“Em nói sao cơ?” tôi hỏi. “Theo dự tính là hôm nay mới về mà! Bình tĩnh lại, chị không nghe ra em nói gì cả.”
“Chị chẳng thèm trả lời!” nó rền rĩ.
“Em nói cái gì thế?”
“Cha mất rồi! Mất rồi, mất rồi - nhà đã đánh cho chị năm cái điện! Reenie đánh!”
“Khoan đã nào. Từ từ. Bao giờ?”
“Chị đi một tuần thì cha mất. Ở nhà cố gọi, khách sạn nào cũng gọi. Họ bảo họ sẽ báo chị, họ hứa rồi mà! Họ không nói à?”
“Mai chị về,” tôi nói. “Chị không biết. Chẳng ai nói gì với chị cả. Chị không nhận được điện. Chẳng có bức nào.”
Đầu tôi không thấu nổi. Cái gì đã xảy ra, rốt cuộc có chuyện gì, sao cha lại mất, sao tôi không được báo? Tôi nhận ra mình đang quỳ trên sàn, trên thảm xám màu xương, gập mình trên điện thoại, cuộn người ôm lấy nó như thể đấy là một cái gì mong manh quý giá. Tôi nghĩ đến các bưu thiếp gửi từ châu Âu, gõ cửa Avilion với những lời chào hớn hở và vặt vãnh. Chắc vẫn còn để trên bàn tiền sảnh. Con mong cha khỏe.
“Nhưng báo có đưa mà!” Laura nói.
“Nơi chị ở thì không,” tôi nói. “Báo ở đó thì không.” Tôi không nói thêm đằng nào mình cũng chẳng buồn sờ đến báo chí. Tôi đã quá lú lẫn.
Richard là người đi nhận mọi tấm điện, trên tàu cũng như tại mọi khách sạn chúng tôi ở. Tôi còn nhìn thấy những ngón tay tỉ mẩn, mở phong bì, đọc, gấp tờ điện làm bốn, nhét vào cất đi. Tôi không thể buộc tội ông ta nói dối - ông ta chẳng nói gì về chúng, những tờ điện ấy - nhưng thế cũng không khác gì nói dối. Phải không?
Ông ta hẳn đã bảo các khách sạn đừng chuyển cuộc gọi nào đến phòng. Không chuyển cho tôi, không chuyển lúc tôi ở đó. Ông ta giấu không cho tôi biết gì, một cách cố ý.
Tôi nghĩ mình sắp nôn, nhưng không nôn. Một lúc sau tôi xuống nhà. Mất bình tĩnh là thua trận một nửa, Reenie vẫn thường nói thế. Richard đang ngồi ở hiên sau với cốc gin pha tonic trên tay. Winifred thật chu đáo vì đã sắp sẵn gin để dành, ông ta đã kịp nói thế, hai lần. Một ly nữa đã rót, chờ tôi trên bàn nước thấp sắt uốn mặt thủy tinh trắng. Tôi cầm ly lên. Đá va vào pha lê lanh tanh. Giọng tôi cũng phải nghe như thế.
“Chúa ơi,” Richard nói, nhìn lên tôi. “Tôi cứ tưởng mợ lên rửa mặt cơ đấy. Mắt mợ sao thế?” Mắt tôi chắc đỏ.
“Cha mất rồi,” tôi nói. “Nhà đánh năm bức điện. Cậu không hề nói với em.”
“Mea culpa[1],” Richard nói. “Tôi biết lẽ ra phải nói, nhưng tôi muốn tránh cho mợ khỏi lo buồn, mợ yêu à. Chẳng làm được gì nữa, mà ta cũng chẳng về dự đám tang kịp, nên tôi không muốn làm hỏng cả chuyến đi của mợ. Tôi nghĩ là tôi cũng ích kỷ nữa - tôi muốn chiếm lấy toàn bộ mợ cho mình, một lát thôi cũng được. Bây giờ thì ngồi xuống đây mạnh mẽ lên, rồi uống đi, và tha thứ cho tôi nhé. Sáng mai mình sẽ bàn chuyện này sau.”
Sức nóng làm đầu chao đảo; bãi cỏ nơi nắng chiếu vào xanh đến váng mắt. Bóng râm dưới gốc cây đặc như hắc ín. Giọng Richard vang đến tôi từng đợt ngắt quãng, như đánh Morse: tôi chỉ nghe thấy vài từ.
Lo buồn. Kịp. Hỏng cả. Ích kỷ. Tha thứ cho tôi.
Tôi còn đáp lại thế nào?
[1] Tiếng La tinh: Lỗi tại tôi (câu trong kinh Thú Nhận, thường đọc trong lễ Mi xa Công giáo, nhưng đã thành phổ biến trong đời thường).