Tôi phải nhanh lên thôi. Tôi đã thấy kết thúc rồi, lập lòe sáng tít xa phía trước, cứ như một nhà trọ bên đường, trong đêm đen, giữa màn mưa. Một thứ nhà trọ “cơ hội cuối cùng” thời hậu chiến, không câu hỏi, không tên nào trong sổ lễ tân là thật, tiền tươi trả trước. Văn phòng chăng đầy đèn Giáng sinh cũ nhấp nhánh; đằng sau một dãy buồng âm u túm tụm bên nhau, gối ngòn ngọt mùi mốc sương. Cột bơm xăng mặt tròn xoe trước cổng. Nhưng chẳng có xăng, đã cạn từ mấy thập niên nay rồi. Đây là nơi ta dừng lại.
Kết thúc, một nơi trú ẩn ấm áp làm sao. Một nơi dừng nghỉ. Nhưng tôi vẫn chưa đến đó, mà tôi đã già nua mệt mỏi, lại đi bộ, chân tập tễnh. Lạc trong rừng, chẳng có sỏi trắng rải đường, còn dài dặc hiểm nguy đằng trước.
Sói ơi, ta gọi ngươi! Những ma nữ tóc thiên thanh mắt như hố rắn, ta triệu các ngươi về! Hãy đứng bên ta, trong lúc chúng ta cùng tiến về kết thúc! Hãy nắm những ngón tay viêm khớp run rẩy, hãy dẫn đường ngòi bút bi đen dấp dính của ta; hãy đỡ quả tim bị hở động đậy thêm chỉ vài ngày nữa, đến khi ta xếp đặt xong xuôi. Hãy làm người bạn đường, người trợ thủ, làm bằng hữu của ta; lần nữa, ta phải thêm, bởi chẳng phải chúng ta đã quen thân từ trước?
Vật nào khắc có chỗ nấy, như Reenie thường nói; hay khi tâm trạng cáu bẳn hơn, với bà Hillcoate, Hoa nhài có bãi cứt trâu. Thầy Erskine cũng dạy được tôi vài mánh hữu ích. Lời khẩn cầu các thần Báo oán tỉa tót kỹ có thể rất tiện lợi, khi nào cần thiết. Khi vấn đề chính là phải trả thù.
Tôi có tin, lúc đầu, rằng tôi chỉ đòi công lý. Tôi nghĩ lòng mình trong sạch. Chúng ta quả thích đánh giá những động cơ của mình là cao đẹp khi nào chuẩn bị làm điều nguy hại, cho kẻ khác. Nhưng như thầy Erskine còn nhận xét, Eros đeo cung tên không phải vị thần duy nhất bị mù. Justitia là vị thứ hai. Những ông bà thần vừa mù vừa vụng, sử vũ khí sắc bén: Justitia vác cây gươm, cộng thêm dải băng bịt mắt nữa là đủ điều kiện tự chém phải mình.
Người đọc tất nhiên muốn biết trong vở Laura viết những gì. Những vở ấy vẫn còn nguyên như khi nó để lại, buộc dây chun nâu bẩn, để lại cho người trong rương đi biển của tôi cùng mọi thứ khác. Tôi chẳng sửa đổi gì đâu. Người có thể tự xem lấy. Các trang bị xé không phải do tôi.
Tôi đã đoán sẽ thấy gì, cái ngày tháng Năm sợ hãi năm 1945 ấy? Thú tội hay oán trách? Hay một cuốn nhật ký, chép tường tận các buổi hẹn hò giữa Laura và Alex Thomas? Hẳn rồi, hẳn rồi. Tôi đã gồng mình đợi cú đòn trí mạng. Và đòn đã giáng, dù không phải như tôi tưởng tượng.
Tôi cắt dây, xòe mấy quyển vở ra. Có năm quyển tất cả: Toán, Địa lý, Tiếng Pháp, Lịch sử, và La tinh. Những cuốn sách trao hiểu biết.
Cô viết như một thiên thần, đấy là nhận xét về Laura, trên bìa sau một trong những bản Tay sát thủ mù. Bản in ở Mỹ, theo như tôi nhớ, bìa hoa văn vàng cuộn xoáy: ở đó thiên thần là mặt hàng được ưa chuộng. Thực tình mà nói, thiên thần chẳng viết gì nhiều. Họ chép lại tội lỗi, ghi danh sách đày hỏa ngục cùng danh sách lên thiên đàng, hoặc hiện ra làm bàn tay lìa khỏi thân, vạch câu cảnh báo lên tường. Hoặc có lúc truyền tin, chẳng mấy khi là tin tốt. Chúa ở cùng ngươi chẳng phải là ban phước thuần ròng.
Công nhận mọi điều trên thì, phải: Laura viết như một thiên thần. Nói cách khác, chẳng viết gì mấy. Nhưng vào thẳng vấn đề.
La tinh là cuốn tôi mở trước nhất. Hầu hết các trang còn lại đều trắng; còn vài mép nham nhở chắc do Laura đã xé bài làm cũ đi. Nó để lại một đoạn văn, một bản nó dịch - có tôi trợ giúp, thêm cả sự trợ giúp của tủ sách thư viện ở Avilion - phần kết Quyển 4 Aeneid của Virgil. Dido vừa tự đâm mình trên giàn thiêu hay là đài tế nàng xây bằng mọi vật liên quan đến chàng tình lang đã mất tích là Aeneas, chàng đã căng buồm ra khơi để làm tròn định mệnh của mình trong chiến cuộc. Máu chảy đầm đìa như lợn bị chọc tiết, nhưng Dido vật vã mãi chưa chết được. Nàng ta quằn quại đến là nhiều. Thầy Erskine, như tôi còn nhớ, khoái đoạn đó lắm.
Tôi vẫn nhớ cái ngày nó viết. Ánh nắng cuối chiều chiếu qua cửa sổ vào phòng tôi. Laura nằm trên sàn, chân đi tất vung lên trời, cần mẫn chép công trình cộng tác nguệch ngoạc của cả hai vào vở.
Nó có mùi xà phòng Ivory, cùng mùi rẻ gỗ bút chì.
Thế rồi Juno hùng mạnh thấy thương hại những khổ sở lâu dài và chuyến đi khó khăn của nàng bèn phái Iris trên đỉnh Olympus xuống cắt đứt linh hồn khốn khổ ra khỏi cơ thể vẫn đang níu lấy nó. Cái này phải làm vì Dido không chết một cách tự nhiên hay chết dưới tay người khác mà chết vì tuyệt vọng do một thôi thúc điên rồ. Thế nhưng Proserpine vẫn chưa cắt đứt búp tóc vàng trên đầu nàng hay đưa nàng xuống Âm phủ.
Thế là lúc này giữa sương khói dang đôi cánh vàng như hoa nghệ tây kéo theo sau lưng ngàn màu sắc cầu vồng lấp lánh trong nắng Iris bay xuống và bay lượn bên trên Dido mà bảo:
Theo lệnh cho ta ta mang theo vật thiêng này của chính Thần Chết và ta giải thoát ngươi khỏi cơ thể ngươi.
Rồi tất cả sức ấm ngừng đột ngột và sự sống của nàng biến mất.
“Sao cô ta lại phải cắt một món tóc đi?” Laura hỏi. “Cái cô Iris đó?”
Tôi chẳng nghĩ ra nổi. “Chỉ là một nhiệm vụ của cô ấy thôi,” tôi nói. “Như kiểu lễ vật gì đấy.” Tôi đang rất hài lòng phát hiện ra mình cũng trùng tên với một nhân vật trong truyện, chứ không chỉ đặt theo tên một loài hoa như tôi vẫn nghĩ trước giờ. Mô típ đặt tên thực vật, cho lũ con gái, rất là thịnh ở đằng nhà mẹ tôi.
“Làm thế giúp Dido thoát khỏi cơ thể mình,” Laura nói. “Cô ấy không muốn sống thêm nữa. Làm thế chấm dứt nỗi khổ của cô ấy, vậy đó là việc nên làm. Có phải không?”
“Chắc là phải,” tôi đáp. Tôi không mấy quan tâm đến những điểm luân lý tinh tế như vậy. Trong thơ ca có rất nhiều chuyện kỳ khôi. Cố giảng cho ra nghĩa chả ích gì. Nhưng tôi cũng tự hỏi Dido có tóc vàng không; tôi thấy có vẻ nàng ta thuộc típ tóc nâu hơn, luận từ các phần còn lại.
“Thần Chết là ai? Sao ông ta lại muốn món tóc?”
“Nói chuyện tóc thế đủ rồi,” tôi nói. “Chúng mình xong bài tiếng La tinh rồi. Giờ làm nốt bài tiếng Pháp nhé. Thầy Erskine giao quá nhiều bài, hôm nào cũng thế. Nghe đây: Il ne faut pas toucher aux idoles: la dorure en reste aux mains.”
“Thế này được không, đừng có dính vào thần thánh giả, sẽ bị dây sơn vàng đầy hai bàn tay?”
“Có nói gì đến sơn đâu.”
“Nhưng nghĩa câu đấy thực sự là vậy mà.”
“Em biết thầy Erskine rồi đấy. Lão ấy đâu có thèm biết nghĩa là gì đâu.”
“Em ghét lão Erskine. Em ước cô Hung Dữ quay lại với mình.”
“Chị cũng thế. Chị ước mẹ quay lại với mình.”
“Em cũng thế.”
Thầy Erskine chẳng đánh giá cao mấy bài dịch tiếng La tinh của Laura. Khắp cả bài đều vạch bút chì đỏ.
Miêu tả cách nào đây vũng sầu khổ lúc này tôi lút chìm vào? Tôi không làm được, nên sẽ không cố thử.
Tôi lật qua mấy cuốn kia. Lịch sử bỏ trắng, chỉ trừ cái ảnh Laura dán vào đó - ảnh nó và Alex Thomas trong buổi picnic nhà máy cúc, ở đây cả hai đều tô vàng nhạt, có bàn tay xanh lam cắt rời của tôi bò lại gần từ bên kia thảm cỏ. Địa lý chả có gì ngoài đoạn miêu tả ngắn về Cảng Ticonderoga thầy Erskine giao làm. “Thị trấn cỡ trung này đặt ở hợp lưu sông Louveteau và sông Jogues và nổi tiếng vì nguồn đá cùng các thứ khác,” là câu đầu tiên Laura viết. Tiếng Pháp đã bỏ hết những trang tiếng Pháp. Thay vào đó là danh mục những từ kỳ quái Alex Thomas bỏ lại trong gác mái nhà chúng tôi, mà - như giờ tôi phát hiện - Laura chẳng hề đem đốt. Anchoryne, berel, carchineal, diamite, ebonort… Một ngôn ngữ lạ, phải, nhưng là một ngôn ngữ tôi đã học cách hiểu, hiểu hơn tôi từng bao giờ hiểu tiếng Pháp.
Toán có một cột số dài, vài số ngang hàng có chữ. Mất vài phút tôi mới nhận ra là những số gì. Đấy là ngày tháng. Ngày đầu tiên trùng với ngày chúng tôi từ châu Âu về, ngày cuối khoảng chừng ba tháng trước khi Laura rời nhà đến Bella Vista. Còn chữ thế này:
Avilion, không. Không. Không. Sunnyside. Không. Thượng Đô, không. Không. Hoàng hậu Mary, không không. New York, không. Avilion. Không lúc đầu.
Thủy Nữ Tinh, X. “Phải bả”.
Về lại Toronto. X.
X. X. X. X.
O.
Tất cả câu chuyện là thế. Mọi thứ đã rõ. Tất cả đã sờ sờ đó từ lâu, ngay trước mắt tôi đây. Làm sao tôi lại mù đến thế?
Vậy là không phải Alex Thomas. Chẳng bao giờ là Alex. Alex, đối với Laura, ở trong một chiều không gian khác.