Tay Sát Thủ Mù

Lượt đọc: 325 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NGÀY LÀM BÁNH

❊ ❊ ❊

Lượng mưa không đủ, nhà nông bảo. Đàn ve cất tiếng rú đơn âm xé không khí; bụi xoáy tròn cắt ngang đường; trong những thềm cỏ dày hai bên đường, châu chấu kêu ri rỉ. Lá thích rũ oặt trên cành như găng tay mềm nhẽo; bóng tôi nứt rạn trên vệ đường.

Tôi dậy sớm đi bộ, trước giờ mặt trời mở toàn lực thiêu đốt. Tay bác sĩ giục giã: bác ngày một tiến bộ đấy, anh ta nói; nhưng tiến đến cái gì? Tôi coi trái tim mình như đồng đội trong một cuộc trường chinh ép buộc bất tận, chúng tôi bị trói vào nhau, hai kẻ đồng lõa miễn cưỡng trong một âm mưu, một chiến lược không thuộc quyền chúng tôi điều khiển. Chúng tôi đang tiến đến đâu? Đến ngày hôm sau. Tôi không quên nhận thấy rằng vật đang giữ tôi sống, cũng chính là vật sẽ khiến tôi chết. Như thế cũng hơi giống tình yêu, hoặc một dạng của tình yêu.

Hôm nay tôi lại đến nghĩa trang. Ai đó đã để lại bó cúc gỗ cam và đỏ trên mồ Laura: toàn màu nóng rực, chả thấy gì vỗ về. Khi tôi tới hoa đã héo một nửa, dù vẫn còn tỏa cái mùi hăng hắc. Tôi ngờ hoa này ăn trộm từ các luống trước Nhà Máy Cúc, của một người hâm mộ kẹt xỉn hoặc cũng có thể hơi điên diên; nhưng nghĩ lại chính Laura cũng sẽ làm những việc như thế. Quyền sở hữu với nó là một khái niệm hết sức mù mờ.

Trên đường về tôi ghé qua hàng bánh vòng; ngoài trời đang nóng dần, tôi cần bóng râm. Nơi này còn lâu mới gọi là mới; gần như tàn tạ là khác, bất chấp vẻ hiện đại nhí nhảnh bên trong - gạch lát sàn vàng nhạt, bàn nhựa trắng bắt vít xuống sàn, gắn liền ghế nhựa đổ khuôn. Nó khiến tôi nghĩ đến một thứ cơ sở nhà nước; trường mẫu giáo trong khu dân nghèo chẳng hạn, hoặc nhà thương tĩnh dưỡng cho người thiểu năng thần kinh. Ở đây không có gì có thể nhấc lên ném nhau, hoặc cầm đâm nhau: ngay đồ dao nĩa cũng bằng nhựa. Bao trùm là mùi trộn lẫn giữa dầu rán ngậy với nước tẩy trùng hương gỗ thông, phủ trên cùng là mùi cà phê hâm hẩm.

Tôi bỏ tiền mua cốc trà đá và bánh Bọc Đường Kiểu Cổ, cắn vào rào rạo như xốp. Sau khi đã thanh toán xong nửa cái, tức là hết khả năng nuốt được, tôi cập kiễng đi qua sàn nhà trơn như mỡ, tới phòng vệ sinh. Nhờ ngày ngày đi dạo tôi đã vẽ trong đầu bản đồ tất cả các phòng vệ sinh tiện tới ở Cảng Ticonderoga - rất có ích trong trường hợp khẩn cấp - và hàng bánh vòng này hiện được tôi bỏ phiếu cao nhất. Không phải vì sạch sẽ hơn những nơi khác, hay đảm bảo có giấy hơn, mà vì những dòng chữ trên tường. Ở đâu cũng có, nhưng những điểm khác sẽ thường xuyên bị quét vôi xóa đi, còn chỗ này chúng ở lại lâu hơn. Vì thế không chỉ thấy văn bản khởi thủy, mà cả chuỗi phê bình về sau.

Hiện tại thú vị nhất là những dòng chữ ở ngăn giữa. Dòng đầu tiên viết bút chì, chữ tròn trịa như trên mộ La Mã, cày sâu vào lớp sơn: Đừng Ăn Thứ Gì Mi Không Dám Giết.

Tiếp theo, bút dạ xanh: Đừng Giết Thứ Gì Mi Không Dám Ăn.

Dưới nữa, bút bi: Đừng Giết.

Dưới nữa, bút dạ tím: Đừng Ăn.

Và dưới nữa, dòng mới nhất, nét rất đậm màu đen: Tổ Sư Quân Ăn Chay - “Thần Là Loài Ăn Thịt” - Laura Chase.

Cứ thế Laura sống mãi.

Phải mất bao nhiêu thời gian Laura mới xoay xở ra đời vào thế giới này, Reenie kể. Cứ như con bé phân vân mãi xem làm thế có thật khôn ngoan hay không. Thế rồi ban đầu nó rất ốm yếu, suýt nữa thì ta mất nó - tôi nghĩ nó vẫn còn đang do dự. Nhưng cuối cùng nó cũng quyết định thử xem, và nắm lấy sự sống, thế rồi nó khá lên.

Reenie tin người ta có thể quyết định lúc nào mình chết, tương tự, họ cũng có quyền can thiệp vào việc mình sinh ra hay không. Khi đã đến tuổi biết cãi, tôi thường bảo, Có phải em đòi đẻ ra đâu, như thể đó đủ là một lập luận chốt hạ; và Reenie bật lại, Tất nhiên là có. Cô cũng như mọi người khác thôi. Một khi sinh ra đời là ta mắc nợ đời, quan điểm Reenie là vậy.

Sau khi sinh Laura mẹ tôi mệt mỏi hơn thường lệ. Mẹ đã mất độ cao, mất sức phục hồi. Ý chí của bà suy sụp, ngày tháng bắt đầu mòn mỏi đi qua. Bà phải nghỉ thêm, bác sĩ dặn. Bà ấy vốn không khỏe, Reenie nói với bà Hillcoate, người đến nhà giúp việc giặt giũ. Cứ như mẹ cũ của tôi đã bị yêu tinh đánh cắp, để lại mẹ mới này, mẹ già nua uể oải mất tinh thần này thế vào. Lúc đó tôi mới bốn tuổi, sự thay đổi ấy làm tôi khiếp sợ, tôi muốn được ôm lấy an ủi vỗ về; nhưng mẹ tôi không còn đủ sức làm việc đó. (Sao tôi lại nói không còn? Tư thế làm mẹ của bà vốn vẫn là dạy dỗ chứ không phải là ôm ấp. Về bản chất bà vẫn là cô giáo suốt đời.)

Tôi nhanh chóng phát hiện nếu yên lặng, không nhõng nhẽo đòi chú ý, và hơn hết nếu tỏ ra được việc - nhất là lo cho đứa bé, cho Laura, ngồi trông em và đưa nôi cho nó ngủ, mà nó chẳng chóng ngủ, cũng chẳng được lâu - tôi sẽ được phép ngồi lại trong phòng cùng mẹ. Nếu không, tôi sẽ bị tống cổ đi. Thế là tôi đã tập thích nghi bằng cách đó: trật tự và đắc lực.

Lẽ ra tôi phải gào thét. Lẽ ra tôi phải quấy đảo hờn dỗi. Con có khóc mẹ mới cho bú, Reenie thường bảo vậy.

(Kia là tôi, trên bàn đầu giường mẹ, lồng khung bạc, váy tối màu cổ ren trắng, một bàn tay lộ ra nắm chặt tấm chăn sơ sinh trắng thêu sùi, bàn tay lúng túng, dữ dội, quắc mắt chĩa vào cái máy ảnh hay là cái kẻ đằng sau nó. Bản thân Laura thì gần như mất dạng trong tấm ảnh. Chỉ nhìn thấy có mỗi chỏm tóc tơ mịn của nó, cùng một bàn tay tí xíu, các ngón cuộn quanh ngón cái của tôi. Tôi đang nổi giận vì bị bắt phải bế em, hay ngược lại đang bao bọc nó? Che chắn nó - không muốn buông nó ra?)

Khi còn sơ sinh Laura đã khó chiều, dù theo kiểu không yên chứ không phải là hay quấy. Lớn hơn một chút nó cũng là một đứa trẻ khó chiều. Cửa tủ làm nó lo lắng, ngăn kéo bàn cũng thế. Cứ như nó không ngớt lắng nghe, ở đâu đó xa xa hay ngay dưới sàn nhà, có cái gì đó ngày một tiến gần không tiếng động, một đoàn tàu bằng gió. Nó lên những cơn khủng hoảng khó hiểu - thấy con quạ chết nó cũng bật khóc, hay con mèo bị xe cán, hay đám mây đen vắt trên nền trời trong xanh. Mặt khác, nó lại có sức kháng cự dị thường với cái đau thể chất: khi làm bỏng miệng hay đứt tay, chắc một trăm phần trăm nó không khóc. Chỉ có ác tâm, cái ác tâm chất chứa trong vũ trụ, mới làm nó phiền muộn.

Nó đặc biệt hốt hoảng khi gặp những cựu binh tàn phế nơi góc phố - những người ngồi xe lăn, bán bút chì hay ăn xin, quá rã rời không còn làm nổi việc gì. Một ông mặt đỏ, mắt trừng trừng cụt hai chân, ngồi xe đẩy hàng đẩy mình đi khắp thị trấn, nó cứ gặp là khóc ré. Có thể do cơn cuồng nộ trong mắt ông.

Cũng như mọi đứa trẻ nhỏ khác, Laura tin vào từ ngữ theo nghĩa đen, nhưng ở nó chuyện ấy đẩy tới mức cực độ. Đừng có nói với nó Biến đi cho khuất mắt hay Đi mà nhảy xuống hồ mà nghĩ sẽ được yên lành không hậu quả. Cô lại nói gì với Laura rồi? Cô không rút được bài học nào hay sao? Reenie thường quở mắng tôi. Nhưng chính chị cũng không rút được. Chị có lần bảo Laura cắn vào lưỡi đi để khỏi tuôn ra hàng tràng câu hỏi, và sau đó suốt nhiều ngày nó không nhai được gì.

Giờ tôi kể tới cái chết của mẹ. Nói chuyện đó đã thay đổi mọi điều nghe rất sáo, nhưng đó là sự thực, thế nên tôi sẽ viết:

Chuyện đó đã thay đổi mọi điều.

Ấy là một ngày thứ Ba. Ngày làm bánh. Tất cả bánh mì của nhà - làm một lốc đủ ăn một tuần - đều nướng trong bếp ăn ở Avilion. Lúc đó trong thị trấn đã có một lò bánh nhỏ, nhưng Reenie nhất quyết bảo chỉ lũ lười biếng mới đi mua bánh ngoài hàng, chưa kể thợ lò bánh thêm bột phấn vào bột và cho quá tay men để bánh nở phồng thêm, người mua ngỡ được nhiều hơn. Vì thế chị tự làm lấy bánh cho nhà.

Căn bếp ở Avilion không tối tăm ảm đạm như cái hang thời Victoria ám khói từng là nó ngày xưa, ba chục năm về trước. Ngược lại nó màu trắng - tường trắng, bàn men trắng, lò đốt củi trắng, sàn lát gạch đen trắng - thêm rèm cửa màu vàng thủy tiên căng ngang những cửa sổ mới nới rộng. (Bếp đã sửa lại sau chiến tranh, một trong những món quà bẽn lẽn dàn hòa của cha cho mẹ.) Reenie coi căn bếp này là đỉnh cao mô đéc, và tuân theo những bài giảng của mẹ về vi trùng chứa âm mưu hắc ám cùng chỗ chúng ưa ẩn náu, chị giữ cho bếp sạch như lau như li.

Vào ngày làm bánh Reenie thường cho chúng tôi những mẩu bột vụn để nặn hình người, nho khô làm mắt và cúc áo. Rồi chị sẽ nướng cho chúng tôi. Tôi ăn sạch phần mình, nhưng Laura thì để dành lại. Một ngày Reenie tìm ra cả một đội, xếp hàng trong ngăn kéo trên cùng của Laura, cứng đanh như đá và quấn gọn gàng trong từng khăn tay như những xác ướp tí xíu mặt bột. Reenie nói sẽ có chuột và tốt nhất là quăng vào sọt rác, nhưng Laura kỳ kèo đòi một lễ táng tập thể trong vườn bếp, sau bụi đại hoàng. Nó đòi phải cầu kinh. Nếu không, nó sẽ không bao giờ chịu ăn tối nữa. Nó luôn là một tay mặc cả khó chơi, một khi đã giở chứng.

Reenie là người đào hố. Hôm đó người làm vườn nghỉ; chị lấy xẻng của ông, bình thường cấm ai đụng đến, nhưng hôm nay là trường hợp khẩn cấp. “Lạy Chúa thương lấy chồng cô ả,” Reenie nói, trong lúc Laura đặt những người bánh mì thành dãy gọn gàng. “Cô ả cứng đầu như lợn ỉ.”

“Em sẽ không lấy chồng đâu,” Laura nói. “Em sẽ sống một mình trong ga ra.”

“Em cũng sẽ không lấy chồng,” tôi nói, không muốn kém cạnh.

“Nói hay lắm đấy,” Reenie nói. “Cô thích cái giường mềm ấm cơ mà. Cô đâu muốn ngủ trên sàn xi măng, người lấm đầy dầu mỡ.”

“Em sẽ ở trong nhà kính,” tôi nói.

“Nhà kính còn được sưởi nữa đâu,” Reenie nói. “Đến mùa đông cô sẽ chết rét.”

“Em sẽ ngủ trong một trong mấy cái xe hơi,” Laura nói.

Ngày thứ Ba kinh hoàng ấy chúng tôi ăn sáng trong bếp, với Reenie. Cháo yến mạch và bánh mì phết mứt. Đôi lúc chúng tôi ăn với mẹ, nhưng hôm đó mẹ rất mệt. Mẹ bao giờ cũng nghiêm khắc hơn, bắt ngồi thẳng lưng và ăn hết vỏ bánh. “Hãy nghĩ đến những người Armenia chết đói,” mẹ bảo.

Có thể đến lúc đó những người Armenia không còn chết đói. Chiến tranh đã qua từ lâu, trật tự đã ổn định rồi. Nhưng nỗi khổ cực của họ chắc đã ở lại trong trí mẹ như một câu khẩu hiệu. Một khẩu hiệu, một lời viện dẫn, một câu cầu nguyện, một đạo bùa. Phải ăn bằng hết vỏ bánh mì để tưởng niệm những người Armenia, dù họ là ai; bỏ không ăn là tội báng bổ. Laura và tôi chắc đã hiểu rõ sức nặng của thứ bùa phép này, bởi nó lúc nào cũng hiệu nghiệm.

Mẹ hôm đó không ăn vỏ bánh. Cái này tôi nhớ rõ. Laura rầy rà mãi vì chuyện đó - Vỏ bánh kìa mẹ, những người Armenia chết đói? - tới khi rốt cuộc mẹ phải thốt ra rằng mẹ không khỏe. Khi mẹ nói thế, tôi cảm thấy luồng điện lạnh buốt xuyên suốt mình, bởi cái đó tôi đã biết. Tôi biết từ lâu lắm rồi.

Reenie bảo rằng Chúa tạo ra người ta cũng y như chị làm bánh, chính vì thế nên bụng các bà mẹ căng tròn khi sắp sinh em bé: đó là bột nhào đang dậy. Chị bảo lúm đồng tiền trên má chị là dấu ngón tay cái Chúa để lại. Chị bảo chị có ba cái lúm còn nhiều người khác chẳng có cái nào, bởi Chúa làm ra mỗi người một cách khác nhau, nếu không chẳng mấy chốc ngài sẽ phát chán, vì thế ngài phân chia các thứ không đều. Mới đầu có vẻ như không công bằng, nhưng rốt cuộc ta sẽ thấy như thế là công bằng cho tất cả.

Laura đã sáu tuổi, vào khoảng thời gian tôi đang kể đây. Tôi lên chín. Tôi biết trẻ con không phải làm ra từ bột bánh - chuyện đó là để kể cho lũ nhóc con như Laura. Nhưng cũng chưa có lời giải đáp cặn kẽ nào.

Chiều chiều mẹ thường ngồi ngoài vọng lâu đan lát. Mẹ đang đan một cái áo len tí xíu, loại mẹ vẫn đan cho Dân Tị Nạn Ngoại Quốc ngay cả bây giờ. Có phải cái này cũng cho dân tị nạn không? tôi hỏi mẹ. Cũng có thể, mẹ đáp và cười. Một lúc sau mẹ sẽ gà gật thiếp đi, hai mí từ từ nhắm nghiền, đôi kính tròn trượt xuống sống mũi. Mẹ bảo mẹ có mắt sau gáy, sẽ biết ngay nếu chúng tôi làm gì sai quấy. Tôi hình dung đôi mắt đó cũng dẹt và sáng ngời không màu, giống như đôi kính.

Ngủ nhiều vào ban chiều thật không giống mẹ bình thường. Rất nhiều thứ nữa không giống mẹ bình thường. Laura không biết lo, nhưng tôi thì có. Tôi đang đem hai cộng hai, chắp nối những điều tôi được nghe và những điều tôi nghe lỏm được. Điều tôi được nghe: “Mẹ cháu cần nghỉ, cháu nhớ trông Laura đừng cho quấy mẹ.” Điều tôi nghe lỏm được (Reenie nói với bà Hillcoate): “Bác sĩ có vẻ lo. Cũng phải đến chín phần mười. Tất nhiên bà không kêu than gì đâu, nhưng bà ấy vốn không khỏe. Có những đàn ông chẳng biết đâu là dừng.” Thế nên tôi biết mẹ đang gặp một thứ nguy hiểm gì đấy, có liên quan đến sức khỏe và có liên quan đến cha, dù vẫn chưa hiểu rõ là thứ nguy hiểm gì.

Tôi vừa nói Laura không biết lo, nhưng nó cũng bám mẹ nhiều hơn lệ thường. Nó ngồi khoanh chân trên khoảng đất mát rượi dưới mái vọng lâu nơi mẹ đang nghỉ, hoặc sau lưng ghế mẹ ngồi viết thư từ. Khi mẹ vào bếp, Laura thích rúc dưới bàn bếp. Nó hay lôi một tấm nệm vào trong gầm bàn, cùng quyển sách học vần của nó, mà xưa là của tôi. Nó có rất nhiều thứ đồ ngày xưa là của tôi.

Giờ thì Laura đã biết đọc rồi, hay ít nhất là biết đọc cuốn sách học vần. Nó thích nhất là chữ L, vì đó là chữ của nó, chữ đầu tên nó, Chữ L là Laura. Tôi chưa bao giờ thích đặc biệt chữ nào chỉ vì là chữ đầu tên mình - Chữ I là Iris - bởi “I” (tôi) là chữ cái dành cho tất cả mọi người.

Chữ L là Lily,

Trắng muốt và thanh sạch,

Ban ngày hoa nở xòe,

Đến đêm thì khép cánh.

Minh họa trong sách vẽ hình hai đứa trẻ con đội mũ nan kiểu ngày xưa, bên cạnh một bông hoa súng trên có cô tiên đang ngồi - cô tiên mình trần, có đôi cánh mỏng tang lấp lánh. Reenie thường bảo nếu gặp phải một thứ như thế chị sẽ lấy vỉ ruồi ra quật. Chị bảo câu đó với tôi, coi như đùa, nhưng không nói với Laura bởi nó sẽ cho là thật và sẽ nổi nóng.

Laura thì khác. Khác nghĩa là không bình thường, tôi biết, nhưng tôi vẫn lằng nhằng hỏi Reenie. “Chị nói khác nghĩa là sao?”

“Là không giống mọi người,” Reenie đáp lại.

Nhưng có lẽ Laura cũng không phải khác người cho lắm. Có thể nó cũng giống họ - giống cái phần kỳ quặc, lệch chuẩn trong họ mà hầu hết giấu kỹ nhưng Laura thì không, và họ kinh sợ nó là vì thế. Bởi quá đúng là họ kinh sợ nó - hoặc nếu không phải kinh sợ, thì cũng là đề phòng ra sao đó; dù chưa đến mức như sau này, tất nhiên, khi nó lớn lên.

Thế là hôm đó sáng thứ Ba, trong bếp. Reenie và mẹ đang làm bánh. Không phải: Reenie đang làm bánh, còn mẹ đang nhấp trà. Reenie trước đã nói với mẹ rằng chị thấy trước đến chiều sẽ dông, trời xầm xì thế này, và có lẽ mẹ nên ra ngoài hóng mát thì hơn, hay nằm xuống nghỉ; nhưng mẹ bảo mẹ ghét ngồi không. Mẹ bảo như thế mẹ có cảm giác mình vô dụng, mẹ nói mẹ muốn ngồi với Reenie hơn.

Cứ theo ý kiến của Reenie thì mẹ có thể biến nước thành rượu, và đằng nào chị cũng không có quyền sai bảo mẹ phải ngồi đâu. Thế là mẹ ngồi uống trà trong khi Reenie đứng bên bàn, nhào tảng bột làm bánh, thọc cả hai tay ấn ngập vào trong, đập lại, lại nhào, lại ấn. Hai bàn tay chị dính đầy bột, trông cứ như đi đôi găng trắng bằng bột. Bột dính cả trên yếm tạp dề. Dưới hai cánh tay xuất hiện hai hình bán nguyệt ướt mồ hôi, thẫm cả những bông cúc vàng trên bộ đồ mặc nhà. Đã có vài ổ bánh thành hình bỏ trong thau, mỗi cái phủ một tấm khăn sạch âm ẩm. Mùi nấm ẩm ướt tràn ngập căn bếp.

Trong bếp rất nóng, bởi lò nướng cần kha khá than, mà cũng bởi thời tiết đang trong đợt nóng. Cửa sổ để ngỏ, luồng khí nóng cuồn cuộn tràn vào. Bột đợi làm bánh bốc ra từ cái thùng to để trong kho. Không bao giờ được trèo vào thùng đó vì bột sẽ chui vào mũi miệng làm nghẹt thở. Reenie biết có một đứa bé sơ sinh đã bị các anh chị cắm đầu vào thùng bột suýt chết sặc.

Laura và tôi cùng chui dưới gầm bàn bếp. Tôi đang đọc một cuốn sách tranh dành cho trẻ em tên là Những vĩ nhân lịch sử. Napoleon bị lưu đày trên đảo Thánh Helena, đứng trên vách đá, một bàn tay luồn trong áo khoác. Tôi đoán chắc ông ta bị đau dạ dày. Laura bồn chồn không yên. Nó bò từ dưới bàn ra lấy nước uống. “Cô có lấy bột nặn người bánh không?” Reenie hỏi.

“Không,” Laura nói.

“Không, thưa chị,” mẹ sửa.

Laura bò trở lại vào dưới bàn. Từ đây chúng tôi thấy được hai cặp bàn chân, cặp hẹp bản của mẹ với cặp rộng bản của Reenie trong hai đôi dép cứng, và đôi cẳng chân gầy guộc của mẹ bên đôi mập mạp của Reenie đi tất nâu nhạt. Chúng tôi nghe thấy cả tiếng bột bánh nhào và đập xuống bàn luỵch huỵch. Rồi bỗng dưng thình lình chén trà vỡ tan và mẹ nằm ngã trên sàn, còn Reenie đang quỳ bên cạnh. “Ôi Chúa ơi,” chị đang kêu lên. “Iris, đi tìm cha cô lại đây.”

Tôi chạy đến thư viện. Điện thoại đang reo, nhưng cha không có ở đó. Tôi leo cầu thang lên tháp của ông, mọi khi là vùng đất cấm. Cửa không khóa: trong phòng chẳng có gì, chỉ có ghế và vài khay gạt tàn. Cha không ở trong phòng khách chính, không ở trong phòng khách sáng, không ở trong ga ra. Chắc là cha ở nhà máy, tôi nghĩ, nhưng tôi không biết rõ đường, mà đường lại xa lắm. Tôi không biết còn phải tìm ở đâu.

Tôi trở lại xuống bếp và bò vào trong bàn, ở đó Laura ngồi ôm chặt hai đầu gối. Nó không hề khóc. Trên sàn có cái gì trông như máu, thành một đường, những đốm đỏ thẫm trên nền gạch trắng. Tôi chấm ngón tay, nếm thử - đúng là máu. Tôi lấy mảnh giẻ lau đi. “Đừng có nhìn,” tôi bảo Laura.

Một lúc sau Reenie xuống theo cầu thang phụ và quay điện thoại gọi ông bác sĩ - ông ta cũng chẳng có nhà, đang rong ruổi đâu đó theo lệ thường. Rồi chị gọi đến nhà máy đòi gặp cha. Không ai biết ông ở đâu. “Tìm ông ấy bằng mọi giá. Bảo đây là chuyện khẩn,” chị bảo. Rồi chị lại hối hả lên lầu. Chị đã quên hết mẻ bánh, bột đã dậy quá cao rồi tự xẹp xuống, và thế là hỏng cả.

“Lẽ ra bà không nên ở trong cái bếp nóng như thế,” Reenie bảo bà Hillcoate, “lại còn trời đất này mà bão đang tới, nhưng bà có chịu thương lấy mình đâu, nói bà chẳng nghe gì cả.”

“Bà ấy có bị đau lắm không?” bà Hillcoate hỏi, giọng thương cảm lẫn tò mò.

“Tôi từng gặp nhiều ca tệ hơn,” Reenie đáp. “Hãy cảm tạ từ những ân huệ nhỏ. Nó tuột ra cứ như mèo con ấy thôi, nhưng phải nói bà ra máu đến khiếp. Rồi sẽ phải đốt cái đệm đi, tôi không nghĩ ra cách nào mà gột cho sạch được.”

“Ôi trời, thôi thì, bà ấy vẫn có thể đợi lần sau,” bà Hillcoate bảo. “Chắc là ý trời. Chắc có gì đó không ổn.”

“Theo như tôi nghe được thì không, không có lần sau đâu,” Reenie nói. “Bác sĩ bảo tốt hơn là chấm dứt đi, bởi thêm lần nữa bà sẽ chết chắc, mà lần này cũng suýt rồi.”

“Có nhiều đàn bà không nên lấy chồng,” bà Hillcoate nói. “Sức họ không hợp. Cần phải khỏe mạnh mới được. Mẹ tôi mười lần, mà chẳng hắt hơi sổ mũi gì hết. Tất nhiên không phải tất cả đều sống.”

“Mẹ tôi mười một,” Reenie nói. “Nó làm bà kiệt quệ.”

Tôi đã biết qua những lần tương tự rằng đây là khúc mở đầu cuộc ganh đua xem mẹ ai sống đời khó khăn hơn, và rằng chẳng mấy chốc họ sẽ nói sang chuyện giặt giũ. Tôi nắm lấy tay Laura cùng nhón nhén đi lên cầu thang phụ. Chúng tôi lo lắng, nhưng cũng tò mò nữa: chúng tôi muốn biết mẹ gặp chuyện gì, nhưng cũng muốn xem con mèo con. Nó kia rồi, nằm bên một đống ga sũng máu trên sàn hành lang ngoài phòng mẹ, trong cái chậu men. Nhưng không phải mèo con. Vật đó màu xám, như củ khoai nấu để lâu, có cái đầu quá to, mình cuộn một đống. Mắt nó nhắm nghiền, như bị ánh sáng làm cay mắt.

“Nó là cái gì thế?” Laura thì thào. “Không phải mèo con.” Nó ngồi xổm, giương mắt nhìn.

“Đi xuống thôi,” tôi bảo. Bác sĩ vẫn còn trong phòng, nghe thấy cả tiếng chân ông ta. Tôi không muốn ông ta bắt quả tang hai đứa, vì tôi biết sinh linh này là vật cấm; tôi biết đáng ra chúng tôi không được thấy nó. Nhất là Laura - thứ này, cũng như một con vật bị nghiến nát, chắc chắn sẽ làm nó thét lên, và rồi tôi sẽ bị mắng.

“Đấy là một đứa bé,” Laura nói. “Nó vẫn chưa thành.” Nó bình tĩnh lạ thường. “Tội nghiệp. Nó không muốn bị đẻ ra.”

Tới chiều muộn Reenie đưa chúng tôi vào gặp mẹ. Mẹ nằm trên giường, đầu tựa lên hai chiếc gối; đôi cánh tay gầy đặt bên ngoài chăn; mái tóc đang bạc đi đến gần trong suốt. Chiếc nhẫn cưới lóe sáng trên bàn tay trái, hai nắm tay túm chặt mảnh chăn hai bên. Miệng mẹ mím lại như đang suy tính điều gì; đây là vẻ mặt mỗi lần mẹ soạn danh sách mua đồ. Mắt mẹ nhắm. Hai đường cong mi mắt vành bên dưới, làm đôi mắt trông còn to hơn lúc mở. Kính mẹ để trên bàn đầu giường bên bình nước, từng con mắt tròn sáng lên, trống rỗng.

“Bà đang ngủ,” Reenie thì thầm. “Đừng chạm vào bà.”

Mi mắt mẹ vén lên. Miệng mẹ run rẩy; nắm tay bên phía chúng tôi mở ra. “Các cô có thể ra ôm bà,” Reenie nói, “nhưng đừng ôm mạnh quá.” Tôi làm đúng theo lời. Laura dữ dội dụi đầu vào sườn mẹ, dưới cánh tay. Phòng có mùi oải hương xanh nhạt và phẳng phiu từ vải trải giường, mùi xà phòng từ mẹ, và phảng phất mùi sắt gỉ nồng nồng, pha lẫn vị cay ngòn ngọt của lá ẩm ngún khói.

Mẹ chết sau đó năm ngày. Mẹ chết vì sốt; mà cũng vì quá yếu, vì mẹ không thể lấy lại sức lực cũ, Reenie bảo. Suốt những ngày đó bác sĩ đến rồi về, và một loạt y tá sột soạt, lạnh lùng thay nhau chiếm cứ cái ghế mềm trong phòng ngủ. Reenie tong tả chạy lên xuống cầu thang tay mang nào chậu, nào khăn, nào chén canh. Cha tới tới lui lui không yên giữa nhà máy và nhà, đến tối xuất hiện bên bàn ăn hốc hác như ăn mày. Ông đã ở đâu, cái buổi chiều không thể tìm được ra ông ấy? Chẳng ai nhắc đến.

Laura ngồi thụp trên hành lang tầng trên. Tôi được sai chơi với nó để trông nom nó, nhưng nó không muốn. Nó ngồi tay ôm lấy đầu gối, cằm đặt trên bánh chè, mặt mang vẻ trầm ngâm, bí hiểm, như đang ngậm kẹo. Chúng tôi không được phép ăn kẹo. Nhưng khi tôi buộc được nó nhả ra xem, đấy chỉ là một viên cuội tròn.

Trong tuần cuối này tôi được phép vào thăm mẹ mỗi sáng, nhưng chỉ trong vài phút. Tôi không được nói chuyện với mẹ, bởi (Reenie bảo) mẹ đang lãng đãng. Thế có nghĩa là mẹ tưởng mình đang ở nơi khác. Mỗi ngày mẹ lại rút đi một chút. Gò má mẹ nhô ra; mẹ có mùi sữa, lại thêm thứ mùi sống, thứ mùi ôi, như mùi loại giấy nâu vẫn gói thịt mua về.

Những lần vào thăm ấy tôi luôn hờn dỗi. Tôi biết mẹ ốm đến mức nào, và vì thế tôi ghét mẹ. Tôi cảm thấy mẹ đang phản bội mình - thấy mẹ đang lẩn tránh nghĩa vụ, thấy mẹ đang trốn việc. Tôi không hề nghĩ mẹ có thể sẽ chết. Tôi đã từng lo có việc đó trước đây, nhưng lúc này tôi kinh hoảng tới nỗi xua ý nghĩ đó khỏi đầu.

Vào buổi sáng cuối cùng, mà khi đó tôi không biết là buổi cuối, mẹ hình như đã là mình hơn. Mẹ yếu ớt hơn, nhưng đồng thời cũng chặt hơn - đặc hơn. Mẹ nhìn tôi cứ như mẹ có thấy tôi. “Ở đây sáng quá,” mẹ thì thầm. “Con giúp mẹ kéo rèm được không?” Tôi làm theo lời mẹ, rồi trở lại đứng bên giường mẹ, tay xoắn xoắn cái khăn Reenie đưa phòng tôi khóc. Mẹ nắm lấy tay tôi; tay mẹ nóng và khô, ngón tay như những sợi thép mềm.

“Con phải ngoan nhé,” mẹ nói. “Mẹ mong con làm chị tốt của Laura. Mẹ biết con vẫn luôn cố mà.”

Tôi gật. Tôi chẳng biết nói gì. Tôi thấy mình đang phải chịu bất công: tại sao lúc nào cũng là tôi cần phải làm chị tốt của Laura, mà không phải là ngược lại? Rõ ràng mẹ yêu Laura hơn tôi.

Có thể là không phải; có thể mẹ yêu hai đứa bằng nhau. Hoặc có thể mẹ không còn đủ lực mà yêu ai nữa: mẹ đã vượt qua cõi đó, nhập vào tầng bình lưu lạnh như băng, rời bỏ vùng từ trường ấm áp và cô đặc của tình yêu. Nhưng tôi không tưởng tượng nổi điều đó. Tình yêu mẹ dành cho chúng tôi là mặc định - rắn, hữu hình, như một cái bánh. Vấn đề chỉ là đứa nào được miếng to hơn.

(Mẹ nào ta có đều là do ta tự chế. Là bù nhìn, là hình nhân sáp để chúng ta cắm kim vào, là những sơ đồ thô thiển. Chúng ta không cho phép họ được tồn tại biệt lập, chúng ta bịa ra họ cho hợp với ta - cho con đói, cho ước muốn, cho thiếu thốn của riêng chúng ta. Giờ khi đã qua lượt mình, tôi hiểu.)

Mẹ đưa cái nhìn xanh biếc chăm chăm nhìn tôi. Chắc mẹ phải vận lực bao nhiêu mới giữ được đôi mắt mở. Chắc lúc ấy tôi xa vời vợi - một khối màu hồng xa lắc, rung rinh. Mẹ chắc phải mất công biết mấy mới tập trung thấy được tôi! Thế nhưng lúc ấy tôi chẳng hề nhận thấy sự khắc kỷ này, nếu đúng là cái đó.

Tôi chỉ muốn bảo rằng mẹ hiểu nhầm rồi, nhầm ý định của tôi. Chẳng phải tôi vẫn cố làm chị tốt của Laura - hoàn toàn ngược lại. Nhiều lúc tôi gọi Laura là của nợ và bảo nó đừng có quấy rầy tôi, vừa mới tuần trước thôi tôi bắt được nó đang liếm mép phong bì - một trong tập phong bì đặc biệt của tôi, dành riêng viết thư cảm ơn - và bảo nó keo bôi trên đó làm từ nước luộc ngựa, khiến nó nôn ọe và phun phì phì. Nhiều lúc tôi trốn nó, trong lòng bụi tử đinh hương bên nhà kính, ngồi đọc sách tay đút nút lỗ tai trong lúc nó đi khắp nơi kiếm tìm, hoài hơi gọi tên tôi. Thường tôi thoát được mà chẳng phải trả giá mấy.

Nhưng tôi chẳng tìm được lời bày tỏ, phản đối cách nhìn sự việc của mẹ tôi. Tôi không biết mình sắp phải ở lại với hình dung của mẹ về tôi; với hình dung của mẹ về nết tốt của tôi, găm vào tôi như tấm huy chương, chẳng còn cách nào gỡ ra ném trả (như thói thường sự việc giữa các bà mẹ và con gái - nếu mẹ sống tiếp, khi tôi sau này lớn lên).

Người dịch: An Lý
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Margaret Atwood

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.