Tay Sát Thủ Mù

Lượt đọc: 325 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
AVILION

❊ ❊ ❊

Xương cốt tôi lại nhức trở lại, mỗi lần trời ẩm đều như thế. Chúng nhức cứ như lịch sử: những điều đã quyết toán từ lâu, nhưng vẫn dội lại thành cơn đau. Có lúc cơn nhức lên tới mức tôi không ngủ nổi. Đêm nào tôi cũng cầu mong giấc ngủ đến, ráng sức mà ngủ; nhưng giấc ngủ vẫn phất phơ phía trước vài tấc như một tấm màn dính muội, vẫn có thể dùng thuốc ngủ, tất nhiên, nhưng bác sĩ đã cấm đụng đến.

Đêm qua, sau cơn vật vã ẩm nhớp hình như phải hàng giờ, tôi trở dậy bò không dép xuống tầng, lần đường nhờ ánh đèn đường nhợt nhạt hắt vào cửa sổ bên cầu thang. Khi đã an toàn chạm đất, tôi lê tới bếp và chúi vào sục sạo khoảng sáng lòa mờ ảo trong tủ lạnh. Không có gì thật hấp dẫn: bó cần đã nát nhoét, mẩu đuôi bánh mì lấm tấm mốc xanh, quả chanh đang nhũn. Một góc pho mát, bọc trong giấy mỡ, cứng và trắng đục như móng chân. Tôi đã mắc thói quen sinh ra trong cô độc: những bữa ăn thường vụn và tùy tiện. Lén lút ăn vặt, lén lút quà bánh và picnic. Cuối cùng tôi tạm hài lòng với chút bơ lạc, quệt thẳng trong lọ bằng ngón trỏ: tội gì phải rửa thìa?

Đứng đó một tay cầm lọ, miệng mút tay kia, tôi cảm giác hình như có ai sắp bước vào phòng - một người đàn bà lạ, người chủ giấu mặt, có thực quyền - mà hỏi tôi đang làm cái trò khỉ gì trong bếp nhà bà ta vậy. Tôi đã từng trải qua cảm giác này, rằng ngay giữa những hành vi hợp pháp thường ngày - bóc chuối, đánh răng - tôi cũng đang là kẻ chiếm chỗ.

Trong đêm càng đậm cảm giác ngôi nhà thuộc về người lạ. Tôi tha thẩn qua các phòng chính, phòng ăn, phòng khách, tay bám tường giữ thăng bằng. Đủ thứ tài sản đang dập dềnh trong những vũng đêm riêng, cách lìa khỏi tôi, chối bỏ quyền tôi sở hữu. Tôi nhìn bao quát bằng con mắt kẻ trộm, đoán định xem thứ gì đáng liều lấy đi, cái gì tôi sẽ bỏ lại. Bọn trộm sẽ lấy những thứ hiển nhiên - bộ đồ trà bạc vốn của bà nội, có thể là bộ đồ sứ vẽ tay nữa. Những chiếc sót lại trong bộ thìa khảm chữ đầu tên. Cái ti vi. Chẳng phải những thứ tôi thật muốn.

Tất cả chúng nó rồi sẽ bị soi xét rồi quăng đi bởi một người nào đó, khi nào tôi chết. Myra sẽ giành lấy việc này, tất nhiên - cô nàng nghĩ đã thừa kế tôi từ Reenie. Cô ả sẽ thích thú đóng vai người tâm phúc của gia đình. Tôi không lấy đó làm ganh tị: mỗi cuộc đời đã là một bãi phế thải ngay từ khi còn đang diễn ra quá trình sống, và càng tệ hơn sau quá trình đó. Nhưng dù là bãi phế thải, thì cũng nhỏ đến bất thường: ai đã trải qua việc dọn dẹp khi người khác chết, sẽ hiểu tới lượt mình chắc chỉ đầy dăm bảy cái túi rác xanh.

Cái kẹp hạt dẻ hình con cá sấu, hột khuy măng sét xà cừ lẻ bạn, cái lược mai rùa nhiều răng đã gãy. Chiếc bật lửa bạc hỏng, cái chén đã mất đĩa, giá lọ gia vị thiếu lọ dấm. Những mảnh xương vương vãi của tổ ấm, những đồ giẻ rách, những di vật. Ván tàu đắm sóng dạt lên bờ.

Hôm nay Myra thuyết phục tôi mua quạt điện - một cây quạt có chân cao, khá hơn nhiều em bé kẽo kẹt vẫn xoa dịu tôi trước giờ. Món đồ hợp ý cô đang giảm giá tại siêu thị mới mở đầu kia cầu sông Jogues. Cô sẽ đưa tôi đi: đằng nào cô cũng định đến đó, nên chẳng phiền gì đâu. Cái lối bịa ra lý do của cô thật khéo dội nước lạnh.

Xe chúng tôi đi ngang qua Avilion, hoặc nơi trước kia từng là Avilion và giờ đây đã đổi khác đến mức đáng buồn. Valhalla là tên nó bây giờ. Con khỉ đần ngồi phòng giấy nào đã nghĩ tên này hợp với một nhà dưỡng lão? Theo như tôi nhớ, người ta tới Valhalla là sau khi chết, chứ không phải ngay trước khi chết. Nhưng có lẽ có ẩn ý gì đây.

Vị trí thật đắc địa - bờ Đông sông Louveteau, chính điểm hợp lưu với sông Jogues - từ đó vừa ngắm Hẻm Louveteau nên thơ vừa có bến neo an toàn cho thuyền buồm. Tòa nhà rất lớn nhưng giờ trông như bị bủa vây, bị huých dạt ra lề bởi những nhà gỗ bấy bớt mọc lên như nấm sau chiến tranh. Có ba bà già ngồi trên hiên trước, một người ngồi xe lăn, lén lút đốt thuốc, như đám trẻ mới lớn ngỗ nghịch trong buồng vệ sinh. Rồi có ngày họ sẽ đốt cháy rụi nơi này cho mà xem.

Tôi chưa bước vào Avilion kể từ khi nó đổi chức năng; giờ hẳn là bên trong bốc mùi phấn trẻ em cùng nước tiểu khắm và khoai tây đun cả ngày chưa ăn hết. Cứ để tôi nhớ về nó như lúc trước, kể cả như lúc tôi biết nó cũng được, khi vẻ xác xơ vừa chớm tới định cư - những hành lang thênh thang mát rượi, căn bếp rộng bóng loáng, bát sứ Sèvres đựng đầy cánh hoa khô đặt trên cái bàn tròn nhỏ gỗ anh đào trong sảnh chính. Tầng trên, trong phòng Laura, bệ lò sưởi có một chỗ mẻ, khi nó đánh rơi cái vỉ lò - một động tác điển hình. Tôi là người duy nhất còn biết thế, ngày nay. Nhìn dáng vẻ đó - làn da mở đóng, hình dong mềm mại, cần cổ vũ nữ ba lê - người ta quen nghĩ nó phải cực kỳ yểu điệu.

Avilion không cất từ đá vôi như các nhà khác. Những người thiết kế muốn có một sản phẩm lạ thường, thế nên nó được xây từ sỏi tròn dưới lòng sông, đổ xi măng thành tảng. Từ xa nhìn lại trông như nổi mẩn, như da khủng long hay giếng thần trong sách tranh. Lăng tẩm chôn tham vọng, giờ tôi nghĩ về nó thế.

Đấy không phải một ngôi nhà đặc biệt thanh nhã xinh đẹp, nhưng ngày xưa đã từng được coi là oai vệ theo cách riêng - cung điện của một nhà buôn, có đường lái xe uốn lượn dẫn vào, một tháp kiểu Gô tích bè bè trên đỉnh, và hàng hiên rộng hình bán nguyệt nhìn bao quát cả hai con sông, nơi các quý bà đội mũ hoa rộng vành nhấm nháp trà trong những chiều hè oi bức năm chuyển mình giữa hai thế kỷ. Những ban tứ tấu đàn dây từng biểu diễn ở đó trong các buổi tiệc trà; bà tôi cùng với bạn bè dùng đây làm sân khấu, diễn kịch nghiệp dư, lúc hoàng hôn, bốn bề đèn thắp; Laura và tôi thường trốn bên dưới đó. Nó đã trũng xuống rồi, hàng hiên ấy; nó cần sơn lại rồi.

Ngày xưa có cả một vọng lâu, một vườn rau rào kín, vài khoảnh cây làm cảnh, một hồ súng thả cá vàng, và một nhà kính sưởi bằng hơi nước giờ đã bị phá, trồng dương xỉ và hoa lồng đèn, thi thoảng có những cây chanh hay cam đắng mảnh khảnh. Có cả phòng đánh bi a, phòng khách chiều và phòng khách sáng, thư viện với tượng Medusa hoa cương trên bệ lò sưởi - Medusa theo kiểu thế kỷ mười chín, ánh nhìn đáng yêu bất khả xâm phạm, lũ rắn ngoằn ngoèo nhỏng khỏi đầu như những ý nghĩ cuồng thống. Cái bệ lò sưởi là của Pháp: vốn người ta đặt mua cái khác, có Dionysus giữa những dây nho, nhưng thay vào đó Medusa đến gõ cửa, và vì từ đây gửi trả về Pháp thì quá là xa nên cái này được đem dùng.

Còn có một phòng ăn thênh thang mờ tối dán tường bằng giấy William Morris, mẫu “kẻ trộm dâu”, ngọn đèn chùm chạm hoa súng đồng quấn quýt, ba cửa sổ cao bằng kính màu, chuyển đường thủy từ Anh về, tả các cảnh lấy từ sự tích Tristan - Iseult (cảnh trao tình dược, trong chén đỏ như hồng ngọc; đôi tình nhân, Tristan quỳ một gối, Iseult cúi mình bên trên, mái tóc vàng đổ xuống như thác - chất liệu kính không hợp lắm, trông hơi giống cây chổi tan chảy; Iseult một mình, ai oán, quấn trong lượt là màu tía, bên mình có cây đàn hạc).

Việc thiết kế và trang trí ngôi nhà do bà nội Adelia đảm trách. Bà mất khi tôi chưa kịp ra đời, nhưng cứ như tôi nghe kể bà là một người êm như ru và lạnh như băng, nhưng ý chí sắc như dao cau. Thêm nữa bà chuộng Văn hóa, điều này đem lại cho bà chút ít thẩm quyền về đạo đức. Bây giờ thì chắc là không, nhưng thời đó, người ta vẫn tin rằng Văn hóa có thể đem lại điều tốt - làm nên con người tốt. Người ta tin rằng nó làm con người thêm cao thượng, hoặc ít ra đám đàn bà tin. Họ còn chưa thấy Hitler ở nhà hát nhạc kịch.

Họ thời con gái của Adelia là Montfort. Bà thuộc một gia tộc bề thế, hoặc ít ra là cái tương đương với một gia tộc bề thế ở Canada: người Anh Montreal thế hệ thứ hai, lai với người Pháp Huguenot. Nhà Montfort đã từng thịnh vượng một thời - họ vớ bẫm nhờ kinh doanh đường sắt - nhưng vài màn đầu cơ hấp tấp cộng với thói ì trệ đã đẩy họ tụt xuống được nửa chừng con dốc. Thế nên khi thời gian dành cho Adelia đã gần cạn mà xung quanh không thấy có triển vọng đáng kể nào về một gã chồng ra hồn, bà đã kết hôn vì tiền - tiền thô, tiền làm cúc. Nhiệm vụ của bà là phải tinh luyện thứ tiền ấy, như luyện dầu.

(Không phải bà được gả, mà là gả bán, Reenie bảo, tay đẩy chày cán bánh quy gừng. Gia đình họ đã sắp đặt hết. Thế là thường trong những gia đình kiểu đó, và ai mà biết như thế hơn hay kém việc tự chọn lấy ở chỗ nào? Đằng nào thì, Adelia Montfort cũng thực hiện bổn phận của mình, và còn may mà có chỗ, bởi tới lúc đó bà cũng quá lứa lỡ thì đến nơi rồi - bà chắc đã phải hai mươi ba, tức là coi như quá đát vào cái thời ấy.)

Tôi vẫn còn một bức chân dung hai ông bà; tấm ảnh lồng trong khung bạc, họa tiết hoa bìm bìm quấn quanh, chụp ngay ít lâu sau đám cưới. Hậu cảnh có tấm rèm nhung diềm và hai cây dương xỉ đặt trên đôn. Bà nội Adelia ngả mình trên ghế dài; một người đàn bà quý tướng, mi trĩu, vận lớp lớp áo xống kèm chuỗi ngọc trai đôi dài và cổ áo xẻ rất sâu viền ren, đôi cánh tay trắng ẻo lá, như gà rút xương. Ông nội Benjamin ngồi đằng sau trong bộ cánh chỉnh chện, vững chãi nhưng ngượng nghịu, cứ như đã được tân trang riêng cho dịp này. Cả hai đều thẳng đơ như bó coóc xê.

Khi đến tuổi mơ mộng - mười ba, mười bốn - tôi thường lãng mạn hóa Adelia. Tôi hay nhìn ra cửa sổ ban đêm, ngắm thảm cỏ và những luống cây cảnh được trăng dát bạc, mà thấy bà u sầu lướt trên mặt đất trong tấm áo dài trắng có ren mặc dự tiệc trà. Tôi gán cho bà một nụ cười uể oải, sỏi đời, có chút khinh ngạo. Được ít lâu tôi bổ sung một người tình. Tôi cho bà hẹn người ấy bên ngoài nhà kính, tới lúc đó đã bị bỏ mặc - cha tôi không hứng thú gì cam sưởi bằng hơi nước - nhưng tôi phục hiện lại nó trong óc, và thả vào đó bao nhiêu thứ hoa nhiệt đới. Hoa lan này, tôi nghĩ, hay hoa trà cũng được. (Tôi không biết hoa trà là thứ hoa gì, nhưng đã đọc thấy trong sách.) Bà tôi sẽ nắm tay người tình biến vào trong đó, rồi làm những gì? Cái này tôi không rõ.

Trong thực tế, xác suất Adelia có một người tình là zero. Thị trấn quá nhỏ, đầu óc quá hẹp hòi, bà ở một vị trí quá cao không muốn ngã đau. Bà không đần. Thêm nữa bà cũng không có tiền riêng.

Là nữ chủ nhân, là người điều hành nội chính, Adelia khá tử tế với Benjamin Chase. Bà lấy làm kiêu hãnh với gu thẩm mỹ của mình, và ông nội thuận theo bà về mặt đó, bởi khiếu thẩm mỹ cũng nằm trong những nguyên nhân khiến ông cưới bà. Lúc đó ông đã bốn mươi; ông đã cật lực xây dựng gia tài, và giờ ông quyết chí có được giá trị xứng với số tài sản ấy, cụ thể là để cho người vợ mới cưới chỉ đạo về phục trang hằng ngày và bức hiếp về nề nếp giờ ăn. Bản thân ông theo cách của mình cũng cần Văn hóa, hoặc ít nhất là bằng chứng sờ nắn được về Văn hóa. Ông muốn món đồ sứ xịn.

Thì ông đã có, cùng những bữa tối mười hai món đi kèm: mở đầu bằng cần tây và quả hạch muối, kết thúc bằng sô cô la. Canh thịt hầm, chả lăn bột, bánh timbale, món cá, món nướng, món phô mai, hoa quả, nho trồng nhà kính đổ tràn qua mép khay thủy tinh chạm trổ. Những món ăn của khách sạn đường sắt, giờ tôi nghĩ vậy; của tàu du lịch viễn dương. Các thủ tướng ghé thăm Cảng Ticonderoga - vào lúc ấy thị trấn đã có vài nhà sản xuất tiếng tăm, các chính đảng muốn tranh thủ sự ủng hộ quý báu - đều chọn Avilion nghỉ lại. Ảnh chụp ông nội Benjamin với lần lượt ba thủ tướng được lồng khung vàng treo trong thư viện - Sir John Sparrow Thompson, Sir Mackenzie Bowell, Sir Charles Tupper. Chắc hẳn các bữa ăn là thứ họ ưa hơn hết ở đây.

Nhiệm vụ của Adelia lúc ấy là thiết kế rồi sắp đặt những bữa tiệc tối, rồi tránh khỏi bị nhìn thấy đang ngấu nghiến. Thói tục quy định rằng giữa khách mời bà chỉ được nhỏ nhẻ từng miếng: nhai và nuốt là những hành vi quá ư thú tính. Tôi đồ rằng bà có gọi khay riêng lên phòng mình, khi hết bữa. Rồi sai năm quân.

Avilion hoàn thành năm 1889, được chính Adelia ban tên. Tên ấy lấy từ thơ Tennyson:

Thung-lũng Avilion giữa đảo;

Mưa bão tuyết giông chẳng gợn bao giờ,

Và tiếng gió cũng thì-thầm khe-khẽ,

Lũng bóng cây chìm giữa vạt đồng mơ,

Vườn cây trái tươi non ríu-rít,

Biển vây quanh xanh ngắt bốn mùa hè…

Đoạn thơ này bà cho in cánh trái trong ruột thiếp Giáng sinh. (Tennyson đã hơi lỗi thời rồi, theo chuẩn ở Anh - thời đó đang làm mưa làm gió là Oscar Wilde, ít ra trong tốp trẻ - nhưng đằng nào, ở Cảng Ticonderoga cái gì mà chẳng hơi lỗi thời.)

Mọi người - trong thị trấn - ắt hẳn đã cười nhạo bà vì đoạn thơ này: ngay cả những kẻ có tham vọng chen chân vào chốn giao tế cũng gọi kháy bà là Nương nương hay Công tước phu nhân, dù họ sẽ bất bình lắm lắm nếu bị gạt ra ngoài danh sách khách mời. Còn về tấm thiếp Giáng sinh ắt họ đã bảo, Chà, về chuyện mưa bão tuyết giông thì bà ta không gặp may rồi. Có lẽ bà ta nên có nhời với Chúa. Hoặc có thể, trong các nhà máy: Chúng mày từng thấy lũng bóng mát nào chưa, trừ ở dưới ngực áo bà chủ? Tôi có biết phong cách của họ và không tin nó đã đổi nhiều từ trước đến giờ.

Adelia quả có muốn làm màu bằng tấm thiếp Giáng sinh, nhưng tôi nghĩ rằng không chỉ thế. Avilion là nơi vua Arthur tìm đến trước khi chết. Hẳn nhiên việc chọn tên này cho thấy bà nghĩ cảnh lưu đày của mình tuyệt vọng đến mức nào: bà có thể, chỉ nhờ sức mạnh ý chí, hóa phép ra một bản sao nhợt nhạt của hòn đảo thiên đường, nhưng vẫn không bao giờ là đồ thật. Bà muốn có phòng khách thính; bà muốn những dân tài tử, thi sĩ, nhạc sĩ, khoa học gia vân vân tụ tập, như đã chứng kiến hồi đi thăm bà con xa ở Anh, thời gia đình còn sung túc. Một cuộc sống vàng, giữa những thảm cỏ rộng.

Nhưng loại người đó không tồn tại ở Cảng Ticonderoga, còn Benjamin thì không chịu đi xa. Ông phải ở bên nhà máy của mình, ông bảo thế. Có lẽ đúng hơn là ông không muốn bị lôi vào giữa đám người sẽ cười khẩy vào gã làm cúc áo là ông, vào nơi những món dao nĩa lạ lùng phục sẵn, vào nơi Adelia sẽ hổ thẹn vì ông.

Adelia không chịu đi một mình mà không có ông, đến châu Âu hay nơi nào khác. Cám dỗ hẳn là quá lớn - ra đi mà không quay lại. Trôi dạt đi, trút rỗng túi tiền chút một như quả khí cầu thoát hơi, làm mồi cho đám vô lại hay những tên lưu manh dẻo miệng, chìm mỗi lúc một sâu vào cấm kỵ. Có cái cổ áo như thế, bà hẳn là dễ xiêu lòng.

Bên cạnh nhiều mối quan tâm khác, Adelia tìm vui trong điêu khắc, vẫn còn hai con nhân sư đá canh hai bên nhà kính - Laura với tôi hay trèo lên lưng - và một gã dương thần tí tửng dòm ra từ sau ghế đá, đôi tai nhọn hoắt, chiếc lá nho khổng lồ quấn quanh chỗ kín như phù hiệu; còn có tiên nữ ngồi bên ao súng, một cô bé khiêm nhường có đôi vú chũm cau và bím tóc hoa cương vắt qua vai, một chân e dè nhúng xuống nước. Chị em tôi thường ngồi cạnh cô nhỏ ăn táo, nhìn lũ cá vàng nhấm ngón chân cô.

(Những món tượng này nghe nói là “hàng thật”, nhưng thật thế nào? Và làm sao mà Adelia có được chúng? Tôi ngờ rằng có một dây chuyền trộm đạo ở đây - một gã mồi chài mờ ám nào đó ở cựu lục địa vớ được chúng chỉ mất một bài ca, bịa ra một cái nguyên quán, lừa đảo đường dài tống cho Adelia và ẵm khoản chênh lệch, sau khi phán đoán chính xác rằng một bà người Mỹ giàu có - như hắn ta hẳn sẽ xếp bà vào loại đó - sẽ không đời nào vỡ lẽ ra.)

Cũng chính Adelia vẽ mẫu tượng đài dòng họ ở nghĩa trang, cùng hai thiên thần trên đó. Bà còn muốn ông tôi đào mả tổ tiên chuyển về đây, tạo cảm tưởng một triều đại trường cửu, nhưng ông chưa bao giờ bắt tay làm được. Rốt cuộc chính bà lại là người đầu tiên nằm xuống đó.

Không biết ông nội Benjamin có thở phào nhẹ nhõm không, khi Adelia chết? Có thể ông đã mòn mỏi vì biết cả đời mình cũng không thỏa mãn thước đo khắc nghiệt của bà, dù rõ rệt là ông sùng bái bà đến gần như khiếp đảm. Một bằng chứng là ở Avilion không có gì thay đổi: không một bức tranh dời chỗ, không một món đồ gỗ thay đi. Có thể ông coi ngôi nhà chính là tượng đài đích thực về bà.

Vì thế Laura cùng tôi được bà dạy dỗ nên người. Chúng tôi lớn lên trong ngôi nhà của bà; nói cách khác, trong ý niệm của bà về bản thân mình. Cũng là ý niệm của bà về chúng tôi như lẽ ra phải thế, mà không được thế. Vì bà đã chết rồi, chúng tôi chẳng tài nào cãi lại.

Cha tôi là con cả trong số ba anh em trai, mỗi người một cái tên rất kêu theo sở nguyện của Adelia: Norval và Edgar và Percival, phục hưng thời đại Arthur kèm thêm âm hưởng Wagner. Tôi nghĩ họ nên mừng đã không bị đặt tên là Uther hay Sigmund hay Ulric. Ông nội Benjamin mê mẩn ba đứa con trai, và muốn chúng theo học ngành buôn cúc, nhưng Adelia có những dự định cao sang hơn. Bà đóng gói cả ba gửi đến trường Trinity College ở Port Hope, nơi Benjamin cùng máy móc của ông không thể lây cái thô tục sang người chúng. Bà trọng thị tài sản của Benjamin khi đem vào sử dụng, nhưng muốn phủ vải điều che đi nguồn gốc tài sản đó.

Ba người con trai đến hè lại về nhà. Ở trường nội trú và rồi trường đại học, chúng đã học được cách khinh thường bỗ bã ông bố của mình, vì ông không đọc nổi tiếng La tinh, dù trúc trắc như chúng đọc. Chúng liên hồi nói về những người ông không biết, hát những bài ông chưa từng nghe, đùa những câu ông không hiểu. Đêm đêm chúng giương buồm chiếc du thuyền nhỏ của ông, Thủy Nữ Tinh, tên do Adelia đặt - cũng nằm trong thẩm mỹ Gô tích ẩm ương của bà. Chúng sẽ gẩy đàn mandolin (Edgar) hay banjo (Percival), lén lút nốc bia, làm rối tung dây chão rồi quẳng đấy mặc ông xử trí. Chúng sẽ lấy một trong hai cái xe mới của ông chạy vi vu, cho dù suốt một nửa năm đường quanh thị trấn khá tồi - tuyết, rồi bùn, rồi bụi - đến nỗi cũng chẳng còn mấy đường mà đi cả. Lại còn nghe đồn đại về những cô ả phóng đãng, ít nhất là với hai cậu em, và về những khoản tiền trao tay - mà có dúi một ít cho các cô nương ấy để các nàng tự xử thì cũng là cử chỉ đúng đắn thôi, vì ai mà muốn một bầy hài nhi vô thừa nhận mang dòng máu Chase bò khắp vùng cơ chứ? - nhưng các cô gái đó không phải người thị trấn, nên không ai phàn nàn gì về mấy cậu thanh niên; ngược lại là khác, ít nhất trong đám đàn ông. Người ta có cười nhạo họ chút đỉnh, nhưng không quá nhiều; ý kiến chung là họ tin cậy được, lại có phong cách dân dã. Edgar và Percival được gọi tắt là Eddie và Percy, dù cha tôi, bẽn lẽn hơn và tự trọng hơn, lúc nào cũng là Norval. Đó là những cậu chàng xinh xẻo, hơi phóng túng, nhưng con trai cậu nào chẳng thế. Mà “phóng túng” chính xác nghĩa là gì?

“Họ là bọn đểu,” Reenie bảo tôi, “nhưng không phải là phường vô lại.”

“Khác nhau chỗ nào?” tôi hỏi.

Chị thở dài. “Tôi chỉ mong cô không bao giờ hiểu ra,” chị nói.

Adelia chết năm 1913, do ung thư - một chủng không được nêu tên nên gần như chắc chắn là bệnh phụ nữ. Vào tháng cuối cùng, mẹ Reenie được đưa về phụ việc trong bếp, mang theo Reenie; lúc đó chị mười ba tuổi, và chuyện này đã khiến chị nhớ suốt đời. “Cơn đau dữ đến mức người ta phải tiêm moóc phin cho bà, bốn giờ một lần, có y tá trực suốt ngày đêm. Nhưng bà không chịu nằm yên trên giường, bà ngậm bồ hòn làm ngọt, lúc nào cũng trở dậy và ăn bận đẹp như thường lệ, dù nhìn cũng thấy hồn vía bà đã lạc mất đâu rồi. Tôi thường thấy bà đi khắp khu nhà, áo váy màu nhạt và mũ rộng vành che mạng. Bà có tư thế tuyệt đẹp và nghị lực hơn phần lớn đàn ông, thật thế. Cuối cùng họ phải trói bà vào giường, chỉ vì muốn tốt cho bà. Ông nội cô lòng dạ tan nát, ai cũng thấy ông xẹp đi hẳn.” Khi tôi lớn lên và ngày càng khó gây ấn tượng, Reenie thêm thắt vào câu chuyện những tiếng thét kìm nén, tiếng rên la hay lời thề bên giường chết, cho dù tôi không dám chắc chị làm thế để làm gì. Chị muốn bảo cả tôi cũng cần trưng bày khí phách như thế - cũng phải coi thường đau đớn, phải ngậm bồ hòn như thế - hay chỉ đơn giản là chị khoái chí trước những chi tiết khốn khổ? Cả hai, chắc hẳn.

Khi Adelia mất, ba đứa con trai đã gần trưởng thành. Chúng có nhớ mẹ không, có thương khóc bà hay không? Tất nhiên là có. Làm sao chúng không biết ơn bà đã tận tụy vì mình? Tuy nhiên, bà cũng đã siết chặt lấy chúng, hay ít ra là chặt tới mức bà còn giữ được. Chắc cũng phải có chút ít xả giàn sau khi bà đã được chôn cất đàng hoàng tử tế.

Ba đứa con không đứa nào muốn tiếp tục sự nghiệp làm cúc; chúng đã thừa hưởng từ mẹ thói khinh thường nó, dù không thừa hưởng được tính thực tế của bà. Chúng biết tiền không từ trên trời rơi xuống, nhưng cũng chẳng có mấy ý tưởng sáng láng là nó rơi xuống từ đâu. Norval - cha tôi - dự kiến theo đuổi nghề luật và sau rốt sẽ tham gia chính sự, bởi ông ôm ấp nhiều kế hoạch cải tổ nước nhà. Hai người em muốn chu du: một khi Percy tốt nghiệp đại học, họ sẽ bắt đầu một chuyến thám hiểm tới Nam Mỹ, thăm dò xem đâu có vàng. Con đường rộng mở đang vẫy gọi.

Vậy thì ai sẽ gánh lấy nền sản xuất nhà Chase? Chẳng lẽ công ty Chase và Con trai sẽ không bao giờ có? Nếu thế, Benjamin đổ mồ hôi máu ra để mà làm gì? Cho tới lúc đó ông đã thuyết phục bản thân rằng ông còn một nguyên do khác, không chỉ là tham vọng cá nhân, khao khát cá nhân - còn một mục tiêu cao quý. Ông đã gây dựng một di sản, ông muốn truyền lại, từ đời này qua đời khác.

Chắc đã có những ám chỉ đầy trách móc trong không chỉ một cuộc bàn bạc, quanh bàn ăn tối, bên cốc vang porto. Nhưng đám trẻ vẫn khăng khăng lì lợm. Không thể ép một cậu thanh niên hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp sản xuất cúc nếu cậu ta không muốn. Chúng không định làm phật ý cha mình, không chủ tâm, nhưng mặt khác chúng cũng không muốn hứng lấy gánh trần tục sẽ làm vai chúng oằn xuống và chai mỏi.

Người dịch: An Lý
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Margaret Atwood

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.