Tay Sát Thủ Mù

Lượt đọc: 257 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
THỦY NỮ TINH

❊ ❊ ❊

Sáng nay tôi ngủ vùi, mệt lử sau cả đêm lãng đãng trong hắc ám. Chân tôi sưng vù lên, cứ như đã cuốc bộ đường dài trên nền đất cứng; đầu tôi ẩm thấp và rỗ như pho mát. Phải đợi Myra gõ vào cửa mới khiến tôi thức dậy. “Dậy chào ngày mới nào,” cô ả rền lên qua khe bỏ thư. Thói tai quái xui tôi không đáp. Có thể cô ả sẽ nghĩ tôi chết rồi - ngoẻo giữa cơn ngủ! Hẳn nhiên cô ả đã vội quýnh lên nghĩ xem nên lấy bộ đồ hoa nào mặc cho tôi nằm ra, và đã tính toán các món cho buổi chiêu đãi hậu tang. Sẽ không có lễ thức canh đâu, không có trò mọi rợ kiểu ấy. Lễ thức canh là để thức, bởi tốt nhất nên kiểm tra cho chắc người chết đã chết thật trước khi bị ta hất vài xẻng đất lên mình.

Tôi mỉm cười khi nghĩ đến đó. Rồi tôi nhớ ra Myra có chìa. Tôi ngẫm nghĩ có nên kéo ga giường trùm mặt để ít nhất cũng khiến cô ả kinh hoàng một phút chơi, nhưng rồi quyết định thôi. Tôi bẩy cho người dựng dậy và xoay khỏi giường, rồi trùm áo choàng ở nhà mặc vào.

“Ở đâu cứ yên đấy,” tôi gọi với xuống thang.

Nhưng Myra đã vào đến nơi, và bên cạnh là bà nào đó: bà quét dọn. Đấy là một sinh vật bệ vệ dáng dấp Bồ Đào Nha: không phải loại tôi chống chọi được. Bà ta lao ngay vào việc, trong tay là máy hút bụi của Myra - họ đã chuẩn bị hết nhẽ - trong lúc tôi theo hút sau như nữ thần báo tử, miệng gào rú, Đừng đụng vào! Để yên đấy! Cái đó tôi tự! Giờ thì tôi biết cái gì ở đâu cơ chứ! Ít nhất tôi cũng vào đến bếp trước họ, có đủ thời gian nhét chồng giấy đầy chữ vào trong lò. Ít có khả năng nó bị họ động đến ngay ngày chùi rửa đầu tiên. Dù sao lò cũng chẳng bẩn lắm, cả đời tôi không nướng gì bao giờ.

“Đấy,” Myra nói, khi bà quét dọn đã xong việc. “Sạch sẽ gọn gàng không nào. Bà có thấy dễ chịu hơn không?”

Cô ả mang cho tôi một món đồ chơi mới toanh ở Nhà Bánh Gừng - một bộ tự trồng nghệ tây màu ngọc lục bảo, chỉ hơi mẻ tí thôi, hình đầu một cô bé con nhoe nhoẻn cười. Nghệ tây sẽ mọc xuyên qua các lỗ trên đỉnh rồi nở xòe thành một vầng hào quang hoa, nguyên văn lời cô. Tôi chỉ có mỗi việc là tưới nước, Myra nói, và chẳng mấy chốc nó sẽ xinh xẻo như con chèo bẻo.

Chúa hành động huyền bí khôn lường, ban phép nhiệm mầu trên cõi thế, Reenie vẫn thường nói thế. Liệu có phải Myra là thiên thần hộ mệnh dành sẵn cho tôi? Hay ngược lại cô ả cho tôi nếm trước mùi Luyện ngục? Và làm thế nào phân biệt hai đằng?

Ngày thứ hai ở Avilion, Laura và tôi qua thăm Reenie. Chẳng khó tìm ra nhà chị bây giờ: trong thị trấn người nào cũng biết. Hoặc ít ra những người ở Quán điểm tâm Betty đều biết, bởi bây giờ chị làm việc ở đây, tuần ba ngày. Chúng tôi không nói cho Richard và Winifred biết mình đi đâu, vì cần gì phải tăng thêm không khí ức chế quanh bàn ăn mỗi sáng? Chúng tôi không thể bị cấm ra mặt, nhưng thế nào cũng rước thêm một lượng khinh miệt ngấm ngầm đến khó chịu.

Chúng tôi mang theo con gấu bông tôi mua cho em bé của Reenie, ở trung tâm thương mại Simpsons tại Toronto. Không phải thứ gấu bông mềm mại đáng yêu cho lắm - nó nhồi chặt đến cứng và mặt mũi nghiêm trọng. Trông như một nhân viên công vụ cấp thấp, hoặc là nhân viên công vụ cái thời đó. Tôi không biết thời này trông họ thế nào. Nhiều khả năng mặc đồ bò chăng.

Reenie cùng chồng sống ở khu nhà liên kế nhỏ bằng đá vôi vốn xây cho công nhân nhà máy - hai tầng, mái nhọn, nhà tiêu cuối dải vườn hẹp - không quá xa nơi tôi đang sống bây giờ. Nhà không có điện thoại, nên chúng tôi không thể báo trước cho Reenie chuẩn bị tinh thần đón mình. Khi mở cửa thấy chúng tôi đứng đó, chị cười rõ tươi, rồi òa lên khóc. Sau một lúc, Laura cũng khóc theo. Tôi đứng ôm con gấu bông, cảm thấy lạc lõng vì không khóc cùng.

“Chúa phù hộ các cô,” Reenie nói với cả hai. “Vào đây xem em bé đi.”

Chúng tôi theo hành lang lót vải sơn vào bếp. Reenie đã sơn tường trắng và lắp thêm rèm cửa màu vàng, giống như rèm ở Avilion. Tôi để ý thấy bộ hũ đồ khô, cũng trắng, tô chữ màu vàng: Bột, Đường, Cà phê, Trà. Khỏi phải nói cũng biết Reenie tự tay trang trí. Bộ hũ, rèm cửa, bất cứ thứ gì chị có thể tân trang nổi. Chị đang cố xoay xở tốt nhất trong hoàn cảnh hiện tại.

Đứa nhóc - là cô đấy, Myra, giờ cô đã tham gia vào câu chuyện - đang nằm trong giỏ liễu đan đựng đồ giặt, nhìn trân chúng tôi bằng cặp mắt tròn không chớp còn xanh hơn cả mắt trẻ con bình thường. Tôi phải nói trông nó giống cái bánh mỡ thận, nhưng thôi trẻ con nào cũng thế.

Reenie một mực đòi pha trà mời chúng tôi. Giờ chúng tôi là những quý cô trẻ tuổi rồi, chị nói; chúng tôi có thể uống trà đàng hoàng, chứ không phải sữa có rỏ một tí trà, như dạo trước. Chị đã lên cân; mặt dưới hai cánh tay chị, lúc trước cứng cáp khỏe mạnh là thế, giờ đã hơi nhão, và khi đi đến bên lò dáng chị gần như lạch bạch. Bàn tay chị phì ra, các khớp ngón có lõm.

“Ăn cho hai người rồi sau quên ngưng lại,” chị nói. “Thấy nhẫn cưới của tôi không? Giờ mà không cắt thì chịu không tháo ra nổi. Người ta sẽ phải chôn nó với tôi.” Chị nói câu đó có đôi chút tự mãn. Rồi đứa bé bắt đầu ọ ẹ, và Reenie bế nó lên cho ngồi trên đầu gối chị, nhìn chúng tôi bên kia bàn gần như thách thức. Cái bàn (trơn, chật chội, trải khăn vải dầu in hoa uất kim hương vàng) như một miệng vực thăm thẳm - bên này là hai chúng tôi, bên kia, xa vời vợi, Reenie ôm đứa con, không hề hối tiếc.

Hối tiếc điều gì? Hối tiếc rằng chị đã từ bỏ chúng tôi. Hoặc ít ra là tôi cảm thấy thế.

Có gì đó ngượng ngập trong thái độ của Reenie, không phải với đứa bé mà với chúng tôi khi nói về nó - gần như là bị chúng tôi bắt quả tang. Từ đó tôi đã nhiều lần băn khoăn - và Myra, cô phải thứ lỗi cho tôi đã nói ra, nhưng thực tình cái này không để cho cô đọc mới phải, mà tò mò thì lãnh hậu quả cũng đáng đời - băn khoăn có khi nào cha của đứa nhỏ này chẳng phải là Ron Hincks, mà chính là cha tôi. Bên cạnh là Reenie, người làm duy nhất còn ở lại Avilion, sau khi tôi đã đi hưởng tuần trăng mật, và khắp bốn bề quanh cha thế giới đang vỡ vụn. Chẳng lẽ chị không lấy thân mình sưởi ấm cho cha thay lửa trong lò, cùng một thái độ như khi bưng cho ông chén xúp nóng hay bình chườm ấm? Như sự vỗ về, chống lại bóng tối và giá lạnh.

Nếu đúng vậy, Myra ạ, cô là em gái của tôi. Hoặc em cùng cha khác mẹ của tôi. Dù chúng ta sẽ không bao giờ biết, hoặc tôi không bao giờ biết. Tôi nghĩ cô cũng có thể cho quật mồ tôi, lấy một món tóc hay mẩu xương hay cái quái gì đó, gửi cho người ta phân tích. Nhưng tôi không tin cô sẽ mạnh tay đến thế. Chứng cứ duy nhất còn lại sẽ là Sabrina - hai cô có thể gặp nhau, so sánh các mảnh của nhau. Nhưng muốn điều đó xảy ra, thì Sabrina phải quay về, mà chỉ có Chúa biết liệu có bao giờ nó quay về. Nó có thể đang ở bất kỳ đâu. Nó có thể chết rồi. Nó có thể đang nằm dưới đáy biển.

Tôi không biết Laura có biết gì về Reenie và cha không, nếu quả thật có gì cần biết. Tôi không biết điều đó có nằm trong rất nhiều điều nó biết, nhưng không bao giờ nói ra. Chuyện đó cũng hoàn toàn có thể.

Những ngày ở Avilion trôi qua không mau. Vẫn còn quá nóng, vẫn còn quá ẩm. Mực nước trong hai dòng sông vẫn thấp: ngay cả các đoạn ghềnh dòng Louveteau cũng lừ đừ, còn sông Jogues bốc mùi khó chịu.

Tôi ngồi lì trong nhà gần hết ngày, chúi trong ghế lưng bọc da trong thư viện của ông nội, chân vắt qua thành ghế. Lớp ruồi chết mùa đông năm ngoái vẫn còn đóng bệ cửa sổ: thư viện không phải là nơi Murgatroyd vợ ưu tiên hàng đầu. Chân dung bà nội Adelia còn ngự trên cao.

Các buổi chiều tôi ôm những cuốn an bom của bà, đọc những mẩu báo cắt đưa tin tiệc trà và người Hội Fabian được mời thuyết giảng, các nhà thám hiểm bật phim đèn chiếu kể chuyện thói tục kỳ quái của thổ dân. Không hiểu sao có ai lại nghĩ họ trang trí sọ tổ tiên là chuyện lạ lùng, tôi nghĩ. Chúng ta cũng làm vậy.

Hoặc tôi lật giở những tạp chí giao tế cũ, nhớ ngày xưa mình từng ghen tức những nhân vật được kể tên; hoặc tôi lục lạo mấy cuốn sách thơ, những trang mép vàng mỏng như lụa. Những bài thơ từng hớp hồn tôi dưới thời cô Hung Dữ thì bây giờ có vẻ quá đà và bệnh hoạn. Hỡi ơi, vướng lụy, nương tử, sầu tư, suối lệ - thứ ngôn ngữ cổ giả của tình đơn phương. Tôi phát bực khi đọc chữ nghĩa kiểu đó, chúng khiến các tình nhân bất hạnh - như giờ tôi thấy - thành ra hơi lố bịch, cũng như bản thân cô Hung Dữ sầu bi tội nghiệp. Mềm oặt, nhòe nhoẹt, sụng nước, như cái bánh rơi vào nước. Không phải thứ người ta muốn mó vào.

Chưa gì tuổi thơ tôi có vẻ đã lùi xa - một thời đại xưa lăng lắc, nhạt nhòa, nửa buồn thương nửa dịu ngọt, như hoa ép khô. Tôi có tiếc thương vì đã mất, tôi có muốn nó trở về không? Tôi nghĩ là không.

Laura không ở trong nhà. Nó đi loăng quăng khắp thị trấn, như chúng tôi hay làm hồi xưa. Nó mặc váy vải vàng của tôi mùa hè trước, đội cái mũ cùng bộ. Nhìn thấy nó từ đằng sau khiến tôi có cảm giác kỳ dị, như là đang nhìn chính mình.

Winifred chẳng buồn giấu rằng chị ta đã chán đến ngấy. Chị ta ngày nào cũng đi bơi, ở bãi tắm tư nhỏ bên nhà thuyền, dù không bao giờ xuống chỗ nước sâu: nói chung chị ta chỉ bì bõm cho vui, chụp trên đầu cái nón Tàu đỏ đại tướng. Chị ta muốn tôi với Laura cùng bơi, nhưng chúng tôi lắc đầu. Cả hai chúng tôi đều không bơi thạo lắm, lại nữa chúng tôi biết người ta vẫn thường xả những gì xuống sông ngày xưa, và có lẽ giờ vẫn vậy. Khi nào không bơi hay tắm nắng, Winifred đi vơ vẩn quanh nhà ghi chú hoặc vẽ vời, vạch ra những thiếu sót - giấy dán tường phòng trước thay đi là vừa, dưới cầu thang có mục khô - hoặc không thì chợp mắt trong phòng mình. Avilion hình như rút cạn sinh khí chị ta. Cũng ấm lòng khi biết vẫn có thứ làm được việc đó.

Richard nói điện thoại suốt, cú nào cũng đường dài; hoặc không thì vào Toronto tối mới về. Quãng thời gian còn lại ông ta quanh quẩn gần chiếc Thủy Nữ Tinh, coi sóc việc sửa chữa. Mục tiêu của ông ta là bắt nó xuống nước, ông ta nói, trước khi chúng tôi phải đi.

Sáng nào ông ta cũng có báo đưa đến nhà. “Nội chiến ở Tây Ban Nha,” một hôm trong bữa trưa ông ta nói. “Dào, trông mãi cuối cùng cũng đến.”

“Cái đó thật không hay,” Winifred nói.

“Với chúng ta thì vô tư,” Richard nói. “Miễn là ta không bị lôi vào cuộc. Cứ để bọn Cộng với bọn Quốc xã giết sạch nhau đi - chúng nó sớm muộn cũng nhảy vào loạn đả.”

Laura bỏ ăn trưa. Hôm đó nó ở dưới cầu tàu, một mình, chỉ mang theo cốc cà phê. Nó xuống dưới đó suốt, điều này làm tôi bứt rứt. Nó hay ngồi ở cầu tàu, khua một tay dưới nước, nhìn xuống dòng nước cứ như đánh rơi cái gì và đang tìm ở đáy sông. Nhưng nước đục quá. Chẳng nhìn thấy gì mấy. Chỉ lúc lúc lại có con cá tuế bạc óng ánh, sượt qua như ngón tay thằng móc túi.

“Dù sao,” Winifred nói, “em cũng mong là không. Đấy là một chuyện rất xấu.”

“Một cuộc chiến hợp cách thì chỉ có lợi cho chúng ta,” Richard đáp. “Có thể sẽ làm mọi thứ khởi sắc lên - chấm dứt thời kỳ Đại suy thoái. Anh biết có vài kẻ đang trông cậy vào đó. Có những người sẽ kiếm sộp nhờ vụ này.” Tôi chẳng bao giờ được biết gì về tình hình tài chính của Richard, nhưng gần đây tôi bắt đầu nghĩ - rút ra từ nhiều ám chỉ và dấu hiệu - rằng ông ta không có lắm tiền như trước kia tôi nghĩ. Hoặc là không còn. Cuộc trùng tu Avilion đã bị ngưng ngang - hoãn lại - bởi Richard không muốn bỏ thêm tiền nữa. Đấy là theo lời Reenie.

“Tại sao họ lại kiếm được?” tôi hỏi. Tôi biết rõ câu trả lời, nhưng tôi đã nhiễm thói quen hỏi những câu ngây ngô chỉ để xem Richard và Winifred nói gì. Cái tiêu chuẩn đạo đức nước đôi họ áp dụng vào hầu như mọi lĩnh vực trên đời vẫn chưa hết khiến tôi thích thú.

“Bởi đời là thế,” Winifred ngắt gọn. “Nhân thể, chiến hữu của cô mới bị bắt.”

“Chiến hữu nào?” tôi hỏi, có phần quá vội.

“Cái con mẹ Callista đó. Cái tình yêu lớn của đời cha cô đó. Cái mụ tưởng mình là nghệ sĩ đó.”

Tôi thù cái giọng của chị ta, nhưng không biết trả miếng thế nào. “Chị ấy đối xử rất tốt hồi chị em tôi còn nhỏ,” tôi nói.

“Tất nhiên mụ ta phải làm thế, chẳng phải ư?”

“Tôi thích chị ấy.”

“Rõ ràng. Mụ ta túm được tôi mấy tháng trước - định bẫy tôi mua một bức vẽ hay phù điêu dị hợm nào đấy - một bầy đàn bà xấu hoắc mặc đồ bảo hộ lao động. Chẳng ai thượng thứ ấy lên tường phòng ăn.”

“Sao lại bắt chị ấy?”

“Đội tiễu Đỏ, vây ráp một bầy cọng đàn đúm nào đấy. Mụ ta có gọi về đây - mụ ta hoảng loạn ra trò. Mụ ta muốn gặp cô. Tôi không nghĩ là nên để cô liên lụy vào đấy, nên Richard đi bao nhiêu đường đất vào thị trấn bảo lãnh mụ ta ra.”

“Cậu làm thế làm gì?” tôi hỏi. “Cậu đâu quen biết chị ấy mấy.”

“Ôi, chỉ là vì tấm lòng nhân ái thôi mà,” Winifred nói, mỉm cười ngọt lịm. “Mặc dù anh ấy luôn nói những kẻ đó vào trong tù thì còn lắm chuyện hơn ở ngoài, phải không, Richard? Chúng nó gào muốn đứt cổ trên báo chí. Công thế này lý thế kia. Có khi anh ấy đang làm ơn cho ngài thủ tướng cũng nên.”

“Còn cà phê không?” Richard hỏi.

Thế nghĩa là Winifred nên đổi đề tài, nhưng chị ta vẫn tiếp. “Hoặc có thể anh ấy nghĩ đáng làm điều đó cho gia đình cô. Tôi nghĩ có thể coi mụ ta như của thừa kế gia truyền, như một cái nồi cũ truyền từ đời này sang đời khác.”

“Tôi xuống cầu tàu với Laura đây,” tôi nói. “Hôm nay trời đẹp quá chừng.”

Richard từ đầu khi tôi nói chuyện với Winifred vẫn đọc báo, lúc này nhìn lên rất nhanh. “Không được,” ông ta nói, “ở yên đấy. Mợ chỉ khích lệ nó thêm. Để nó yên là nó sẽ vượt qua.”

“Vượt qua cái gì?” tôi hỏi.

“Bất cứ cái gì đang lấn bấn trong đầu nó,” Richard nói. Ông ta đã ngoảnh đầu nhìn con bé ở ngoài cửa sổ, và lần đầu tiên tôi nhận ra một vệt đang rụng dần sau gáy, mảng da hồng dần hiện rõ qua lớp tóc nâu. Chẳng mấy chốc ông ta sẽ có cái đầu nhà tu.

“Hè năm sau ta sẽ đi Muskoka,” Winifred nói. “Thí nghiệm đi nghỉ năm nay không thể nói là thành công nhiệt liệt được.”

Gần đến hết kỳ nghỉ tôi quyết định lên gác mái. Tôi đợi đến khi Richard bận bịu bên điện thoại còn Winifred nằm dài trên ghế võng trong dải cát nhỏ bên nhà, khăn ẩm đắp ngang mắt. Rồi tôi mở cửa lên cầu thang, đóng lại sau lưng, đi lên khẽ khàng hết mực.

Laura đã ở đó, ngồi trên một cái hòm gỗ tuyết tùng. Nó đã mở hé cửa sổ, thật may: nếu không chỗ này đã ngộp thở. Có mùi ngòn ngọt từ vải cũ và phân chuột.

Nó ngoảnh lại, từ từ. Tôi không làm nó giật mình. “Chị đấy à,” nó nói. “Trên này có dơi sống.”

“Không có gì lạ,” tôi nói. Có một túi giấy đi chợ lớn để cạnh nó. “Em có cái gì thế?”

Nó bắt đầu lôi ra - những của đầu thừa đuôi thẹo, toàn thứ linh tinh lặt vặt. Ấm trà bạc của bà nội, ba cặp chén đĩa sứ, vẽ tay, hàng Dresden. Dăm cái thìa khảm chữ đầu tên. Cái kẹp hạt dẻ hình cá sấu, hột khuy măng sét xà cừ lẻ chiếc, lược mai rùa gãy răng, bật lửa bạc hỏng, giá lọ gia vị thiếu lọ giấm.

“Em định làm gì với mấy thứ này?” tôi hỏi. “Em đâu có mang lại về Toronto được!”

“Em giấu đi. Mấy người ấy không thể phá hủy mọi thứ được.”

“Mấy người nào?”

“Richard và Winifred. Mấy người họ sẽ vứt hết những thứ này đi thôi, em nghe họ bảo rác rưởi vô giá trị. Họ sẽ quét dọn sạch sẽ, không sớm thì muộn. Thế nên em phải cất giấu vài thứ, cho chúng mình. Em sẽ để lại trên này trong một cái rương. Như thế chúng nó được an toàn, còn mình thì vẫn biết là ở đâu.”

“Nếu họ nhận ra thì sao?” tôi hỏi.

“Họ chẳng nhận ra đâu. Chẳng có gì đáng giá lắm. Nhìn này,” nó nói, “em tìm thấy tập vở cũ của tụi mình, vẫn ở đây, đúng chỗ mình bỏ lại. Có nhớ hồi bọn mình mang lên đây không? Cho anh ấy?”

Alex Thomas không bao giờ cần một cái tên, đối với Laura: anh luôn là anh ấy. Có lúc tôi đã nghĩ nó đã từ bỏ anh, hoặc từ bỏ ý nghĩ về anh, nhưng giờ thì rõ ràng không phải thế.

“Thật khó tin mình đã làm chuyện đó,” tôi nói. “Đã giấu anh ấy trên này, mà không bị phát hiện.”

“Chúng mình đã rất cẩn thận,” Laura nói. Nó suy nghĩ một lát, rồi mỉm cười. “Chị đâu có tin em hẳn, về chuyện thầy Erskine ấy,” nó nói. “Đúng không?”

Có lẽ lúc ấy nói dối là tốt hơn cả. Nhưng tôi chỉ đáp nửa vời. “Chị không ưa lão đó. Lão ấy thật kinh tởm,” tôi nói.

“Nhưng mà Reenie tin em. Không biết bây giờ ở đâu rồi?”

“Thầy Erskine á?”

“Chị biết em nói ai mà.” Nó ngừng lời rồi lại quay ra cửa sổ.

“Chị còn giữ cái ảnh của chị không?”

“Laura, chị nghĩ em không nên tơ tưởng anh ấy quá,” tôi nói.

“Chị nghĩ anh ấy sẽ không trở lại đâu. Chuyện đó là không thể.”

“Sao lại thế? Chị nghĩ anh ấy chết rồi à?”

“Sao mà phải chết?” tôi nói. “Không phải chị nghĩ anh ấy chết rồi. Chị chỉ nghĩ là anh ấy đã đi đến nơi nào xa lắm.”

“Đằng nào thì anh ấy cũng chưa bị bắt, nếu không chúng mình đã biết tin rồi. Đã đăng đầy các báo,” Laura nói. Nó xếp lại số vở cũ rồi nhét vào cái túi giấy.

Chúng tôi nán lại Avilion lâu hơn tôi tưởng, và chắc chắn là lâu hơn tôi muốn: ở đây tôi thấy mình bị quây, bị nhốt, không di chuyển được.

Một ngày trước hôm đã định ra đi, tôi xuống nhà ăn sáng, thấy Richard không có đó; chỉ có Winifred, đang ăn trứng. “Cô lỡ mất buổi hạ thủy rồi,” chị ta nói.

“Buổi hạ thủy nào cơ?”

Chị ta khoát tay chỉ ra cửa sổ, nhìn ra một bên là sông Louveteau, bên kia sông Jogues. Tôi sửng sốt thấy Laura trên chiếc Thủy Nữ Tinh, đang trôi xuôi dòng. Nó ngồi trước mũi, như pho tượng mũi tàu. Nó quay lưng lại chúng tôi. Richard thì cầm lái. Trên đầu ông ta chụp cái mũ thủy thủ trắng xấu phát khiếp.

“Ít ra thì vẫn chưa chìm,” Winifred nói, thoáng ý châm chọc.

“Chị không muốn đi cùng à?” tôi hỏi.

“Thực tình là không.” Giọng chị ta có vẻ là lạ, mà tôi lầm thành ganh tị: chị ta vẫn luôn ưa đứng trong hàng ngũ, trong mọi kế hoạch của Richard.

Tôi nhẹ mình: có lẽ bây giờ Laura sẽ nhún hơn, có lẽ chiến tranh lạnh dài ngày đến đây là hết. Có thể nó sẽ bắt đầu cư xử với Richard như một con người chứ không phải một con gì đó dưới tảng đá bò ra. Như thế sẽ giúp chính tôi dễ thở hơn, tôi nghĩ. Không khí sẽ bớt u ám.

Thế nhưng không phải. Thay đổi duy nhất là căng thẳng tăng lên, dù bây giờ lại đổi chiều: bây giờ Richard là người rời phòng ngay khi Laura đi vào. Gần như thể ông ta sợ con bé.

“Em nói gì với Richard thế?” tôi hỏi nó một buổi tối khi đã về Toronto.

“Nghĩa là sao?”

“Cái hôm em đi thuyền với ông ta ấy, trên Thủy Nữ Tinh.”

“Em chẳng nói gì với ông ta cả,” nó nói. “Sao phải nói?”

“Chị đâu biết.”

“Em chẳng bao giờ nói gì với ông ta,” Laura nói, “bởi em chẳng có gì để nói.”

Người dịch: An Lý
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Margaret Atwood

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.